Linh Chiếu Thái hậu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Linh Chiếu Thái hậu
Hoàng thái hậu Việt Nam
Hoàng phi nhà Lý
Tại vị  ? - 1138
Tiền nhiệm Trần Anh phu nhân
Ỷ Lan Nguyên phi
Kế nhiệm Thục phi Đỗ Thụy Châu
Thần phi Bùi Chiêu Dương
Quý phi Hoàng Ngân Hoa
Đức phi Đỗ Kim Hằng
Hiền phi Lê Mỹ Nga
Nguyên phi Từ thị
Hoàng thái hậu nhà Lý
Tại vị 1138 - 1161
Tiền nhiệm Linh Nhân thái hậu
Trần Anh thái hậu
Động Nhân thái hậu
Kế nhiệm Chiêu Linh thái hậu
Linh Đạo thái hậu
Phu quân Lý Thần Tông
Tước hiệu
Cảm Thánh phu nhân
Linh Chiếu Thái hậu
Thụy hiệu Linh Chiếu Sùng Hiếu Văn Vũ hoàng hậu
Triều đại Nhà Lý

Linh Chiếu Thái hậu (?-1161), còn được biết đến là Lê Thái hậu, nguyên là Cảm Thánh phu nhân của Lý Thần Tông, là mẹ đẻ của vua Lý Anh Tông.

Lịch sử nhà Lý thường nhắc tới bà với mối quan hệ tư tình giữa bà và Đỗ Anh Vũ, một quan phụ chính, quyền thần dưới thời con trai bà; Anh Tông hoàng đế. Sự dung túng của bà với Đỗ Anh Vũ đã khiến cung đình nhà Lý bất ổn trong 1 thời gian dài.

Mục lục

Hoàng phi nhà Lý [sửa]

Bà là con gái trưởng của Phụ Thiên đại vương, mẹ là Thụy Thánh công chúa con gái của Dự Tông chính hoàng, chị của Phụng Thánh phu nhân. Theo Phụng Thánh phu nhân Lê thị mộ chí, có thể hiểu mẹ của Phụ Thiên đại vương là Ngọc Kiều công chúa, trong bia ghi là Thụy Thánh công chúa, cha của Phụ Thiên đại vương là Quan châu mục Châu Đăng họ Lê (Phú Thọ), có trị sở ở hương Tuế Phong (này là Hương Nộn, huyện Tam Nông), là cháu nội của hoàng đế Lê Đại Hành.

Quan hệ với Đỗ Anh Vũ [sửa]

Bà được biết đến vì có quan hệ tình yêu với Đỗ Anh Vũ. Anh Vũ vốn là em của Động Nhân Thái hậu họ Đỗ, mẹ đẻ vua Lý Thần Tông, suy ra bà với Anh Vũ là quan hệ chú chồng, cháu dâu.

Tương truyền Anh Vũ có vẻ ngoài anh tuấn khác người, hát khéo múa hay. Năm Anh Vũ 16 tuổi (1129), ông được vào hầu vua ở mành trướng, chính lúc này ông đã gặp gỡ bà, và bà cũng đã phải lòng ông[1].

Bính Thìn, năm thứ 4 (1136), mùa hạ, tháng 4, bà sinh ra Hoàng tử Lý Thiên Tộ.

Can thiệp việc phế lập Thái tử [sửa]

Thần Tông khi trước đã lập Lý Thiên Lộc làm Hoàng thái tử, nhưng bà thấy Lộc là con người hầu, địa vị thấp hèn, trong khi con bà sinh chỉ sau Lộc, địa vị lại cao hơn, nên bèn tìm cách mà xin vua[2].

Khi Thần Tông bệnh, cùng hai vị phu nhân là Nhật Phong, Phụng Thánh đút lót Tham tri chính sự Từ Văn Thông, và dặn rằng: "Nếu có vâng mệnh vua thảo di chiếu thì chớ nên bỏ lời của ba phu nhân". Văn Thông nhận lời, khi thảo di chiếu cứ chần chừ không viết[2].

Ba phu nhân vào khóc lóc, nói rằng: "Bọn thiếp nghe người xưa lập con nối thì lập con đích chứ không lập con thứ; Thiên Lộc là con nàng hầu yêu, nếu cho nối ngôi thì ả mẫu thân lại sinh lòng ghen ghét tất tiếm lấn, làm hại mẹ con thần thiếp. Như thế chúng thiếp làm thế nào được?".[2]

Thần Tông cho là phải, bèn phế Thiên Lộc, lập Thiên Tộ làm Thái tử[2].

Hoàng thái hậu nhà Lý [sửa]

Giúp con giữ ngôi, dựa vào Đỗ Anh Vũ [sửa]

Theo nghiên cứu của các nhà sử học Hàn QuốcViệt Nam, khi vua Lý Thần Tông qua đời, thái tử Lý Thiên Tộ mới 3 tuổi, triều thần muốn tôn Kiến Hải vương Lý Dương Côn - một người con nuôi khác của Lý Nhân Tông, vốn là con đẻ của Thành Quảng hầu[3] - lên nối ngôi. Nhưng lúc đó Lê phu nhân, mẹ thái tử Thiên Tộ dựa vào Đỗ Anh Vũ giúp đỡ.

