Liverpool F.C.

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Liverpool
Liverpool FC logo.png
Tên đầy đủ Câu lạc bộ bóng đá Liverpool
Biệt danh The Reds (Lữ Đoàn Đỏ), The Kop
Thành lập 15 tháng 3, 1892; 122 năm trước[1]
Sân vận động Anfield
  — Sức chứa 45,522[2]
Chủ sở hữu Fenway Sports Group
Chủ tịch Tom Werner
Quản lý Brendan Rodgers
Giải đấu Giải bóng đá Ngoại hạng Anh
2012–13 Giải bóng đá Ngoại hạng Anh, đứng thứ 7
Web http://www.liverpoolfc.com/
Sân nhà
Sân khách
Khác

Soccerball current event.svg Mùa giải hiện nay

Câu lạc bộ bóng đá Liverpool (Tiếng Anh: Liverpool Football Club hay Liverpool F.C.) là một câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp của Anh, có trụ sở tại thành phố Liverpool, hạt Merseyside; hiện đang chơi tại Giải bóng đá Ngoại hạng Anh. Tính đến nay, Liverpool đã 18 lần vô địch bóng đá Anh, giành được 7 Cúp FA, 8 Cúp Liên đoàn Anh, 15 Siêu cúp Anh, 5 Cúp vô địch châu Âu (Cúp C1), 3 Cúp UEFA (Cúp C3) và 3 Siêu cúp châu Âu.

Liverpool được thành lập vào năm 1892 và lên chơi ở Giải Hạng nhì Anh trong năm sau đó. Câu lạc bộ đã chơi trên sân nhà của họ, Anfield, kể từ khi được thành lập cho đến nay. Liverpool thi đấu rất thành công trong hai thập niên 7080, dưới thời các huấn luyện viên Bill ShanklyBob Paisley, đội bóng đã giành được 11 chức vô địch quốc gia cùng 7 danh hiệu châu Âu.

Liverpool có một lượng cổ động viên hùng hậu và rất trung thành. Những kình địch lâu đời của đội bóng bao gồm câu lạc bộ cùng thành phố Everton và câu lạc bộ Manchester United. Bài hát truyền thống của câu lạc bộ là "You'll Never Walk Alone" (tạm dịch: "Bạn sẽ không bao giờ bước đi đơn độc"). Các cầu thủ Liverpool bắt đầu mặc bộ trang phục toàn bộ đỏ vào năm 1964, khi huấn luyện viên Bill Shankly cho rằng màu đỏ sẽ gây tác động đến tâm lý của đối phương.

Câu lạc bộ cũng có mặt trong hai sự kiện đáng buồn của bóng đá châu Âu. Đầu tiên là thảm họa tại sân Heysel vào năm 1985, các cổ động viên Liverpool quá khích đã tấn công cổ động viên Juventus khiến một bức tường khán đài sập xuống, gây ra cái chết của 39 người. Thảm họa thứ hai là Hillsborough vào năm 1989, 96 cổ động viên Liverpool đã thiệt mạng sau khi bị dồn ép vào hàng rào ngăn cách giữa khán đài và sân cỏ.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ bóng đá Liverpool được thành lập sau một cuộc tranh cãi trong nội bộ ủy ban câu lạc bộ Everton. Everton thuê sân Anfield trong 8 năm bắt đầu từ năm 1884. Tới năm 1891, John Houlding, chủ tịch Everton đồng thời là người đứng tên hợp đồng thuê sân Anfield, mua lại và làm chủ sân này. Sau đó, vì có bất đồng với Houlding nên các thành viên còn lại của Everton đành di chuyển đến một sân vận động khác là Goodison Park, nằm ở phía bắc công viên Stanley. Chỉ còn lại ba cầu thủ và một sân bóng trống không, John Houlding quyết định tự thành lập cho mình một đội bóng vào ngày 15 tháng 3 năm 1892.[3]

Câu lạc bộ Liverpool được thành lập và chơi tại sân Anfield đang bỏ trống. Tên ban đầu là Everton F.C. and Athletic Grounds, Ltd (gọi tắt là Everton Athletic), nhưng sau đó được đổi thành Liverpool Football Club vào tháng 6 năm 1892 do Liên đoàn bóng đá Anh từ chối công nhận cái tên Everton.[4]

Những mùa giải đầu tiên[sửa | sửa mã nguồn]

Đội bóng vô địch Giải Lancashire trong mùa giải đầu tiên, và được lên chơi ở Giải bóng đá Hạng nhì Anh trong mùa giải sau đó. Họ tiếp tục vô địch và được thăng hạng lên Giải bóng đá Hạng nhất Anh (hay còn được gọi là giải vô địch quốc gia; từ năm 1992 đến nay, tên chính thức là Giải bóng đá Ngoại hạng Anh). Họ vô địch Giải Hạng nhất lần đầu vào mùa giải 1900-01, và vô địch lần nữa vào mùa 1905-06.[5] Họ vào tới trận chung kết Cúp FA 1914 nhưng thua 1-0 trước Burnley.

Câu lạc bộ vô địch Giải Hạng nhất hai năm liên tiếp vào các mùa 1921-221922-23, nhưng sau đó không vô địch danh hiệu nào cho tới 1946-47, khi họ vô địch giải quốc gia lần thứ năm.[6] Câu lạc bộ vào đến trận chung kết Cúp FA 1950 nhưng thua Arsenal.[7] Liverpool bị xuống hạng vào mùa giải 1953-54.[8] Trong giai đoạn này họ đã phải chịu một trận thua 2-1 ở Cúp FA trước đội bóng ít tên tuổi Worcester City, mùa 1958-59.

Dưới thời Bill Shankly[sửa | sửa mã nguồn]

Bức tượng của huấn luyện viên Bill Shankly bên ngoài Anfield

Không lâu sau kết quả mất mặt này, Bill Shankly được bổ nhiệm làm huấn luyện viên, lúc này Liverpool đang suy yếu, với trang thiết bị luyện tập cũ nát, đội ngũ ban huấn luyện kém cỏi. Ông đã sa thải 24 cầu thủ và thay đổi một phòng ở Anfield, ban đầu được dùng để khởi động thành một phòng gọi là Boot Room, nơi các cầu thủ cùng huấn luyện viên có thể bàn bạc chiến thuật và uống trà. Tại đây, Shankly cùng các thành viên ban đầu của Boot Room, gồm Joe Fagan, Reuben BennettBob Paisley, bắt đầu cải tổ lại đội bóng.[9]

Lên lại Giải Hạng nhất vào mùa giải 1961-62, và vô địch lần đầu tiên sau 17 năm vào mùa 1963-64. Mùa 1965-66, họ vô địch Giải Hạng nhất rồi đoạt Cúp FA đầu tiên, nhưng sau đó thua trước Borussia Dortmund trong trận chung kết Cúp các đội đoạt cúp.[10] Mùa giải 1972-73 đội bóng vô địch Giải Hạng nhất, đoạt Cúp UEFA - đây là cúp châu Âu đầu tiên trong lịch sử đội bóng, và tiếp đó 1973-74 đoạt Cúp FA. Sau 15 năm dẫn dắt đạt được nhiều thành công, đưa Liverpool trở thành một trong những câu lạc bộ hàng đầu châu Âu, tháng 7 năm 1974, Shankly tuyên bố nghỉ hưu, ông rời đội bóng và trợ lí Bob Paisley lên thay.[11]

