Like a Virgin (bài hát)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
"Like a Virgin"
Đĩa đơn của Madonna
từ album Like a Virgin
Mặt B "Stay"
Phát hành 6 tháng 10, 1984 (Mỹ)
5 tháng 11, 1984 (Đức)
11 tháng 11, 1984 (Nhật)
Định dạng 7", 12", CD
Thu âm 1984
Thể loại Pop
Thời lượng 3:38 (phiên bản album)
3:11 (trong The Immaculate Collection)
Hãng đĩa Sire, Warner Bros.
Sáng tác Billy Steinberg, Tom Kelly
Sản xuất Nile Rodgers
Chứng nhận Vàng
Thứ tự đĩa đơn của Madonna
"Lucky Star"
(1984)
"Like a Virgin"
(1984)
"Material Girl"
(1985)
Thứ tự bài hát của Like a Virgin
"Angel"
(2)
"'Like a Virgin'
(3)
"Over and Over"
(4)
Thứ tự bài hát của The Immaculate Collection
"Borderline"
(3)
"Like a Virgin"
(4)
"Material Girl"
(5)
Nhạc mẫu
trợ giúpthông tin

"Like a Virgin" là một bài hát của ca sĩ nhạc pop người Mỹ Madonna nằm trong album phòng thu thứ hai cùng tên, được phát hành vào ngày 06 tháng 11 năm 1984 bởi hãng Sire Records, là đĩa đơn đầu tiên trích từ album. Bài hát cũng xuất hiện trên các album tổng hợp hit lớn nhất của cô như The Immaculate Collection (1990) và Celebration (2009). "Like a Virgin" được viết bởi Billy Steinberg và Tom Kelly và sản xuất bởi Nile Rodgers; Steinberg nói rằng bài hát được lấy cảm hứng từ kinh nghiệm tình yêu của bản thân ông. Nó đã được lựa chọn cho Madonna bởi Michael Ostin của hãng Warner Bros sau khi nghe một bản demo hát bởi Kelly. Tuy nhiên, Rodgers ban đầu cảm thấy rằng bài hát không có đủ độ nghiện và không thích hợp cho Madonna, nhưng sau đó thay đổi ý kiến của mình sau khi những giai điệu đó đã bị mắc kẹt trong tâm trí của mình.

Về mặt âm nhạc, "Like a Virgin" là một ca khúc có tiết tấu dance theo định hướng, bao gồm hai đoạn lặp lại (hook). Ca từ của bài hát là không rõ ràng và bao gồm nhiều ám chỉ ẩn ý. Về tình dục, lời bài hát có thể được hiểu theo nhiều cách khác nhau cho những người khác nhau. "Like a Virgin" nhận được đánh giá tích cực từ các nhà phê bình cũ cũng như đương đại, người thường xuyên gọi nó là một trong những bài hát đỉnh cho Madonna. Nó đã trở thành đơn quán quân đầu tiên của cô trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100, trong khi đạt đỉnh trên bảng xếp hạng ở Úc, Canada, Nhật Bản và nằm trong top ten ở các nước khác.

Video của bài hát miêu tả Madonna đang trên một con thuyền đáy bằng và hát trên đường sông ở Venice, cũng như chuyển vùng xung quanh một cung điện trong đó cô mặc một chiếc váy cưới màu trắng. Với video, các học giả ghi nhận vai diễn của Madonna là một người phụ nữ độc lập về tình dục, biểu tượng của sự xuất hiện của một người đàn ông với mặt nạ sư tử như của Saint Mark, và so sánh sự khêu gợi của video với sức sống của thành phố Venice. Madonna đã biểu diễn ca khúc trong sáu tour diễn của cô, gần đây nhất là các MDNA Tour trong năm 2012. Phần lớn thời gian, các buổi biểu diễn ca khúc "Like a Virgin" có liên quan đến sự phản ứng mạnh mẽ và ồn ào của giới truyền thông. Đặc biệt, màn trình diễn của Madonna tại lễ trao giải MTV Video Music Awards lần đầu tiên năm 1984 trở thành biểu tượng của nghệ thuật trình diễn trong lịch sử âm nhạc. Cô trình diễn ca khúc "Like a Virgin" trong trang phục áo cưới và một chiếc thắt lưng mang hiệu "Boy Toy". Trong lúc biểu diễn, cô ấy lăn một vòng trên sàn diễn, để lộ ra những bít tất dài, và làm một số động tác mang tính khiêu gợi.[1]

