Lee Soo-man

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Lee Soo-man
Sinh 18 tháng 6, 1952 (62 tuổi)
Quốc gia Hàn Quốc
Tên khác 마삼 트리오 (馬三 Trio)
Học vị Đại học California
Đại học Quốc gia Seoul
Học vấn M.A. ngành kỹ sư máy tính
Công việc Ca sĩ, Doanh nhân, MC
Nổi tiếng vì Nhà sản xuất âm nhạc
Giải thưởng 2008 M.net Golden Disk Award for Record Producer of the Year
1997 SBS Seoul Music Award for Record Producer
2011 Seoul Cultural Arts Awards for Pop Music Producer’s Award SM Entertainment
2012 1st Gaon Chart K-Pop Awards Kpop Contribution Award


Lee Soo-man
Hangul 이수만
Hanja (Hán tự) 李秀滿
Hán-Việt Lý Tú Mãn
Romaja quốc ngữ I Su-Man
McCune-Reischauer I Suman

Lee Soo Man là người sáng lập nên công ty giải trí SM Entertainment của Hàn Quốc. Được biết đến như một ca sĩ sau đó chuyển sang lĩnh vực giải trí. Ông là người đã tạo ra nhiều ngôi sao ca nhạc, đi đầu trong việc tạo nên xu hướng Hàn Quốc trên toàn Châu Á.[1]

SM Entertainment là công ty quản lý của hàng loạt các nghệ sỹ bậc nhất Hàn Quốc kế từ nửa cuối những năm 90s đến nay như S.E.S., Shinhwa, H.O.T, BoA, Fly to the Sky và gần đây là TVXQ, Super Junior, SNSD, SHINee, f(x) và gần đây nhất là nhóm nam EXO.[2][3]

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

1952-1972: Thời niên thiếu[sửa | sửa mã nguồn]

Lee Soo Man sinh ra và lớn lên tại Seoul, Hàn Quốc. Ngay từ khi còn đi học ông luôn đạt kết quả cao và đã thi đỗ vào Đại học Quốc gia Seoul. Sau đó bắt đầu làm ca sĩ tại một quán cafe từ năm 1971.

1972-1980: Làm ca sĩ[sửa | sửa mã nguồn]

Ông ra mắt với vai trò ca sĩ vào 1972, nhưng khởi đầu không mấy thuận lợi trong việc thu hút sự chú ý của phần đông khán giả suốt 3 năm đầu khởi nghiệp.

Năm 1976, với những ca khúc đình đám như 「Happiness」, vàd 「One piece of Dream」, sự nghiệp bắt đầu khởi sắc. Năm tiếp theo, được nhận giải thưởng 「MBC TOP 10 Singer」. Bên cạnh việc ca hát, ông còn là một người dẫn chương trình truyền hình ăn khách vào thời điểm đó.

1980-1989: Du học và quay về với âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Ông thành lập nhóm nhạc「i·suman·gwa·365Il」(Lee Soo Man và 365 ngày) vào năm 1980, và là một trong những nhóm rock metal đầu tiên tại ngành công nghiệp âm nhạc Hàn Quốc. Nhưng tại thời điểm đó, chính phủ mới Chun Doo-hwan áp dụng chính sách kiểm duyệt truyền thông hết sức gắt gao. Do vậy, Lee nhận thấy không có tương lai cho ngành giải trí Hàn Quốc.

Một năm sau, 1981, ông quay lại với ước mơ trở thành một kỹ sư hàng đầu và theo học tại Đại học bang California tại Northridge. Sau đó ông tiếp tục nhận được bằng thạc sĩ về lĩnh vực nghiên cứu ban đầu là chế tạo robot. Tuy nhiên ông đã chứng kiến cuộc cách mạng trong ngành giải trí Mỹ vào lúc đó là các thế hệ ca sĩ bùng nổ trên MTV như (Michael Jackson với album Thriller là một ví dụ), và ông nhận thấy đó là một tiềm năng kinh doanh khổng lồ ở ngành công nghiệp tương lai và quyết định sẽ "sao chép lại làng giải trí Mỹ tại Hàn Quốc."

Ngay lập tức sau khi trở thành thạc sĩ vào năm 1985, ông trở về Hàn Quốc để hiện thực hóa tham vọng trong nền công nghiệp giải trí. Sự trở lại này đã đạt thành công trong nhiều lĩnh vực, như ca hát, dẫn chương trình TV và cả các kênh sóng phát thanh. Ngoài ra, ông còn làm DJ bán thời gian và làm quản lí tại một nhà hàng.

1989-nay: Nhà sản xuất âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1989, thành lập với số vốn ban đầu 200 triệu won đến nay SM Entertainment đã trở thành thương hiệu giải trí thành công nhất Hàn Quốc, góp phần to lớn trong việc quảng bá hình ảnh quốc gia ra nước ngoài, trong quá trình đó công lao của Lee Soo Man phải kể đến đầu tiên.

Danh sách đĩa hát[sửa | sửa mã nguồn]

  • Lee Soo Man, 1977
  • Lee Soo Man, 1978
  • 애창곡집, 1978
  • Greatest, 1980
  • Lee Soo Man, 1983
  • Lee Soo Man, 1985
  • 끝이 없는 순간, 1986
  • NEW AGE 2, January 1989
  • NEW AGE, November 1989

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ The Existence of Vision Determines Fate The Dong-a Ilbo August 11, 2004
  2. ^ Chung, Ah-young (22 tháng 5 năm 2009). “Local Pop Culture Facing New Challenges”. The Korea Times. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2010. 
  3. ^ Han, Sang-hee (23 tháng 2 năm 2010). “Lee Soo-man Says Asia Becoming Culture Center”. The Korea Times. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2010. 

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]