Linh dương Saiga
| Linh dương Saiga | |
|---|---|
Một con linh dương đực ( Saiga tatarica ) |
|
| Tình trạng bảo tồn | |
| Phân loại khoa học | |
| Giới (regnum) | Animalia |
| Ngành (phylum) | Chordata |
| Lớp (class) | Mammalia |
| Bộ (ordo) | Artiodactyla |
| Họ (familia) | Bovidae |
| Phân họ (subfamilia) | Antilopinae |
| Chi (genus) | Saiga (Linnaeus, 1766) |
| Loài (species) | S. tatarica |
| Danh pháp hai phần | |
| Saiga tatarica | |
Phạm vi tái tạo (màu trắng) và phân bố hiện tại của hai phân loài tatarica tatarica (màu xanh) và S. t. mongolica (màu đỏ)
|
|
Linh dương Saiga (Saiga tatarica ) là một loài linh dương cực kỳ nguy cấp, từng hiện diện ở khắp các vùng thảo nguyên rộng lớn ở Á-Âu từ dãy Carpath và Caucasus tới Dzungaria và Mông Cổ. Chúng cũng từng có thời gian sống ở Bắc Mỹ trong kỷ Pleistocene. Hiện nay, phân loài đề cập (Saiga tatarica) được tìm thấy ở thảo nguyên phía tây bắc Precaspian (thuộc Nga) cùng với ba khu vực khác bao gồm Ural, Ustiurt và Betpak (thuộc nước cộng hòa Kazakhstan). Một số ít linh dương Saiga ở Ustiurt di chuyển về phía Nam Uzbekistan và thỉnh thoảng thấy chúng ở Turkmenistan vào mùa đông còn phân loài linh dương Saiga Mông Cổ (Saiga tatarica mongolica) chỉ được tìm thấy ở miền Tây Mông Cổ[2].
Mục lục |
Phân bố và môi trường sống [sửa]
Linh dương Saiga sống thành từng đàn trên các thảo nguyên. Trong kỷ băng hà, chúng có mặt tận các khu vực của đảo Anh, kéo dài qua Trung Á, thông qua eo biển Bering tới Alaska và Yukon. Chúng được coi là loài đặc trưng của vùng Scythia. Đầu thế kỷ 18, phạm vi sinh sống của chúng bị thu hẹp lại nhanh chóng, từ khu vực Biển Đen , chân núi Carpath và phía bắc của Caucasus kéo dài qua Dzungaria và Mông Cổ.
Số lượng của chúng giảm nhanh chóng trong những năm 1920 và sau đó dần hồi phục vào năm 1950 với khoảng 2.000.000 cá thể tìm thấy tại các vùng thảo nguyên rộng lớn của Liên Xô. Sau khi Liên Xô tan rã, do tình trạng săn bắn bừa bãi và nhu cầu sừng linh dương trong y học của Trung Quốc. Một số tổ chức bảo tồn như Quỹ Động vật hoang dã Thế giới (WWF) đã khuyến khích việc săn loài này như là việc thay thế sừng của chúng trong các bài thuốc thay cho sừng tê giác[3][4]
Linh dương Saiga giảm đi 95% trong 15 năm[5] khiến chúng là loài cực kỳ nguy cấp được ghi trong sách đỏ của IUCN. Hiện nay chỉ còn khoảng 50.000 con tồn tại ở Kalmykia, ba khu vực tại Kazakhstan, hai tại Mông Cổ và một số ít ở phía bắc Caspian[6].
Khu bảo tồn thiên nhiên Cherny Zemli thuộc nước cộng hòa Kalmykia của Nga được thành lập vào năm 1990 nhằm bảo vệ số lượng loài linh dương Saiga tại địa phương. Chủ tịch nước Cộng hòa Kalmykia là Kirsan Ilyumzhinov tuyên bố năm 2010 là năm của linh dương Saiga. Tại Kazakhstan, số lượng Saiga gần đây đã được tìm thấy ngày càng tăng, từ khoảng 21.000 con đã lên 81.000 trong tháng 1 năm 2010.
