Linh dương Angas

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Nyala angasii
Nyala Male.jpg
Con đực
Tragelaphus angasii - Tiergarten Schönbrunn.jpg
Con cái
Tình trạng bảo tồn
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Lớp (class) Mammalia
Bộ (ordo) Artiodactyla
Họ (familia) Bovidae
Phân họ (subfamilia) Bovinae
Chi (genus) Nyala
Loài (species) N. angasii
Danh pháp hai phần
Nyala angasii
(Angas, 1848)[2]
Bản đồ phân bố
Bản đồ phân bố
Danh pháp đồng nghĩa[3]
  • Tragelaphus angasii

Linh dương Angas hay Nyala (danh pháp hai phần: Tragelaphus angasii) là một loài động vật có vú trong họ Bovidae, bộ Artiodactyla. Loài này được Angas mô tả năm 1848.[2] Đây là loài bản địa nam châu Phi. Loài này được mô tả khoa học lần đầu vào năm 1849 bởi George French Angas. Thân dài 135–195 cm (53–77 in), và cân nặng 55–140 kg (120–310 lb). Bộ lông màu rỉ sắt hoặc nâu đỏ ở con cái và con chưa trưởng thành, nhưng có màut màu nâu sẫm hoặc màu xám đá phiến, thường nhuốm màu xanh biển ở con đực. Con cái và con đực trẻ có 10 hoặc nhiều sọc trắng trên hai bên. Chỉ con đực mới có sừng, sừng dài 60–83 cm và có mũi sừng màu vàng. Nyala chủ yếu là hoạt động vào buổi sáng sớm và cuối buổi chiều. Nó thường gặm lá cây ban ngày nếu nhiệt độ 20-30 độc C và trong đêm trong mùa mưa. Là động vật ăn cỏ, nyala ăn tán lá, trái cây và các loại cỏ, với nước sạch đầy đủ. Là một loài đột động vật nhút nhát, nó thích các hố nước chứ không phải là không gian mở. Loài nyala không có dấu hiệu chiếm lĩnh lãnh thổ riêng, và các khu vực lãnh thổ của các cá nhân có thể chồng lên nhau. Chúng là những sinh vật rất thận trọng. Các con đực già sống một mình, nhưng cũng có các nhóm cùng giới tính hoặc các gia đình hỗn hợp lên đến 10 cá thể. Những nơi sinh sống của chúng bao gồm các bụi cây trong rừng hoang mạc dày đặc và khô. Những kẻ săn mồi chính săn bắt nyala là sư tử, báo và chó săn Cape, trong khi con khỉ đầu chó và các loài chim ăn thịt săn bắt các con nyala non. Thời gian giao phối vào thời kỳ đỉnh điểm trong suốt mùa xuân và mùa thu. Con đực và con cái trưởng thành tính dục lần lượt ở 18 và 11-12 tháng. Linh dương mẹ sinh con sau một thời gian thai bảy tháng. Phạm vi phân bố loài này gồm có Malawi, Mozambique, Nam Phi, SwazilandZimbabwe. Loài này đã được nhập nội vào BotswanaNamibia, và được du nhập lại vào Swaziland, nơi nó tuyệt chủng từ những năm 1950. Số lượng loài này ổn định và nó đã được liệt vào nhóm loài ít quan tâm bởi Liên minh Quốc tế về Bảo tồn Thiên nhiên (IUCN). Các mối đe dọa chính đối với loài này là nạn săn bắn và mất nơi sống do khu định cư của con người.

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ IUCN SSC Antelope Specialist Group (2008). Tragelaphus angasii. 2008 IUCN Red List of Threatened Species. IUCN 2008. Truy cập ngày 29 March 2009. Database entry includes a brief justification of why this species is of least concern.
  2. ^ a ă Wilson, Don E.; Reeder, DeeAnn M. biên tập (2005). Tragelaphus angasii. Mammal Species of the World . Baltimore: Nhà in Đại học Johns Hopkins, 2 tập (2.142 trang). ISBN 978-0-8018-8221-0. OCLC 62265494. 
  3. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên huffman

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Phương tiện liên quan tới Tragelaphus angasii tại Wikimedia Commons