Liêu Thái Tông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Liêu Thái Tông
Hoàng đế Trung Hoa (chi tiết...)
Hoàng đế nhà Liêu
Trị vì 1/11/926[1]-22/4/947[2]
Tiền nhiệm Liêu Thái Tổ
Kế nhiệm Liêu Thế Tông
Thông tin chung
Thê thiếp Tĩnh An hoàng hậu Tiêu Ôn[3]
Hậu duệ Liêu Mục Tông Da Luật Cảnh
Tên thật Da Luật Đức Quang
Tước hiệu Hoàng đế
Niên hiệu Thiên Hiển: 926-937
Hội Đồng: 938-30/1/947
Đại Đồng: 1/2/947[4]-15/9/947[5]
Thụy hiệu Đầy đủ: Hiếu Vũ Huệ Văn hoàng đế
Miếu hiệu Thái Tông
Triều đại nhà Liêu
Thân phụ Liêu Thái Tổ Da Luật A Bảo Cơ
Thân mẫu Thuần Khâm hoàng hậu Thuật Luật Nguyệt Lý Đóa[3]
Sinh 902
Mất 22/4/947
Trung Quốc
An táng Hoài lăng[6]

Liêu Thái Tông, tên húy là Da Luật Đức Quang, tên Khiết Đan là Da Luật Nghiêu Cốt (耶律尧骨) thụy hiệu là Hiếu Vũ Huệ Văn hoàng đế, là vị vua thứ 2 của nhà Liêu. Trong đời có 3 niên hiệu: Thiên Hiển (927 - 938), Hội Đồng (939 - 946), Đại Đồng (947).

Ông là con trai thứ 2 của Liêu Thái Tổ. Đáng lý ra ngôi vị Thái tử ở trong tay Da Luật Bội, nhưng vì Ứng Thiên hoàng thái hậu Thuật Luật Nguyệt Lý Đóa (hay Thuật Luật Bình) - mẹ đẻ của Bội và Đức Quang, cảm thấy người con Đức Quang này tốt hơn, thông minh, tài trí, có lòng cao thượng, được lòng quân sĩ. Vì vậy, bà tìm cách để đưa Đức Quang lên ngôi, nhằm tạo ra tương lai tốt đẹp cho đế quốc Khiết Đan - Liêu mai sau.

Sau khi lên ngôi năm 926, Liêu Thái Tông ban cho Da Luật Bội làm Đông Đan vương - là vùng đất chiếm được từ nước Bột Hải. Bội vờ giao hảo tốt với nhà Hậu Đường, được vua Đường Minh Tông đối tốt. Bội ra sức tìm hiểu, biết được tình hình suy yếu của chính quyền Hậu Đường, thường nhắn báo tình hình cho Thái Tông biết.

Về sau, người con rể của nhà Hậu Đường là Thạch Kính Đường nổi dậy làm chính biến, lật đổ triều đại này, lên ngôi Hoàng đế, lập ra nhà Hậu Tấn, tức là Hậu Tấn Cao Tổ. Việc lên ngôi của Thạch Kính Đường được thuận lợi vì được Liêu Thái Tông giúp, nên khi lên ngôi, Thạch Kính Đường đã cắt 16 châu Yên - Vân (Hà Bắc, Sơn Tây) dâng cho nhà Liêu, còn cung kính gọi vua Liêu là "cha".

Sau đó, năm 945, Liêu Thái Tông bắt đầu cuộc chinh phạt khác vào đất Trung Quốc sau khi đã giúp Hậu Tấn. Vì cam kết hòa bình với Tấn, nên vua chưa làm gì họ. Nhưng nhà Liêu cũng gây nhiều sự ép, làm nguyên nhân chính khiến triều đại Hậu Tấn sụp đổ.

Ngày 1 tháng 2 âm lịch (tức ngày 1 tháng 3 dương lịch) ông đổi niên hiệu thành Đại Đồng, quốc hiệu thành Đại Liêu[6]. Ông mất ngày 22 tháng 4 âm lịch năm 947 (tức ngày 20 tháng 5 dương lịch) tại Loan Thành, hưởng dương 46 tuổi. Cháu ông là Da Luật Nguyễn (con trai của Da Luật Bội) lên ngôi trước linh cữu và hộ tống thi hài ông về Thượng Kinh[7].

Vợ con[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Âm lịch, tức ngày 13 tháng 12 năm 926 theo lịch Gregory đón trước.
  2. ^ Âm lịch, tức ngày 20 tháng 5 năm 947 theo lịch Gregory đón trước.
  3. ^ a ă Liêu sử: quyển 71 - Liệt truyện 1: Hậu phi
  4. ^ Tức ngày 1 tháng 3 năm 947
  5. ^ Tức ngày 5 tháng 11 năm 947
  6. ^ a ă Liêu sử: quyển 4 - Bản kỷ 4: Thái Tông hạ
  7. ^ Liêu sử: quyển 5 - Bản kỷ 5: Thế Tông