Anh Vũ nắm binh quyền, đã loại hết các địch thủ của thái tử Thiên Tộ, nên Thiên Tộ được đưa lên ngôi vua, sử gọi là Lý Anh Tông. Đỗ Anh Vũ muốn giết hết tông tộc của các thân vương[4]. Đó là năm 1138.

Lên ngôi Hoàng thái hậu, phong tước Đỗ Anh Vũ [sửa]

Bà được tôn làm Hoàng thái hậu, ở cung Quảng Từ. Bà lại theo lệ như Linh Nhân thái hậu trước đây, buông rèm nhiếp chính[5].

Năm đầu niên hiệu Thiệu Minh, Đỗ Anh Vũ được phong làm Phụ quốc Thái úy và được ban quốc tính [6], vì vậy có tài liệu gọi là Lý Anh Vũ.

Dung túng Đỗ Anh Vũ [sửa]

Anh Vũ có vợ là Tô thị, có họ hàng với Tô Hiến Thành[cần dẫn nguồn], ra vào cung cấm hầu hạ chị ông là Đỗ Thái hậu[7], ông nhân đó vào cung mà tư thông với Lê Thái hậu[8].

Trong triều, ông có phần dựa hơi bà mà làm càng trong cung, gây nhiều điều tiếng, trong triều nhiều người bất bình. Trí Minh vương cùng Phò mã Dương Tự Minh, Điện tiền chỉ huy sứ Vũ Đái đốc xuất quân sĩ kéo đến ngoài cửa Việt Thành, kể tội ông chuyên quyền và tư thông với Thái hậu, rồi xông vào bắt Anh Vũ giam lại ở hiên Cụ Thánh.

Thái hậu sai người đưa cơm rượu vào cho Đỗ Anh Vũ và ngầm để vàng trong cơm để ông hối lộ Vũ Đái. Viên Hỏa đầu ở đô Cụ Thánh là Nguyễn Dương khuyên phe Vũ Đái không nên nhận vàng mà nên giết luôn Đỗ Anh Vũ trừ hậu họa nhưng Vũ Đái không nghe. Dương bèn đi tự vẫn, vì e rằng sau này Anh Vũ sẽ báo thù.

Vua Anh Tông không giết Đỗ Anh Vũ nhưng xử tội đồ làm điền hoành, tức là tá điền, phải đi cày ruộng công của triều đình[9].

Thái hậu nghĩ cách giúp Anh Vũ được trở lại như cũ, nên thường mở hội to, tha tội nhân, mong Anh Vũ cũng được dự ân xá. Anh Vũ vì nhiều lần được ân xá được khỏi tội[10]. Bà nhân đó khuyên vua Anh Tông phục chức cho ông. Anh Tông bằng lòng, phục chức phụ chính cho Đỗ Anh Vũ, ông được trọng dụng trở lại. Và khi đó, Anh Vũ lại bắt đầu tính toán trả thù những người đã hại mình trước đây.

Qua đời [sửa]

Niên hiệu Đại Định, năm thứ 22 (1161), mùa thu, tháng 7, bà từ trần. Thụy là Linh Chiếu.

Trước đó, năm Đại Định thứ 19 (1158), mùa thu, tháng 8, người tình của bà là Anh Vũ đã qua đời. Đám tang do Tô Hiến Thành đích thân làm chủ lễ.

Tham khảo [sửa]

Chú thích [sửa]

  1. ^ Khâm định Việt sử thông giám cương mục, quyển 4
  2. ^ a b c d Đại Việt sử ký toàn thư
  3. ^ Cũng như Sùng Hiền hầu, Thành Quảng hầu không rõ tên thật
  4. ^ Dòng họ Lý Tinh Thiện ở Hàn Quốc trở về cố quốc
  5. ^ Các bà hoàng "gian dâm"
  6. ^ Văn bia "Cồ Việt quốc Thái úy Lý công thạch bi minh tính tự" (瞿越國太尉李公石碑銘并序 - Văn bia về Thái úy Lý công nước Cồ Việt)
  7. ^ Mẹ sinh ra Lý Thần Tông, thời Thần Tông tôn làm Thái hậu ở cung Động Nhân. Về năm mất của bà, Đại Việt sử ký toàn thư ghi là 1147, trong khi Đại Việt sử lược ghi là năm 1145. Khi mất, tôn hiệu là Chiêu Hiếu hoàng hậu.
  8. ^ Đại Việt sử ký toàn thư
  9. ^ Theo giải thích của Trương Hữu Quýnh, Đinh Xuân Lâm, Lê Mậu Hãn, sách đã dẫn, tr 134
  10. ^ Khâm định Việt sử thông giám cương mục, quyển 5