Dưới thời Bob Paisley[sửa | sửa mã nguồn]

Paisley thậm chí còn đạt được nhiều thành công hơn Shankly khi giúp đội bóng vô địch Giải Hạng nhất và Cúp UEFA ngay trong mùa giải 1975-76 - mùa thứ hai ông làm huấn luyện viên. Mùa tiếp đó, họ bảo vệ thành công danh hiệu vô địch Giải Hạng nhất, đoạt được cúp vô địch châu Âu (Cúp C1) đầu tiên trong lịch sử đội bóng, nhưng để thua trong trận chung kết Cúp FA, bỏ lỡ cơ hội đoạt cú ăn ba. Mùa 1977-78, Liverpool bảo vệ thành công ngôi vô địch Cúp C1 và vô địch Giải Hạng nhất lần nữa với số điểm 68, chỉ để thủng lưới 16 bàn trong 42 trận.[12]

Trong 9 mùa bóng Paisley dẫn dắt đội bóng, Liverpool đã vô địch 21 danh hiệu, bao gồm: 3 Cúp C1, 1 Cúp UEFA, 6 chức vô địch Giải Hạng nhất, 3 Cúp Liên đoàn cùng nhiều danh hiệu khác. Danh hiệu duy nhất ông không giành được là Cúp FA.[13] Kỉ nguyên của Paisley là kỉ nguyên của các ngôi sao lớn: Graeme Souness, Ian Rush, Alan HansenKenny Dalglish.

Phil Neal ghi bàn thắng trong trận chung kết Cúp C1 năm 1984 tại Roma

Paisley rời băng ghế huấn luyện vào năm 1983 và (cũng giống như Shankly đã làm) để lại chiếc ghế huấn luyện cho thành viên của Boot Room, trợ lí huấn luyện viên Joe Fagan.[14] Liverpool có được ngay 3 danh hiệu trong mùa giải 1983-84 - mùa đầu tiên Fagan tiếp quản, gồm: Giải Hạng nhất, Cúp Liên Đoàn và Cúp C1, trở thành đội bóng Anh đầu tiên giành được cú ăn ba trong một mùa giải.[15] Liverpool chơi trận chung kết Cúp C1 lần nữa vào ngày 29 tháng 5 năm 1985, trận gặp Juventus trên sân vận động Heysel, thành phố Brussels, nước Bỉ.

Những thảm họa[sửa | sửa mã nguồn]

Trước khi trận chung kết bắt đầu, nhiều cổ động viên Liverpool chủ động tấn công cổ động viên Juventus bằng chai lọ rồi tràn qua phần khán đài của họ. Kết quả nhiều cổ động viên Juventus bị dồn vào một bức tường khiến bức tường này đổ sập, giết chết 39 người trong số họ. Trận đấu sau đó vẫn diễn ra và Liverpool thua 1-0 bởi bàn thắng phạt đền của Michel Platini ở phút 57. Các đội bóng Anh sau đó đã bị cấm thi đấu ở các giải châu Âu trong 5 năm, Liverpool nhận mức phạt 10 năm, sau đó được giảm xuống còn 6 năm. 14 cổ động viên Liverpool phải nhận mức án 3 năm tù cho tội ngộ sát.[16] Thảm họa này được gọi là "Giờ đen tối nhất trong lịch sử các cuộc đấu UEFA".[17]

Fagan từ chức sau thảm hoạ và Kenny Dalglish được bổ nhiệm trên cương vị huấn luyện viên kiêm cầu thủ.[18] Trong thời gian ông nắm quyền, đội bóng 3 lần vô địch Giải Hạng nhất và đoạt 2 Cúp FA, bao gồm một cú ăn hai vào mùa giải 1985-86.

Góc khán đài phía đường Leppings tại sân Hillsborough khi thảm họa xảy ra

Chỉ 4 năm sau thảm họa Heysel, năm 1989, thêm một thảm họa khác liên quan đến cổ động viên của Liverpool xảy ra. Trong trận bán kết Cúp FA gặp Nottingham Forest tại sân Hillsborough ngày 15 tháng 4 năm 1989, sân quá tải khiến nhiều người bị dồn ép vào hàng rào ngăn cách khán đài và sân cỏ, giẫm đạp lên nhau trong vô vọng.[19] 94 cổ động viên đã thiệt mạng vào ngày hôm đó. Bốn ngày sau, số người thiệt mạng là 95 khi một cậu bé 14 tuổi qua đời. Bốn năm sau, tới lượt cổ động viên thứ 96 qua đời trên giường bệnh sau một thời gian dài sống thực vật.[20] Sau thảm họa này, chính quyền đã phải kiểm tra mức độ an toàn của các sân bóng. Theo như Báo cáo Taylor (Taylor Report), nguyên nhân chính của thảm hoạ là do sự quá tải dẫn tới việc cảnh sát không thể kiểm soát được tình hình.[21]

Một luật lệ đã được ban hành và mọi sân vận động ở giải đấu vô địch nước Anh phải dỡ bỏ hàng rào ngăn cách khán đài-sân cỏ, các khán đài phải được phủ kín bởi ghế ngồi. Mùa giải 1988-89 cũng chứng kiến Liverpool bị mất chức vô địch Hạng nhất một cách bất ngờ nhất kể từ khi giải đấu ra đời, khi câu lạc bộ mất danh hiệu bởi hiệu số bàn thắng-thua vào đúng phút cuối của mùa giải, trong trận thua trước nhà vô địch sau đó là Arsenal.[22]

Dưới thời Souness và Houllier[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 22 tháng 2 năm 1991, Dalglish bất ngờ tuyên bố từ chức, người thay thế ông là Graeme Souness.[23] Ngoại trừ Cúp FA vào năm 1992, Souness không giành thêm được thành công nào và bị thay thế bởi cựu thành viên Boot Room Roy Evans. Evans đạt được một chút thành công: chức vô địch Cúp Liên đoàn năm 1995 là danh hiệu duy nhất của ông. Điểm sáng nữa là chiến thắng 4-3 trước Newcastle United ở Anfield ngày 3 tháng 4 năm 1996 được đánh giá là trận đấu hay nhất của Giải Ngoại hạng trong 10 năm.

Trong giai đoạn này, Liverpool sử dụng nhiều cầu thủ trẻ do họ tự đào tạo và xây dựng một lối chơi tấn công đẹp mắt. Đặc biệt là bộ ba Spice Boys gồm: Steve McManaman, Jamie RedknappRobbie Fowler, sau đó được bổ sung thêm các nhân tố tấn công như Patrik Berger, Stan Collymore và đặc biệt là tiền đạo trẻ tuổi Michael Owen.

