Liên Minh Huyền Thoại

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Liên Minh Huyền Thoại
Nhà phát triển Riot Games
Nhà phát hành
Đạo diễn Tom "Zileas" Cadwell
Nhà sản xuất Steven Snow
Travis George
Thiết kế Christina Norman
Rob Garrett
Steve Feak
Họa sĩ Edmundo Sanchez
Troy Adam
Soạn nhạc Christian Linke
Nền tảng Microsoft Windows, OS X
Ngày phát hành
  • WW October 27, 2009
Thể loại đấu trường trận chiến trực tuyến nhiều người chơi
Phương tiện truyền tải Phân phối kỹ thuật số
Vị tướng Teemo trong Liên Minh Huyền Thoại có khả năng bắn phi tiêu độc và đặt nấm tại triển lãm ở Đài Loan 2013

Liên Minh Huyền Thoại (viết tắt: LMHT, tiếng Anh: League of Legends, viết tắt tiếng Anh: LoL) là một trò chơi video đấu trường trận chiến trực tuyến nhiều người chơi được Riot Games phát triển và phát hành cho hệ điều hành Microsoft Windows[1]Mac OS X, lấy cảm hứng từ mod Defense of the Ancients[2] cho trò chơi video Warcraft III: Frozen Throne. Nó là một trò chơi được chơi miễn phí và được hỗ trợ bởi các vi giao dịch (micro-transaction). Trò chơi được thông báo đầu tiên vào ngày 7 tháng 10 năm 2008 và phát hành vào ngày 27 tháng 10 năm 2009.[3] Kể từ khi phát hành, Liên Minh Huyền Thoại được đón nhận rất tích cực, và trở nên phổ biến trong những năm sau đó. Theo một bài báo của Forbes năm 2012, Liên Minh Huyền Thoại là trò chơi máy tính được chơi nhiều nhất ở Bắc MỹChâu Âu về số giờ chơi.[4] Đến tháng 1 năm 2014, có 67 triệu người chơi Liên Minh Huyền Thoại mỗi tháng, 27 triệu người mỗi ngày, và hơn 7,5 triệu người cùng lúc trong những thời điểm cao nhất.[5]Ngày 8 tháng 8 năm 2012, Liên Minh Huyền Thoại chính thức ra mắt tại Việt Nam.

Cách chơi[sửa | sửa mã nguồn]

Liên Minh Huyền Thoại là một trò chơi đấu trường chiến trận trực tuyến mà người chơi có thể điều khiển một "tướng" (champion)[6] với hình thức đối đầu 1vs1 hoặc các trận đấu với máy. Vào đầu tháng 10 năm 2014, có tổng cộng 121 vị tướng khác nhau được phân loại theo vai trò như sát thủ, đấu sĩ hay hỗ trợ và cũng mang đến nhiều phong cách chơi khác nhau. Người chơi lên cấp độ bằng cách hạ gục các tướng của phe địch được điều khiển bởi người chơi khác hoặc máy cũng như các quân lính xuất hiện thường xuyên trong trò chơi, hay tấn công trụ địch, quân lính của phe địch.

Người chơi có thể kiếm tiền từ lượng tiền nhỏ được tự động tăng lên mỗi giây do trò chơi quy định. Hơn nữa, lượng tiền nhiều hơn có thể kiếm được từ việc giết quân lính địch bằng đòn đánh cuối cùng, phá hủy trụ địch, giết quát vật rừng cũng như giết tướng địch, hỗ trợ đồng đội thực hiện những việc trên. Ngoài ra, còn nhiều trường hợp có thể kiếm tiền thêm như nội tại ẩn của tướng (nội tại của tướng Twister Fate), bảng ngọc tăng tiền, trang bị tăng (cộng) tiền, mối liên hệ giữa các tướng. Mỗi người chơi khi đủ tiền đều có thể mua trang bị để nâng cấp tướng của mình mạnh lên. Trong các bản đồ Summoners Rift, Twisted Treeline, và Howling Abyss, trò chơi kết thúc khi phá hủy được nhà chính của phe địch gọi là "Nexus". Các bản đồ khác có luật chơi và đối tượng đa dạng khác nhau, chẳng hạn quân lính ở bản đồ Crystal Scar, sẽ mất sức mạnh nếu đội địch kiểm soát ít nhất 3 trong 5 trụ quanh bản đồ. [7]

Cửa hàng trong trò chơi cho phép người chơi trao đổi các tùy chọn thêm bằng "điểm Riot" (RP) hoặc "điểm ảnh hưởng" (IP). Điểm Riot phải mua bằng tiền thật, còn điểm IP kiếm được từ mỗi trận đấu của trò chơi. Nếu bạn đánh thắng các trận đấu, hệ thống sẽ cho bạn điểm IP sẽ nhiều hơn trận thua và mức điểm tùy thuộc vào dạng bản đồ, thời lượng trò chơi và đóng góp của bạn trong các trận đấu cũng như các yếu tố khác.