"Like a Virgin" đã được cover lại bởi một số nghệ sĩ và đã xuất hiện trong bộ phim như Reservoir Dogs, Moulin Rouge! và Bridget Jones: The Edge of Reason. Bài hát đã được ghi nhận với tầm ảnh hưởng sâu sắc của nó đối với xã hội. Nhóm gia đình đã tìm cách cấm bán vì họ tin rằng bài hát thúc đẩy quan hệ tình dục mà không có hôn nhân. Mặt khác, tính cách của một người không hổ thẹn tình dục, người phụ nữ bất khuất vô cùng tự tin của Madonna đã được chấp nhận rộng rãi bởi các thế hệ trẻ, những người mô phỏng phong cách và thời trang của cô. Các học giả đã ghi nhận "Like a Virgin" là bài hát giúp củng cố vị thế của Madonna như là một biểu tượng văn hóa pop. Năm 2000, "Like a Virgin", được vinh danh bởi tạp chí Rolling StoneMTV, đứng thứ 4 trong danh sách "100 bài hát pop vĩ đại nhất" của họ.[2] Nó được bình chọn đứng thứ 10 trong top 100 bài hát hay nhất của trong 25 năm qua của VH1.[3] Bài hát được liệt kê ở vị trí 95 trên bảng xếp hạng những ca khúc hay nhất mọi thời đại trên Billboard Hot 100.[4] Năm 2003, người hâm mộ Madonna đã được yêu cầu bỏ phiếu "Top 20 đĩa đơn hay nhất trong sự nghiệp của Madonna" bởi tạp chí Q. "Like a Virgin" đã nằm ở vị trí thứ năm trong danh sách.[5]

Danh sách track và định dạng[sửa | sửa mã nguồn]

  • US 7" single[6]
  1. "Like a Virgin" (album version) – 3:38
  2. "Stay" (album version) – 4:04
  • US/CAN 12" maxi single[7][8]
  1. "Like a Virgin" (extended dance remix) – 6:04
  2. "Stay" (album version) – 4:04
  • Japanese 12" vinyl promo single[9]
  1. "Like a Virgin" (extended dance remix) – 6:07
  2. "Supernatural Love" (by Donna Summer) – 6:11
  • Germany / UK CD Maxi Single (1995)
  1. "Like a Virgin" (extended dance remix) – 6:04
  2. "Stay" – 4:04

Xếp hạng và chứng nhận[sửa | sửa mã nguồn]

Xếp hạng[sửa | sửa mã nguồn]

Bảng xếp hạng (1984/1985) Vị trí
cao nhất
Australia ARIA Singles Chart[10] 1
Ö3 Austria Top 40[10] 8
Canadian Singles Chart 1
Dutch Top 40[10] 4
Eurochart Hot 100 Singles[11] 2
Finnish Singles Chart[12] 5
French SNEP Singles Chart[10] 8
German Singles Chart[13] 4
Irish Singles Chart[14] 4
Israeli Singles Chart[15] 1
Italian FIMI Singles Chart[16] 14
Japanese Oricon Weekly Singles Chart[17] 19
Japanese Oricon International Singles Chart[17] 1
Norwegian VG-lista Singles Chart[10] 8
South African Singles Chart[18] 2
Swiss Record Charts[10] 9
Swedish Singles Chart[10] 15
UK Singles Chart[19] 3
U.S. Billboard Hot 100 [20] 1
U.S. Billboard Hot Adult Contemporary Tracks [20] 29
U.S. Billboard Hot Black Singles[20] 9
U.S. Billboard Hot Dance Club Play[20] 1
U.S. ARC Weekly Top 40[21] 1

Xếp hạng cuối năm[sửa | sửa mã nguồn]

Bảng xếp hạng (1985) Vị trí
Canadian RPM Singles Chart 35
Dutch Top 40[22] 82
Italian Singles Chart[23] 70
US Billboard Hot 100[24] 2

Bảng xếp hạng mọi thời đại[sửa | sửa mã nguồn]