Gérard Houllier được bổ nhiệm là đồng huấn luyện viên cùng Roy Evans vào mùa giải 1998-99, nhưng được toàn quyền dẫn dắt sau khi Evans từ chức vào tháng 11 năm 1998.[24] Trong năm 2001, Liverpool giành được giành được cú ăn ba gồm: Cúp FA, Cúp Liên đoàn và Cúp UEFA; cùng 2 danh hiệu khác là Siêu cúp châu ÂuSiêu cúp Anh.[25] Houllier phải thực hiện một ca phẫu thuật tim trong mùa giải 2001-02 và Liverpool về đích vị trí thứ nhì tại Giải Ngoại hạng, sau Arsenal.[26] Mùa 2002-03, họ giành được thêm Cúp Liên đoàn nhưng tới mùa sau đó thì không đoạt bất kì danh hiệu nào, và lối chơi trong giai đoạn này cũng không thuyết phục.

"Triều đại" Benitez[sửa | sửa mã nguồn]

Rafael Benitez lên nắm quyền, thay cho Gérard Houllier khi mùa giải 2003-04 kết thúc. Mặc dù đội bóng chỉ đứng vị trí thứ 5 tại Giải Ngoại hạng trong mùa 2004-05 - mùa đầu tiên Benitez dẫn dắt; nhưng họ vô địch Cúp C1 khi đánh bại AC Milan 3-2 trên chấm luân lưu, sau hiệp chính hoà 3-3.[27] Mùa tiếp theo, Liverpool đứng vị trí thứ 3 với 82 điểm, số điểm cao nhất mà họ giành được kể từ năm 1988. Họ vô địch Cúp FA bằng việc đánh bại West Ham United trên chấm luân lưu sau khi hiệp chính kết thúc với tỉ số 3-3.[28]

Benitez đã thực hiện những cuộc cải cách khi giảm dần nhân tố Đông Âu trong đội hình của Liverpool bằng việc loại bỏ những cầu thủ như Milan Baros, Dudek, Vladimír Šmicer... thay vào đó ông chiêu mộ nhiều cầu thủ gốc La-tinh như Luis Garcia, Fabio Aurelio, Javier Mascherano, Xabi Alonso.... và đặc biệt là tiền đạo Fernando Torres; xây dựng lối chơi tấn công dựa trên bộ đôi Gerrard-Torres. Sự thay đổi này đã được báo giới đặt tên là Rafalution, một cách chơi chữ của từ revolution, nghĩa là cuộc cách mạng của Rafa.

Mùa giải 2006-07, đội bóng tìm kiếm những nguồn đầu tư mới và hai doanh nhân người Mĩ là George GilletTom Hicks đã tới mua lại đội bóng với mức giá 218.9 triệu bảng.[29] Năm đó, họ cũng vào tới trận chung kết Cúp C1, nhưng thua 2-1 trước đội bóng mà họ đã đánh bại trong trận chung kết Cúp C1 2005 AC Milan.[30] Kết thúc mùa giải 2008-09, Liverpool đứng ở vị trí thứ nhì sau Manchester United, giành được 86 điểm - số điểm cao nhất mà họ từng giành được kể từ khi giải đấu mang tên Giải Ngoại hạng.[31]

Giai đoạn này, Liverpool tuy không giành được nhiều danh hiệu nhưng họ đã chơi tốt tại đấu trường châu Âu. Họ có những trận đấu đẹp, kịch tích và những chiến thắng thuyết phục trước các đội bóng lớn của châu Âunước Anh, làm mưa làm gió trong giai đoạn này. Báo chí thường nhắc đến họ với cái tên "Vua đấu cúp".

Mùa giải 2009-10, câu lạc bộ không đoạt được bất kì danh hiệu nào và thất bại trong việc tìm một suất dự cúp C1 với vị trí thứ 7 Giải Ngoại hạng. Đây là nguyên nhân dẫn đến sự ra đi của Rafael Benitez vào sau mùa giải này.[32] Roy Hodgson lên dẫn dắt, nhưng chiến thuật của ông không phù hợp khiến đội bóng liên tục nằm ở nửa dưới bảng xếp hạng. Năm 2010 cũng đánh dấu các sự kiện: chia tay với nhà tài trợ Carlsberg sau nhiều năm hợp tác và Fenway Sports Group mua lại câu lạc bộ.

Từ năm 2011 trở đi[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 8 tháng 1 năm 2011, Roy Hodgson rời Liverpool bằng "thoả thuận đôi bên", người thay thế ông là Kenny Dalglish, đúng như nguyện vọng của nhiều cổ động viên. Dalglish giúp Liverpool chấm dứt chuỗi 6 năm không danh hiệu với việc vô địch Cúp Liên đoàn 2012. Tuy nhiên, sau khi đội bóng kết thúc Giải Ngoại hạng 2011-12 ở vị trí thứ 8, Dalglish bị sa thải vào tháng 5 năm 2012.[33] Kết thúc cuộc tìm kiếm vị huấn luyện viên trưởng thay thế Kenny Dalglish, Brendan Rodgers được lựa chọn. Ông rất thành công với Swansea City mùa giải trước đó và hứa hẹn sẽ đưa lối chơi Tiqui-Taca dựa trên khả năng cầm giữ bóng tốt đến Liverpool.

Tóm tắt hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Liverpool FC logo.png
Tóm tắt lịch sử Liverpool
  • 1892, Thành lập Câu lạc bộ bóng đá Liverpool.
  • 1892-93 - Green Arrow Up.svg Giải vô địch Lancashire: vô địch.
  • 1893-94 - Green Arrow Up.svg Giải Hạng nhì: vô địch.
  • 1894-95 - Red Arrow Down.svg Giải Hạng nhất: thứ 16, xuống lại Giải Hạng nhì.
  • 1895-96 - Green Arrow Up.svg Giải Hạng nhì: vô địch.
  • 1896-97 - Giải Hạng nhất: đứng thứ 5.
  • 1897-98 - Giải Hạng nhất: đứng thứ 9.
  • 1898-99 - Giải Hạng nhất: đứng thứ 2.
  • 1899-1900 - Giải Hạng nhất: thứ 10.

  • 1900-01 - Premier league trophy icon.png Giải Hạng nhất: vô địch, lần đầu tiên.
  • 1901-02 - Giải Hạng nhất: đứng thứ 11.
  • 1902-03 - Giải Hạng nhất: đứng thứ 5.
  • 1903-04 - Red Arrow Down.svg Giải Hạng nhất: đứng thứ 17.
  • 1904-05 - Green Arrow Up.svg Giải Hạng nhì: vô địch.
  • 1905-06 - Premier league trophy icon.png Giải Hạng nhất: vô địch, lần thứ 2.
  • 1906-07 - Giải Hạng nhất: đứng thứ 17.
  • 1907-08 - Giải Hạng nhất: đứng thứ 8.
  • 1908-09 - Giải Hạng nhất: đứng thứ 16.
  • 1909-10 - Giải Hạng nhất: đứng thứ 2.

  • 1910-11 - Giải Hạng nhất: đứng thứ 13.
  • 1911-12 - Giải Hạng nhất: đứng thứ 17.
  • 1912-13 - Giải Hạng nhất: đứng thứ 12.
  • 1913-14 - Giải Hạng nhất: đứng thứ 16;
  • 1914-15 - Giải Hạng nhất: đứng thứ 13.
  • 1915-19 - Đình chỉ hoạt động do Chiến tranh thế giới lần thứ nhất.
  • 1919-20 - Giải Hạng nhất: đứng thứ 4.