Tháng 5 năm 2010, 12.000 con linh dương Saiga trong tổng số 26.000 con tại khu vực Ural ở Kazakhstan. Nguyên nhân được cho là do bệnh tụ huyết trùng gây ra[7]. Tháng 11 năm 2010, Kazakhstan ra lệnh cấm săn bắn loài linh dương Saiga, và lệnh cấm này có hiệu lực cho đến năm 2021. Một số quốc gia Trung Á khác cũng tìm cách để cứu loài này khỏi bờ vực tuyệt chủng[8].
Riêng phân loài linh dương Saiga Mông Cổ chỉ được tìm thấy trong một khu vực nhỏ ở phía Tây Mông Cổ, xung quanh Khu bảo tồn thiên nhiên Sharga và Mankhan[9].
Một số sở thú xuất hiện loài linh dương Saiga như ở Moscow và Askania-Nova[10] và một số công viên đang có kế hoạch giới thiệu loài này cho khách tham quan.
Đặc điểm [sửa]
Linh dương Saiga di cư theo mùa, chúng tới những khu đồng cỏ ở phía Bắc vào mùa xuân, tới những khu chăn thả gia súc vào mùa hè và trở về phương nam để tránh đông và mùa thu.
Chúng có chiều cao 108 – 146 cm (3,6 - 4,8 ft) trong đó chiều cao tới vai của chúng là từ 60 – 80 cm và nặng từ 36 – 63 kg (79 - 140 lb). Đuôi của linh dương Saiga khá ngắn, chỉ khoảng 6 – 13 cm. Những con đực có sừng lớn từ 20–25 cm (8-10 inches) và thường lớn hơn so với những con cái. Tuổi thọ của loài linh dương Saiga khoảng từ 6 đến 10 năm. Chúng có đặc điểm dễ nhận biết đó là cấu trúc mũi linh hoạt, giống như vòi của loài heo vòi. Chiếc vòi của chúng có cấu tạo độc đáo, rất nhiều lông, tuyến nhầy và hệ thống xương phức tạp. Mũi của chúng có chức năng lọc bụi trong không khí trong quá trình chúng di chuyển, làm ấm không khí trước khi nó vào trong phổi vào mùa đông.
Vào mùa hè, linh dương Saiga có lớp lông mỏng màu quế còn mùa đông lông của chúng có màu trắng và dày lên gần gấp đôi (70% so với bộ lông của chúng trong mùa hè). Chân của linh dương Saiga khá khẳng khiu và chúng có khả năng bơi qua các con sông.
Linh dương Saiga là loài hoạt động vào ban ngày, có phạm vi sống không cố định, thường xuyên di chuyển tới 80–120 km (48-72 dặm) một ngày. Chúng có thính giác kém phát triển nhưng thị giác có thể nhìn trước nguy hiểm xa tới 0,6 dặm nhưng chúng là một loài nhút nhát và rất dễ giật mình, ngay cả khi đứng thành đàn đông đúc.
Thức ăn [sửa]
Thức ăn chính của linh dương Saiga là các loài cỏ trên thảo nguyên, trong đó có nhiều các loài cỏ có độc tố mà các loài động vật ăn cỏ khác không ăn được, nhưng với linh dương Saiga thì chúng vô hại.
Sinh sản [sửa]
Mùa sinh sản bắt đầu vào tháng 10 khi con đực tranh giành con cái. Những con đực có một cuộc chiến khốc liệt và kết quả là 97% con đực sẽ chết. Con đực nào chiến thắng có thể giành quyền giao phối từ 5 - 50 linh dương cái. Khi mùa xuân đến, đàn linh dương sẽ di chuyển về phía Bắc, và các con non sẽ được đẻ sau khoảng 140 ngày mẹ chúng mang thai. Hầu hết mỗi linh dương cái chỉ đẻ duy nhất một con mỗi lần.