Các chế độ chơi[sửa | sửa mã nguồn]

Trong chế độ chơi cổ điển, bản đồ Summoners Rift chia làm 3 làn đường với mỗi đường đều có quân lính xuất hiện và di chuyển về phía lãnh thổ của nhau. Ba đường trong chế độ chơi này gồm: đường trên (top lane), đường giữa (mid lane) và đường dưới (bottom lane). Ngoài ra, vị trí "đi rừng" sẽ không đi theo làn đường nào cả mà chỉ ăn quân lính trong rừng (bao gồm các bùa lợi như bùa xanh, bùa đỏ) trên toàn bản đồ. Đôi khi, vị trí đi rừng cũng có thể coi là một làn đường. Tùy theo mỗi làn đường, người chơi có thể chọn ra những tướng phù hợp.

Bản đồ Twisted Treeline có 2 đường: đường trên và đường dưới. Đường rừng ở giữa bản đồ đó. Ở đó có 2 cánh cổng Tây và Đông để tăng điển kinh nghiệm, tăng tốc độ đánh, tăng vàng, thêm 10% sát thương và phép thuật. Đồng thời có chỗ hồi máu, năng lượng ở trung tâm bản đồ

Trong chế độ chơi ARAM, bản đồ Vực Gió Hú (Howling Abyss) chỉ có 1 đường duy nhất cho giao tranh tổng. Ở bệ cổ đá sẽ không hồi máu, năng lượng. Thay vì hồi máu và năng lượng, sẽ có 4 chỗ hồi năng lượng và hồi máu. Trong phần chọn tướng sẽ chọn ngẫu nhiên. Nếu người chơi đó không thích tướng đã chọn ngẫu nhiên, sẽ có đồ xí ngầu (tối đa là 2 lần) để thay đổi tướng của mình. Ở đầu trận đấu, các tướng của mình sẽ xuất pháp từ cấp 3. Đồng thời, các người chơi ko thể biến về và mua đồ ( chỉ có thể mua khi tướng của mình đã chết) . Bản đồ này chứa đầy bí ẩn.

Trong chế độ chơi cướp cờ, bản đồ Crystal Scar là đường theo vòng tròn, tại bể đá cổ chia làm 2 đường. Các tướng đều xuất phát từ cấp 3. Để thắng đội đối phương, người chơi phải cướp nhiều cứ điểm hơn đối phương (tổng cộng là 5 cứ điểm). Trong đó, có điểm tăng tốc, hồi máu năng lượng và điểm chiếm sét.

Các chế độ chơi khác còn có HEXA KILL, Một cho tất cả, Một cho tất cả : Sao chép, Ultra Rapid Fire, Thăng Hoa, Máy siêu khủng khiếp và còn nhiều chế độ chơi khác.

Danh sách tướng[sửa | sửa mã nguồn]

Các tướng trong Liên Minh Huyền Thoại : Aatrox, Ahri, Amumu, Akali, Alistar, Anivia, Ashe, Annie, Blitcrack, Brand, Azir, Braum, Caitlyn, Cassiopeia, Cho'gath, Corki, Darius, Diana, Dr. Mundo, Draven, Elise, Evelynn, Ezreal, Fiddlesticks, Fiora, Fizz, Galio, Gangplank, Garen, Gnar, Gragas, Graves, Hecarim, Heimerdinger, Irelia, Janna, Jarvan IV, Jax, Jayce, Jinx, Karma, Karthus, Kassandin, Katarina, Kayle, Kennen, Kha'zix, Kog'maw, LeBlanc, Lee Sin, Leona, Lissandra, Lucian, Lulu, Lux, Malphite, Malzahar, Maokai, Master Yi, Miss Fortune, Mordekaier, Morgana, Nami, Nasus, Nautilus, Wukong, Nidalee, Noctune, Nunu, Olaf, Pantheon, Poppy, Quinn, Rammus, Renekton, Rengar, Riven, Rumble, Ryze, Sejuani, Shaco, Shen, Shyvana, Singed, Sion, Sivir, Skarner, Sona, Soraka, Swain, Syndra, Talon, Taric, Teemo, Tristana, Thersh, Trundle, Tryndamere, Twister Fate, Twich, Udyr, Urgot, Varus, Vayne, Veigar, Vel'koz, Vi, Viktor, Vladimir, Volibear, Warwick, Xerath, Xin Zhao, Yorick, Ziggs, Zilean, Zyra, Zac, Zed, Yasuo.

Các tướng bị quên lãng : Avasha, Rob Blackblade, Averdrian, Gavid, Iron Engineer, Priscilla, Tiki, Eagle Rider, Omen, Tabu, Well, Urf.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “League of Legends Home”. 
  2. ^ Nguyen, Thierry (1 tháng 9 năm 2009). “Clash of The DOTAs”. 1UP.com. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2009. 
  3. ^ “League of Legends - GameSpot.com”. GameSpot. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2013. 
  4. ^ Gaudiosi, John (11 tháng 7 năm 2012). “Riot Games' League Of Legends Officially Becomes Most Played PC Game In The World”. Forbes. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2013. 
  5. ^ Sheer, Ian (27 tháng 1 năm 2014). “Player Tally for ‘League of Legends’ Surges”. Wsj.com. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2014. 
  6. ^ “Champions: League of Legends”. Riot Games. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2014. 
  7. ^ “The Crystal Scar: League of Legends”. Riot Games. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2014. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]