  • 1920-21 - Giải Hạng nhất: đứng thứ 4.
  • 1921-22 - Premier league trophy icon.png Giải Hạng nhất: vô địch, lần thứ 3.
  • 1922-23 - Premier league trophy icon.png Giải Hạng nhất: vô địch, lần thứ 4.
  • 1923-24 - Giải Hạng nhất: đứng thứ 12.
  • 1924-25 - Giải Hạng nhất: đứng thứ 4.
  • 1925-26 - Giải Hạng nhất: đứng thứ 7.
  • 1926-27 - Giải Hạng nhất: đứng thứ 9.
  • 1927-28 - Giải Hạng nhất: đứng thứ 16.
  • 1928-29 - Giải Hạng nhất: đứng thứ 5.
  • 1929-30 - Giải Hạng nhất: đứng thứ 12.

  • 1930-31 - Giải Hạng nhất: đứng thứ 9.
  • 1931-32 - Giải Hạng nhất: đứng thứ 10.
  • 1932-33 - Giải Hạng nhất: đứng thứ 14.
  • 1933-34 - Giải Hạng nhất: đứng thứ 18.
  • 1934-35 - Giải Hạng nhất: đứng thứ 7.
  • 1935-36 - Giải Hạng nhất: đứng thứ 19.
  • 1936-37 - Giải Hạng nhất: đứng thứ 18.
  • 1937-38 - Giải Hạng nhất: đứng thứ 11.
  • 1938-46 - Đình chỉ hoạt động do Chiến tranh thế giới lần thứ hai.
  • 1946-47 - Premier league trophy icon.png Giải Hạng nhất: vô địch, lần thứ 5.
  • 1947-48 - Giải Hạng nhất: đứng thứ 11.
  • 1948-49 - Giải Hạng nhất: đứng thứ 12.
  • 1949-50 - Giải Hạng nhất: đứng thứ 8.


  • 1950-51 - Giải Hạng nhất: đứng thứ 9.
  • 1951-52 - Giải Hạng nhất: đứng thứ 11.
  • 1952-53 - Giải Hạng nhất: đứng thứ 17.
  • 1953-54 - Red Arrow Down.svg Giải Hạng nhất: đứng thứ 22.
  • 1954-55 - Giải Hạng nhì: đứng thứ 11.
  • 1955-56 - Giải Hạng nhì: đứng thứ 3.
  • 1956-57 - Giải Hạng nhì: đứng thứ 3.
  • 1957-58 - Giải Hạng nhì: đứng thứ 4.
  • 1958-59 - Giải Hạng nhì: đứng thứ 4.
  • 1959-60 - Giải Hạng nhì: đứng thứ 3.

  • 1960-61 - Giải Hạng nhì: đứng thứ 3.
  • 1961-62 - Green Arrow Up.svg Giải Hạng nhì: vô địch.
  • 1962-63 - Giải Hạng nhất: đứng thứ 8.
  • 1963-64 - Premier league trophy icon.png Giải Hạng nhất: vô địch, lần thứ 6.
  • 1964-65 - Giải Hạng nhất: đứng thứ 7; FA Cup.png Cúp FA: vô địch, lần đầu tiên CommunityShield.png Siêu cúp Anh: vô địch, lần đầu tiên.
  • 1965-66 - Premier league trophy icon.png Giải Hạng nhất: vô địch, lần thứ 7; CommunityShield.png Siêu cúp Anh: vô địch, lần thứ 2.
  • 1966-67 - Giải Hạng nhất: đứng thứ 5; CommunityShield.png Siêu cúp Anh: vô địch, lần thứ 3.
  • 1967-68 - Giải Hạng nhất: đứng thứ 3.
  • 1968-69 - Giải Hạng nhất: đứng thứ 2.
  • 1969-70 - Giải Hạng nhất: đứng thứ 5.

  • 1970-71 - Giải Hạng nhất: đứng thứ 5.
  • 1971-72 - Giải Hạng nhất: đứng thứ 3.
  • 1972-73 - Premier league trophy icon.png Giải Hạng nhất: vô địch, lần thứ 8; UEFA Cup (adjusted).png Cúp UEFA: vô địch, lần đầu tiên.
  • 1973-74 - Giải Hạng nhất: đứng thứ 2; FA Cup.png Cúp FA: vô địch, lần thứ 2.
  • 1974-75 - Giải Hạng nhất: đứng thứ 3; CommunityShield.png Siêu cúp Anh: vô địch, lần thứ 4.
  • 1975-76 - Premier league trophy icon.png Giải Hạng nhất: vô địch, lần thứ 9; UEFA Cup (adjusted).png Cúp UEFA: vô địch, lần thứ 2.
  • 1976-77 - Premier league trophy icon.png Giải Hạng nhất: vô địch, lần thứ 10; CommunityShield.png Siêu cúp Anh: vô địch,lần thứ 5.; Coppacampioni.png Cúp C1: vô địch, lần đầu tiên.
  • 1977-78 - Giải hạng nhất: đứng thứ 2; CommunityShield.png Siêu cúp Anh: vô địch, lần thứ 6.; Coppacampioni.png Cúp C1: vô địch, lần thứ 2; Supercoppaeuropea.png Siêu cúp châu Âu: vô địch, lần đầu tiên.
  • 1978-79 - Premier league trophy icon.png Giải Hạng nhất: vô địch, lần thứ 11.
  • 1979-80 - Premier league trophy icon.png Giải Hạng nhất: vô địch, lần thứ 12; CommunityShield.png Siêu cúp Anh: vô địch, lần thứ 7.

  • 1980-81 - Giải Hạng nhất: đứng thứ 5; Carling.png Cúp Liên đoàn: vô địch, lần đầu tiên; CommunityShield.png Siêu cúp Anh: vô địch, lần thứ 8; Coppacampioni.png Cúp C1: vô địch, lần thứ 3.
  • 1981-82 - Premier league trophy icon.png Giải Hạng nhất: vô địch, lần thứ 13; Carling.png Cúp Liên đoàn: vô địch, lần thứ 2.
  • 1982-83 - Premier league trophy icon.png Giải Hạng nhất: vô địch, lần thứ 14; Carling.png Cúp Liên đoàn: vô địch, lần thứ 3. CommunityShield.png Siêu cúp Anh: vô địch, lần thứ 9.
  • 1983-84 - Premier league trophy icon.png Giải Hạng nhất: vô địch, lần thứ 15; Carling.png Cúp Liên đoàn: vô địch, lần thứ 4. Coppacampioni.png Cúp C1: vô địch, lần thứ 4.
  • 1984-85 - Giải Hạng nhất: đứng thứ 2.
  • 1985-86 - Premier league trophy icon.png Giải Hạng nhất: vô địch, lần thứ 16; FA Cup.png Cúp FA: vô địch, lần thứ 3.
  • 1986-87 - Giải Hạng nhất: đứng thứ 2; CommunityShield.png Siêu cúp Anh: vô địch, lần thứ 10.
  • 1987-88 - Premier league trophy icon.png Giải Hạng nhất: vô địch, lần thứ 17.
  • 1988-89 - Giải Hạng nhất: đứng thứ 2; FA Cup.png Cúp FA: vô địch, lần thứ 4; CommunityShield.png Siêu cúp Anh: vô địch, lần thứ 11.
  • 1989-90 - Premier league trophy icon.png Giải Hạng nhất: vô địch, lần thứ 18; CommunityShield.png Siêu cúp Anh: vô địch, lần thứ 12.