Bảng xếp hạng Vị trí
US Billboard Hot 100[25] 95

Chứng nhận[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc gia Chứng nhận Doanh số
Vương quốc Anh[26] Vàng 780,000[27]
Mỹ[28] Vàng 1,900,000[29]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ http://www.instyle.com/instyle/parties/party/0,,20053852_20083005,00.html
  2. ^ “Rolling Stone & MTV: '100 Greatest Pop Songs': 1-50”. Rolling Stone (Jann Wenner) 989 (23): 78. 7 tháng 1 năm 2001. ISSN 0035-791X. 
  3. ^ Reporter, Associated Press (12 tháng 6 năm 2003). “VH1's '100 Greatest Songs of the Past 25 Years'”. The Sydney Morning Herald (Fairfax Media). Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2010. 
  4. ^ “Billboard Celebrates the 50th Anniversary of the Hot 100 with All-Time Charts”. Reuters. 11 tháng 4 năm 2008. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2010. 
  5. ^ Reporter, Staff (9 tháng 12 năm 2003). “Top 20 Madonna Singles of All-time”. Q magazine (San Francisco: Bauer Media Group) 19 (23). ISSN 0955-4955. 
  6. ^ (1984) Ghi chú phát hành for "Like a Virgin" do Madonna (7-inch Single liner notes). Sire Records (W 9210).
  7. ^ (1984) Ghi chú phát hành for "Like a Virgin" do Madonna (United States 12-inch Maxi Single liner notes). Sire Records (20239-0).
  8. ^ (1984) Ghi chú phát hành for "Like a Virgin" do Madonna (Canadian 12-inch Maxi Single liner notes). Sire Records (92 02390Q).
  9. ^ (1984) Ghi chú phát hành for "Like a Virgin" do Madonna (Japanese 12-inch Promo Maxi Single liner notes). Sire Records (PS-258).
  10. ^ a ă â b c d đ “Madonna - Like a Virgin”. australian-charts.com. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2009. 
  11. ^ “Eurochart Hot 100 Singles”. Billboard (New York: Nielsen Business Media, Inc) 95 (21): 53. 23 tháng 2 năm 1985. ISSN 0006-2510. 
  12. ^ “Finnish Singles Chart”. Tháng 12 năm 1984.  Đã bỏ qua tham số không rõ |http://finnishcharts.com/forum.asp?todo= (trợ giúp);
  13. ^ “Chartverfolgung > Madonna > Like a Virgin” (bằng tiếng Đức). Media Control Charts. Musicline.de. 28 tháng 1 năm 1985. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2010. 
  14. ^ “Irish Singles Chart – Search for song”. Irish Recorded Music Association. 15 tháng 12 năm 1985. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2010. 
  15. ^ “Madonna – Like a Virgin” (bằng Italian). Federation of the Italian Music Industry. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2010. 
  16. ^ Hit Parade Italia
  17. ^ a ă “ライク・ア・ヴァージ Japanese Singles Chart” (bằng tiếng Nhật). Oricon. 11 tháng 2 năm 1985. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2010. 
  18. ^ South African Singles Chart
  19. ^ UK Singles Chart. everyhit.com
  20. ^ a ă â b “Madonna chart history”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 3 năm 2008. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2009. 
  21. ^ Rock On The Net: Madonna
  22. ^ “Jaaroverzichten 1984”. Dutch Top 40. Hung Medien (bằng tiếng Hà Lan). Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2011. 
  23. ^ “Top Annuali Single: 1985” (bằng Italian). Federation of the Italian Music Industry. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2011. 
  24. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên bbyearend
  25. ^ “Billboard Hot 100 Chart 50th Anniversary”. Billboard.com. 14 tháng 9 năm 1984. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2012. 
  26. ^ LÃNH THỔ THIẾU HOẶC KHÔNG CÓ: Vương quốc Anh.
  27. ^ “Madonna: The Official Top 40”. Official Charts Company. MTV. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2013. 
  28. ^ LÃNH THỔ THIẾU HOẶC KHÔNG CÓ: Mỹ.
  29. ^ Metz, Allan and C. Benson (2001). The Madonna Companion: Two Decades of Commentary. Music Sales Group. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2013. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền nhiệm:
"Out of Touch" bởi Daryl Hall and John Oates
Đĩa đơn quán quân tại Mỹ
22 tháng 12 năm 1984 - 28 tháng 1 năm 1985
Kế nhiệm:
"I Want to Know What Love Is" bởi Foreigner