Bảo tồn [sửa]
Liên minh bảo tồn linh dương Saiga (viết tắt là SCA) bắt đầu thành lập và đi vào hoạt động vào những năm 1990 như là một mạng lưới không chính thức của các nhà nghiên cứu và tổ chức bảo vệ môi trường để nghiên cứu và bảo vệ linh dương Saiga đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng. SCA đã chính thức được thành lập vào tháng 9 năm 2006, và trong tháng 11 năm 2006 đã trở thành đối tác với Mạng lưới bảo tồn động thực vật hoang dã (WCN).[11] SCA cũng xuất bản ấn phẩm hai lần mỗi năm đề cập tới tình trạng bảo tồn, phậm vi sinh sống cùng những nghiên cứu mới về linh dương Saiga.[12]
Một số tổ chức ở châu Âu đang có kế hoạch để đưa linh dương Saiga trở lại môi trường sống ở châu Âu, nơi mà chúng cũng đã từng sinh sống.[13]
Dưới sự bảo trợ của Công ước về các loài động vật hoang dã di cư (CMS), còn được gọi là Công ước Bonn, biên bản ghi nhớ (MoU) về bảo tồn, phục hồi và sử dụng bền vững linh dương Saiga đã được ký kết bởi 5 quốc gia và rất nhiều các tổ chức đã có hiệu lực từ 24 tháng 9 năm 2006[14]. Là một trong những loài động vật có vú có số lượng giảm nhanh nhất, biên bản ghi nhớ nhằm mục đích giảm mức độ khai thác hiện tại và khôi phục lại số lượng ban đầu của loài động vật hoang dã trên thảo nguyên Trung Á này.
Tài liệu tham khảo [sửa]
- ^ Bản mẫu:IUCN2012.2
- ^ “Saiga/mongolian Saiga (Saiga tatarica)”. Evolutionarily Distinct and Globally Endangered. The Zoological Society of London. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2012.
- ^ Ellis, Richard (2004). No Turning Back: The Life and Death of Animal Species. New York: Harper Perennial. tr. 210. ISBN 0-06-055804-0. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2012.
- ^ Fred Pearce (12 tháng 2 năm 2003). “Rhino rescue plan decimates Asian scientists”. New Scientist. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2012.
- ^ “Welcome to the Saiga Conservation Alliance”. Saiga Conservation Alliance. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2012.
- ^ “Emergency appeal: saigas of the pre-Caspian region of Russia under extreme threat”. Saiga Conservation Alliance. 18 tháng 3 năm 2010. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2012.
- ^ “Mystery over mass antelope deaths in Kazakhstan”. BBC News. 28 tháng 5 năm 2010. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2012.
- ^ “Kazakhstan extends Saiga antelope hunting ban until 2021”. Silk Road Intelligencer. 19 tháng 1 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2012.
- ^ Mallon, David P.; Kingswood, Steven Charles (2001). Antelopes: Part 4 - North Africa, the Middle East, and Asia: Global Survey and Regional Action Plans. International Union for Conservation of Nature. tr. 164. ISBN 2831705940. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2012.
- ^ “Western saiga (Russian saiga)”. Zootierliste. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2012.
- ^ “Who we are”. Saiga Conservation Alliance. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2012.
- ^ “Saiga News”. Saiga Conservation Alliance. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2012.
- ^ “Big efforts needed for wildlife recovery”. Rewilding Europe. 11 tháng 11 năm 2011. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2012.
- ^ “Memorandum of Understanding concerning Conservation, Restoration and Sustainable Use of the Saiga Antelope (Saiga spp)”. Convention on Migratory Species. 25 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2012.
Đọc thêm [sửa]
- Singh, N.J., Milner-Gulland, E.J. (2011) (2011). “Conserving a moving target: planning protection for a migratory species as its distribution changes”. Journal of Applied Ecology, 48: 35–46. doi:10.1111/j.1365-2664.2010.01905.x.
- Singh, N.J., Grachev, Iu.A., Bekenov, A.B., Milner-Gulland, E.J. (2010) (2010). “Tracking greenery in Central Asia: The migration of the saiga antelope”. Diversity and Distributions 16 (4): 663–675. doi:10.1111/j.1472-4642.2010.00671.x.