  • 1990-91 - Giải Hạng nhất: đứng thứ 2; CommunityShield.png Siêu cúp Anh: vô địch, lần thứ 13.
  • 1991-92 - Giải Ngoại hạng: đứng thứ 6; FA Cup.png Cúp FA: vô địch, lần thứ 5.
  • 1992-93 - Giải Ngoại hạng: đứng thứ 6.
  • 1993-94 - Giải Ngoại hạng: đứng thứ 6.
  • 1994-95 - Giải Ngoại hạng: đứng thứ 8; Carling.png Cúp Liên đoàn: vô địch, lần thứ 5.
  • 1995-96 - Giải Ngoại hạng: đứng thứ 4.
  • 1996-97 - Giải Ngoại hạng: đứng thứ 3.
  • 1997-98 - Giải Ngoại hạng: đứng thứ 4.
  • 1998-99 - Giải Ngoại hạng: đứng thứ 7.
  • 1999-2000 - Giải Ngoại hạng: đứng thứ 4.

  • 2000-01 - Giải Ngoại hạng: đứng thứ 3; FA Cup.png Cúp FA: vô địch, lần thứ 6. Carling.png Cúp Liên đoàn: vô địch, lần thứ 6. UEFA Cup (adjusted).png Cúp UEFA: vô địch, lần thứ 3.
  • 2001-02 - Giải Ngoại hạng: đứng thứ 4; CommunityShield.png Siêu cúp Anh: vô địch, lần thứ 14; Supercoppaeuropea.png Siêu cúp châu Âu: vô địch, lần thứ 2.
  • 2002-03 - Giải Ngoại hạng: đứng thứ 5; Carling.png Cúp Liên Đoàn: vô địch, lần thứ 7.
  • 2003-04 - Giải Ngoại hạng: đứng thứ 4;
  • 2004-05 - Giải Ngoại hạng: đứng thứ 5; Coppacampioni.png Cúp C1: vô địch, lần thứ 5.
  • 2005-06 - Giải Ngoại hạng: đứng thứ 3; FA Cup.png Cúp FA: vô địch, lần thứ 7; Supercoppaeuropea.png Siêu cúp châu Âu: vô địch, lần thứ 3..
  • 2006-07 - Giải Ngoại hạng: đứng thứ 3; CommunityShield.png Siêu cúp Anh: vô địch, lần thứ 15.
  • 2007-08 - Giải Ngoại hạng: đứng thứ 4.
  • 2008-09 - Giải Ngoại hạng: đứng thứ 2.
  • 2009-10 - Giải Ngoại hạng: đứng thứ 7.

  • 2010-11 - Giải Ngoại hạng: đứng thứ 6.
  • 2011-12 - Giải Ngoại hạng: đứng thứ 8; Carling.png Cúp Liên đoàn: vô địch, lần thứ 8.
  • 2012-13 - Giải Ngoại hạng: đứng thứ 7.

Màu áo và biểu trưng[sửa | sửa mã nguồn]

Đội trưởng Steven Gerrard, khởi đầu sự nghiệp tại Đội trẻ Liverpool

Vào thời kì đầu, khi đội bóng tiếp quản Anfield từ tay Everton, họ dùng màu áo của Everton là xanhtrắng. Năm 1896, Liverpool chọn áo đỏ, quần trắng cho trang phục thi đấu chính thức[3] và vẫn sử dụng nó trong hơn 60 năm tiếp theo. Màu tất được thay đổi nhiều trong những năm đó: từ đỏ, sang đen, tới trắng và trở lại đỏ. Biểu trưng Liver bird bắt đầu được gắn trên ngực trái của áo đấu vào năm 1955. Năm 1964, huấn luyện viên Bill Shankly quyết định để đội bóng mặc trang phục toàn bộ đỏ lần đầu tiên trong trận gặp R.S.C Anderlecht,[34] và Ian St. John đã nói lại điều này trong cuốn tự truyện của ông: Bill Shankly nghĩ rằng màu sắc sẽ tác động tới tâm lý - màu đỏ cho nguy hiểm, màu đỏ cho sức mạnh.

Trận đấu đối đầu với Anderlecht tại Anfield đúng là một đêm đáng nhớ. Chúng ta đã lần đầu tiên được mang bộ đồng phục đỏ. Chúa ơi, những cầu thủ lớn. Và chúng ta cũng chơi theo kiểu cầu thủ lớn”.[35]

Trang phục sân khách từng được sử dụng nhiều hơn cả là áo trắng hoặc vàng với quần đen, và cũng có một vài ngoại lệ. Một bộ trang phục xám được giới thiệu vào năm 1987, và được sử dụng cho tới mùa giải kỉ niệm 100 năm thành lập câu lạc bộ 1991–92, khi nó bị thay thế bởi bộ trang phục kết hợp giữa hai màu xanh lá cây và trắng. Sau nhiều lần thay đổi màu sắc trong những năm 1990, bao gồm vàng và màu hải quân, vàng sáng, đen và xám, và xám - vàng nhạt. Câu lạc bộ đã luân phiên sử dụng những bộ trang phục sân khách vàng và trắng cho tới mùa giải 2008–09, khi trang phục xám được sử dụng lại. Trang phục phụ được thiết kế dành cho các giải châu Âu, nhưng đôi khi được sử dụng tại các giải đấu quốc nội khi màu trang phục sân khách trùng với màu của đội chủ sân. Tháng 1 năm 2012, câu lạc bộ công bố bản hợp đồng với hãng thể thao Warrior Sports để được tài trợ 25 triệu £/1 mùa và sản xuất trang phục thi đấu trong vòng 6 năm, bắt đầu từ mùa giải 2012-13. Trước đó, tài trợ trang phục là Adidas - từ năm 2006 đến năm 2012, hãng này cũng đã tài trợ trong giai đoạn 1985-1996.[36] Giai đoạn 1973-1985, trang phục tài trợ bởi Umbro và giai đoạn 1996-2006 bởi Reebok.[37]

Tên nhà tài trợ Quốc gia Giai đoạn tài trợ
Hitachi Cờ của Nhật Bản Nhật Bản 1972-1982
Crown Paints Cờ của Anh Vương quốc Anh 1982-1988
Candy Cờ của Ý Ý 1988-1992
Carlsberg Cờ của Đan Mạch Đan Mạch 1992-2010
Standard Chartered Cờ của Anh Vương quốc Anh 2010-

Biểu trưng của Liverpool gồm hình con chim Liverbird (biểu trưng của thành phố Liverpool, được chọn làm biểu trưng đội bóng vào năm 1901) đặt bên trong hình một tấm khiên. Năm 1992, để kỉ niệm 100 năm thành lập, câu lạc bộ giới thiệu mẫu biểu trưng mới, thêm vào hình phần trên cánh cổng Shankly với dòng chữ "YOU'LL NEVER WALK ALONE" ("Bạn sẽ không bao giờ bước đi đơn độc"). Hai ngọn lửa tượng trưng cho đài tưởng niệm Hillsborough được thêm trong năm tiếp đó.[38] Năm 2012, biểu trưng trên bộ trang phục mới do hãng Warrior Sports thiết kế đã loại bỏ tấm khiên và phần trên cánh cổng Shankly, trở về hình Liverbird giống những năm 1970; hai ngọn lửa được chuyển ra sau cổ áo, ở hai bên số 96, số người chết do thảm họa Hillsborough.[39]

Nhà tài trợ[sửa | sửa mã nguồn]

Liverpool là đội bóng chuyên nghiệp đầu tiên ở Anh in biểu trưng nhà tài trợ trên áo, sau khi họ đồng ý in tên hãng Hitachi vào năm 1979.[40] Kể từ đó họ được tài trợ bởi Crown Paints, Candy, Carlsberg và hiện nay là ngân hàng Standard Chartered. Hợp đồng với Carlsberg được kí vào năm 1992 và kết thúc năm 2010 - là bản hợp đồng lâu nhất trong lịch sử bóng đá Anh.[41]

Sân vận động[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Anfield
Anfield, sân nhà của câu lạc bộ Liverpool

Liverpool đã chơi trên sân Anfield từ khi được thành lập năm 1892. Anfield được xây năm 1884 trên mảnh đất gần công viên Stanley, ban đầu được sử dụng bởi Everton. Họ rời khu đất vào năm 1892,[42] rồi người chủ của Anfield - John Houlding, quyết định sẽ lập một đội bóng mới chơi trên sân này. Sức chứa của sân lúc đó là 20.000 người, mặc dù chỉ khoảng 100 cổ động viên đến xem trận đấu đầu tiên của Liverpool ở Anfield.[43]

Năm 1906, câu lạc bộ thuê kiến trúc sư Archibald Leitch để thiết kế xây dựng và nâng cấp lại sân Anfield. Khán đài ở cuối sân được đổi tên thành Spion Kop, theo tên một ngọn đồiNatal, Nam Phi,[44] ngọn đồi này là nơi diễn ra trận Spion Kop trong cuộc chiến tranh với người Nam Phi gốc Hà Lan lần thứ hai, nơi khoảng 300 người vùng Lancashire tử trận vào ngày 24 tháng 1 năm 1900, phần lớn trong số họ đến từ thành phố Liverpool.[45] Trong lịch sử, khán đài The Kop từng có thể chứa khoảng 28,000 chỗ ngồi và là một trong những khán đài lớn nhất thế giới. Nhiều sân vận động ở Anh cũng đặt tên khán đài là Spion Kop, nhưng khán đài của Anfield là lớn nhất thời điểm đó, thậm chí chứa được nhiều khán giả hơn cả một số sân vận động.[46] Khán đài này bị cắt giảm sức chứa để đảm bảo an toàn sau thảm hoạ Hillsborough. Nó được chuyển thành khán đài phủ kín chỗ ngồi vào năm 1994, và giảm sức chứa xuống còn 12.390 chỗ ngồi, dù vậy hiện nay The Kop vẫn là khán đài một tầng lớn nhất thế giới.

Cánh cổng Shankly của sân Anfield, được dựng vào năm 1982 để tưởng nhớ huấn luyện viên Bill Shankly

Khán đài Anfield Road đối diện với The Kop, là nơi các cổ động viên đội khách ngồi. Được xây lại vào năm 1998 với sức chứa 9,074 chỗ ngồi, đó là khán đài mới nhất của Anfield. Hai khán đài còn lại là Main Stand có sức chứa 12,227 chỗ ngồi và Centenary Stand có sức chứa 11.762 chỗ. Khán đài Main Stand là khán đài cũ nhất Anfield, được hoàn thành vào năm 1982. Là nơi đặt phòng thay đồ của cầu thủ và phòng bình luận. Nằm ở phía giữa khán đài này, gần vạch kẻ sân là đường hầm ra sân và khu vực kỹ thuật - nơi ngồi của huấn luyện viên và các cầu thủ dự bị. Khán đài Centenary Stand trước đây là khán đài Kemlyn Road, đổi tên như hiện nay sau khi được xây thêm một tầng và đưa vào sử dụng ngày 1 tháng 9 năm 1992, nhân kỉ niệm 100 năm thành lập đội bóng. Lần sửa chữa lớn cuối cùng cho Anfield là vào năm 1998. Sức chứa của cả sân vận động là 45.522 chỗ ngồi, được đánh giá là sân đạt chuẩn 4 sao của UEFA.

Do hạn chế về sức chứa của Anfield, Liverpool công bố kế hoạch di chuyển đến một sân vận động mới tại công viên Stanley vào tháng 5 năm 2002.[47] Ngày 8 tháng 9 năm 2006, Hội đồng thành phố chấp thuận việc xây sân, họ cũng đồng ý sẽ cấp cho Liverpool quyền sử dụng khu đất ở công viên Stanley với thời hạn 999 năm.[48] Với việc hai vị đồng chủ tịch George Gillet và Tom Hicks tiếp quản đội bóng vào tháng 2 năm 2007, bản thiết kế của sân vận động mới được thay đổi. Vào tháng 11 năm 2007, bản thiết kế mới được phê chuẩn bởi Hội đồng thành phố, và chuẩn bị bắt đầu vào tháng 6 năm 2008. Tập đoàn HKS được giao nhiệm vụ xây sân mới.[49] Song đã không có công trình nào được xây bởi George Gillet và Tom Hicks đã không có đủ khả năng tài chính cho dự án.

Sân tập[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Melwood

Melwood ở West Derby đã trở thành sân tập của Liverpool từ năm 1950. Nó không liên quan tới Học viện ở Kirkby. Khu đất này trước đây thuộc về trường học địa phương St Francis Xavier.

Cổ động viên[sửa | sửa mã nguồn]

Cổ động viên Liverpool trên khán đài The Kop

Liverpool là một trong những câu lạc bộ sở hữu cổ động viên trung thành nhất thế giới, trung bình lượng cổ động viên tới sân thuộc hàng cao nhất châu Âu.[50] Câu lạc bộ có hơn 200 hội cổ động viên chính thức ở hơn 30 quốc gia được Hiệp hội các chi nhánh quốc tế (Association of International Branches) công nhận.[51] Với lợi thế lượng cổ động viên đông đảo, Liverpool thường xuyên tổ chức các tour du đấu quốc tế vào mùa hè.[52] Cổ động viên Liverpool thường thích tự gọi họ là những "Kopites", điều này để nói tới những fan lúc đứng, lúc lại ngồi trên khán đài The Kop.

Bài hát "You'll Never Walk Alone", ban đầu xuất hiện trong vở kịch Carousel, sau đó được thu âm bởi nhạc sĩ Gerry & The Pacemakers, và được cổ động viên hát lên ở sân Anfield từ đầu những năm 1960. Tên bài hát được viết trên cổng Shankly, được dựng lên vào ngày 2 tháng 8 năm 1982 nhằm tưởng nhớ huấn luyện viên huyền thoại Bill Shankly. Hàng chữ "You'll Never Walk Alone" trên cánh cổng Shankly cũng là tiêu ngữ của đội bóng.