- Singh, N.J., Grachev, Iu.A., Bekenov, A.B., Milner-Gulland, E.J. (2010) (2010). “Saiga antelope calving site selection is increasingly driven by human disturbance”. Biological Conservation 143 (7): 1770–1779. doi:10.1016/j.biocon.2010.04.026.
- Kuhl, A., Mysterud, A., Grachev, Iu.A., Bekenov, A.B., Ubushaev, B.S., Lushchekina, A.A., Milner-Gulland, E.J. (2009) (2009). “Monitoring population productivity in the saiga antelope”. Animal Conservation 12 (4): 355–363. doi:10.1111/j.1469-1795.2009.00260.x.
- Kuhl, A., Balinova, N., Bykova, E., Esipov, A., Arylov, Iu.A., Lushchekina, A.A., Milner-Gulland, E.J. (2009) (2009). “The role of saiga poaching in rural communities: Linkages between attitudes, socio-economic circumstances and behaviour”. Biological Conservation 142 (7): 1442–1449. doi:10.1016/j.biocon.2009.02.009.
- Kuhl, A., Mysterud, A., Erdnenov, G.I., Lushchekina, A.A., Grachev, Iu. A., Bekenov, A.B., Milner-Gulland, E.J. (2007) (2007). “The big spenders of the steppe: sex-specific maternal allocation and twinning in the saiga antelope”. Proceedings of the Royal Society B 274 (1615): 1293–1299. doi:10.1098/rspb.2007.0038. PMC 2176182. PMID 17341456..
- Morgan, E.R., Medley, G.F., Torgerson, P.R., Shaikenov, B., and Milner-Gulland, E.J. (2007) (2007). “Parasite transmission in a migratory multiple host system”. Ecological Modelling 200 (3–4): 511–520. doi:10.1016/j.ecolmodel.2006.09.002.
- Kholodova, M.V., Milner-Gulland, E.J., Easton, A.J., Amgalan, L., Arylov, Iu., Bekenov, A., Grachev, Iu.A., Lushchekina, A.A., Ryder, O. (2006) (2006). “Mitochondrial DNA variation and population structure of the Critically Endangered saiga antelope Saiga tatarica”. Oryx 40: 103–107. doi:10.1017/S0030605306000135.
- Morgan, E.R., Lundervold, M., Medley, G.F., Shaikenov, B.S., Torgerson, P.R., Milner-Gulland, E.J. (2006) (2006). “Assessing risks of disease transmission between wildlife and livestock: the Saiga antelope as a case study”. Biological Conservation 131 (2): 244–254. doi:10.1016/j.biocon.2006.04.012.
- Morgan, E.R., Shaikenov, B., Torgerson, P.R., Medley, G.F., Milner-Gulland, E.J. (2005) (2005). “Helminths of saiga antelopes in Kazakhstan: Implications for conservation and livestock production”. Journal of Wildlife Diseases 41 (1): 149–162. PMID 15827221.
- Milner-Gulland, E.J., Bukreeva, O.M., Coulson, T.N., Lushchekina, A.A., Kholodova, M.V., Bekenov, A.B., Grachev, Iu.A. (2003) (2003). “Reproductive collapse in saiga antelope harems”. Nature 422 (6928): 135. doi:10.1038/422135a. PMID 12634775.
- Robinson, S., Milner-Gulland, E.J. (2003) (2003). “Political change and factors limiting numbers of wild and domestic ungulates in Kazakhstan”. Human Ecology 31: 87–110. doi:10.1023/A:1022834224257.
- Milner-Gulland, E.J., Kholodova, M.V., Bekenov, A.B., Bukreeva, O.M., Grachev, Iu.A., Amgalan, L., Lushchekina, A.A. (2001) (2001). “Dramatic declines in saiga antelope populations”. Oryx 35 (4): 340–345. doi:10.1046/j.1365-3008.2001.00202.x.
Liên kết ngoài [sửa]
| Wikimedia Commons có thêm hình ảnh và tài liệu về: Saiga Antelope |