Cổ động viên của câu lạc bộ cũng có mặt trong hai sự kiện đáng quên. Đầu tiên là Thảm họa Heysel xảy ra vào năm 1985 khi 39 cổ động viên thiệt mạng, hầu hết là người Ý. Họ bị các cổ động viên Liverpool dồn vào một bức tường, dưới sức ép của nhiều người, bức tường đổ sập. Vì những hành động trên, Liverpool đã bị UEFA cấm thi đấu ở các giải đấu châu Âu trong 6 năm. 27 người đã bị bắt giữ, phần lớn trong số này đến từ Merseyside, một số người từng tham gia vào các vụ bạo lực bóng đá. Năm 1989, sau 5 tháng điều tra ở Bỉ, 14 cổ động viên Liverpool đã phải nhận mức án 3 năm tù.

Sự kiện đáng buồn thứ hai trong trận bán kết cúp FA ngày 15 tháng 4 năm 1989 giữa Liverpool và Nottingham Forest, trên sân Hillsborough của đội Sheffield Wednesday ở Sheffield. Tổng cộng 96 người thiệt mạng và 766 người bị thương (tất cả đều là cổ động viên của Liverpool) do bị giẫm đạp và đây được biết tới là thảm họa Hillsborough. Bốn ngày sau thảm họa, tờ báo The Sun trong một bài viết mang tiêu đề "Sự thật" đã tố cáo các cổ động viên Liverpool cướp bóc, tấn công cảnh sát và cả nhân viên cứu hộ khi họ đang cố gắng cứu sống các nạn nhân.[53] Điều tra sau đó đã chứng minh những cáo buộc này là sai lầm và điều này đã dẫn đến một cuộc tẩy chay của toàn thành phố đối với tờ báo.[54] Biên tập viên của The SunKelvin MacKenzie đã phải xin lỗi công chúng. Nhiều tổ chức đã được thành lập như là một kết quả của thảm hoạ ở Sheffield như "Chiến dịch Tư pháp Hillsborough", đại diện cho các gia đình có người chết, người sống sót và những người ủng hộ, vận động công lý cho 96 người chết vì thảm họa.[55]

Kình địch[sửa | sửa mã nguồn]

Một trận Merseyside derby tại Anfield

Đối thủ truyền kiếp của Liveprool là đội bóng hàng xóm Everton, đối thủ của họ trong những trận derby Merseyside. Điều này bắt nguồn từ những tranh chấp của ban lãnh đạo Everton và các ông chủ của Anfield. Những trận derby Merseyside luôn được bán hết vé. Các trận derby này có tổng số thẻ đỏ nhiều nhất trong lịch sử Giải Ngoại hạng và được đánh giá "Những trận đấu vô kỷ luật và bùng nổ nhất của Giải Ngoại hạng Anh".[56] Đây là một trong số ít những trận "derby thân thiện" ("friendly derby") vì không bắt buộc tách hai nhóm cổ động viên hai đội ra.

Liverpool cũng có mối thù với Manchester United, nguyên nhân của điều này chủ yếu do sự thành công của hai đội bóng và sự cạnh tranh thương mại giữa hai thành phố LiverpoolManchester.[57] Sự kình địch giữa hai đội tăng lên từ những năm 1960, tuy Liverpool là đội bóng Anh đoạt nhiều cúp vô địch châu Âu nhất nhưng Manchester United lại là đội bóng Anh đoạt cúp này sớm nhất (vào năm 1968), Manchester United cũng bắt đầu thống trị bóng đá Anh trong những năm 1990. Sự thù địch lớn đến nỗi cầu thủ cuối cùng được chuyển giao giữa hai câu lạc bộ là Phil Chisnall, người chuyển đến Liverpool từ Manchester United vào năm 1964.[58]

Sở hữu và tài chính[sửa | sửa mã nguồn]

Là chủ sở hữu Anfield và là người sáng lập Liverpool, John Houlding trở thành chủ tịch đầu tiên của câu lạc bộ, ông giữ cương vị này từ năm thành lập 1892 đến năm 1904. John McKenna tiếp quản vị trí này sau sự ra đi của Houlding.[59] McKenna sau đó trở thành chủ tịch của giải bóng đá vô địch Anh.[60] Vị trí chủ tịch được thay đổi nhiều lần trước khi John Smith, người có cha là cổ đông đội bóng, lên giữ vào năm 1973. Ông điều hành giai đoạn thi đấu thành công nhất của câu lạc bộ trước khi rời chức năm 1990.[61] Sau đó, David Moores, người có gia đình là chủ sở hữu đội bóng trong hơn 50 năm, tiếp quản vị trí này. Chú ông, John Moores cũng là một cổ đông đội bóng và là chủ tịch của Everton trong giai đoạn từ năm 1961 đến năm 1973. Là người sở hữu 51% câu lạc bộ, năm 2004, David Moores bày tỏ việc muốn bán cổ phần của mình.[62]

Ngày 6 tháng 2 năm 2007, Moores bán đội bóng cho hai doanh nhân người MỹGeorge GillettTom Hicks. Thỏa thuận này bao gồm giá trị và khoản nợ chưa thanh toán của câu lạc bộ, tổng cộng là 218.9 triệu £ (Bảng Anh). Bộ đôi này đã trả 5,000 £ cho mỗi cổ phần, hoặc 174.1 triệu £ cho tổng số cổ phần và 44.8 triệu £ để trang trải các khoản nợ.[63] Sau đó vì những bất đồng giữa Gillett và Hicks, cộng thêm sự phản đối từ người hâm mộ, khiến bộ đôi này tìm cách bán đội bóng.[64] Martin Broughton nhận chức chủ tịch vào ngày 16 tháng 7 năm 2010 để giám sát việc bán.[65] Tháng 5 năm 2010, tài khoản câu lạc bộ được công khai, gồm 350 triệu £ tiền nợ cùng 55 triệu £ tiền lỗ, được công ti kiểm toán KPMG xác nhận.[66] Các chủ nợ của Liverpool, trong đó có Ngân hàng hoàng gia Scotland, đã đưa Gillett và Hicks ra tòa để buộc bộ đôi này nhường lại việc bán cho Hội đồng quản trị câu lạc bộ đảm trách. Một thẩm phán của toà án tối cao, ông Christopher Floyd, đã ra phán quyết có lợi cho những chủ nợ, mở đường cho Fenway Sports Group (tên lúc đó là New England Sports Ventures) mua lại đội bóng, dù Gillett và Hicks vẫn còn khả năng kháng cáo.[67] Ngày 15 tháng 10 năm 2010, Liverpool được bán cho Fenway Sports Group với giá 300 triệu £.[68]

Liverpool được xem như là một thương hiệu toàn cầu, được đánh giá hạng AA (Rất mạnh).[69] Trong tháng 4 năm 2010, tạp chí Forbes xếp hạng Liverpool là đội bóng có giá trị thứ 6 thế giới, sau Manchester United, Real Madrid, Arsenal, BarcelonaBayern Munich, giá trị câu lạc bộ vào khoảng 832 triệu $ (Đô la Mỹ), không bao gồm nợ.[70] Kiểm toán Deloitte xếp Liverpool ở vị trí thứ 8 trong Deloitte Football Money League, xếp hạng các câu lạc bộ bóng đá thế giới về doanh thu. Liverpool kiếm được thu nhập 225,3 triệu € (Euro) trong mùa giải 2009-10.[71]

Câu lạc bộ Liverpool đối với văn hoá[sửa | sửa mã nguồn]

3 burgundy tablets with gold engraved writing. Below the tablets are flowers.
Đài tưởng niệm Hillsborough

Là một trong những đội bóng thành công nhất trong lịch sử bóng đá Anh, Liverpool là hình tượng trong đời sống văn hoá Anh khi nói về bóng đá và xuất hiện trong nhiều sự kiện đặc biệt của truyền thông. Đội bóng xuất hiện trong số đầu tiên của chương trình "Trận đấu của ngày" (Match of the Day) trên BBC, nói đến trận đấu với ArsenalAnfield vào ngày 22 tháng 4 năm 1964. Liverpool cũng xuất hiện trong buổi truyền hình bóng đá trên vô tuyến màu đầu tiên, đó là lần truyền hình trực tiếp trận gặp West Ham United vào tháng 3 năm 1967.[72] Các cổ động viên Liverpool đã được ban nhạc Pink Floyd nhắc đến trong bài hát "Fearless", bài hát cũng trích một đoạn từ bài "You'll Never Walk Alone".[73] Liverpool cho ra mắt bài hát với tên gọi "Anfield Rap" vào dịp trước trận chung kết Cúp FA gặp Wimbledon năm 1988. Trong bài này, John Barnes đã trình diễn rap cùng một số thành viên khác trong đội hình xuất phát.[74]

Một bộ phim tài liệu về thảm hoạ Hillsborough, viết bởi Jimmy McGovern, đã được trình chiếu vào năm 1996. Diễn viên Christopher Eccleston đã vào vai Trevor Hicks, tâm điểm của những câu truyện được kể lại. Hicks, người đã mất hai cô con gái trong thảm hoạ, đã tham gia vào các hoạt động làm cho những sân vận động an toàn hơn và giúp đỡ những gia đình có người thân thiệt mạng trong thảm hoạ Hillsborough.[75] Câu lạc bộ đã xuất hiện trong bộ phim The 51st State (hoặc Formula 51). Felix DeSouza (Robert Carlyle) là một cổ động viên nhiệt thành của đội bóng và cảnh cuối cùng của bộ phim được thực hiện trong một trận đấu giữa Liverpool và Manchester United.[76] Đội bóng cũng xuất hiện trong một chương trình dành cho trẻ em với tên gọi Scully; nội dung xoay quanh một cậu bé, Francis Scully, người cố gắng để được đá thử một trận cùng Liverpool. Một số người nổi tiếng của Liverpool như Kenny Dalglish đã xuất hiện trong chương trình.[77]

Đội hình[sửa | sửa mã nguồn]

Số liệu thống kê chính xác tới 2 tháng 9 năm 2013

Đội hình chính[sửa | sửa mã nguồn]

 Số áo   Vị trí Tên cầu thủ
1 Cờ của Úc TM Brad Jones
2 Cờ của Anh HV Glen Johnson
3 Cờ của Tây Ban Nha HV José Enrique
4 Cờ của Côte d'Ivoire HV Kolo Touré
5 Cờ của Đan Mạch HV Daniel Agger (đội phó)
6 Cờ của Tây Ban Nha Luis Alberto
7 Cờ của Uruguay Luis Suárez
8 Cờ của Anh TV Steven Gerrard (đội trưởng)
9 Cờ của Tây Ban Nha Iago Aspas
10 Cờ của Brasil TV Philippe Coutinho
12 Cờ của Nigeria Victor Moses (mượn từ Chelsea)
14 Cờ của Anh TV Jordan Henderson
15 Cờ của Anh Daniel Sturridge
16 Cờ của Uruguay HV Sebastián Coates
17 Cờ của Pháp HV Mamadou Sakho
20 Cờ của Pháp HV Aly Cissokho (mượn từ Valencia)
21 Cờ của Brasil TV Lucas Leiva
 Số áo   Vị trí Tên cầu thủ
22 Cờ của Bỉ TM Simon Mignolet
24 Cờ của Wales TV Joe Allen
26 Cờ của Bồ Đào Nha HV Tiago Ilori
31 Cờ của Anh TV Raheem Sterling
33 Cờ của Anh TV Jordon Ibe
34 Cờ của Anh HV Martin Kelly
36 Cờ của Đức Samed Yeşil
37 Cờ của Slovakia HV Martin Škrtel
38 Cờ của Anh HV Jon Flanagan
43 Cờ của Bắc Ireland HV Ryan McLaughlin
45 Cờ của Đức HV Stephen Sama
47 Cờ của Anh HV Andre Wisdom
48 Cờ của Anh Jerome Sinclair
50 Cờ của Anh Adam Morgan
51 Cờ của Wales HV Lloyd Jones
52 Cờ của Wales TM Danny Ward

Cầu thủ cho mượn[sửa | sửa mã nguồn]

 Số áo   Vị trí Tên cầu thủ
30 Cờ của Tây Ban Nha TV Suso (tại Almería đến 31 tháng 5 năm 2014)[78]
25 Cờ của Tây Ban Nha TM Pepe Reina (tại SSC Napoli đến 31 tháng 5 năm 2014)[78]
11 Cờ của Maroc Oussama Assaidi (tại Stoke City F.C. đến 31 tháng 5 năm 2014)[78]
44 Cờ của Hungary Krisztián Adorján (tại FC Groningen đến 31 tháng 5 năm 2014)[79]
64 Cờ của Anh Michael Ngoo (tại Yeovil Town đến 31 tháng 5 năm 2014)[80]
 Số áo   Vị trí Tên cầu thủ
35 Cờ của Anh TV Conor Coady (tại Sheffield United đến tháng 1 năm 2014)[81]
49 Cờ của Anh HV Jack Robinson (tại Blackpool F.C. đến tháng 1 năm 2014)[81]
29 Cờ của Ý Fabio Borini (tại Sunderland đến 31 tháng 5 năm 2014)[82]
Cờ của Bồ Đào Nha TV João Carlos Teixeira (tại Brentford đến 5 tháng 1 năm 2014)[83]
Cờ của Cộng hoà Dân chủ Congo Henoc Mukendi (tại Partick Thistle đến 1 tháng 1 năm 2014)[84]

Đội trẻ và học viện[sửa | sửa mã nguồn]

Các cầu thủ trong lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm: Danh sách các cầu thủ của câu lạc bộ LiverpoolThể loại:Cầu thủ bóng đá Liverpool F.C.

Quan chức, lãnh đạo[sửa | sửa mã nguồn]

John W. Henry
Huấn luyện viên Brendan Rodgers
Liverpool Football and Athletics Grounds Limited[85]
Liverpool Football Club
  • Giám đốc: John W. Henry, Tom Werner, Ian Ayre, David Ginsberg, Philip Nash, Michael Gordon
  • Thư ký câu lạc bộ: Ian Silvester
  • Giám đốc hoạt động: Andrew Parkinson
  • Trông coi sân bãi: Terry Forsyth
  • Quản lý sân: Ged Poynton
  • Giám đốc quan hệ và truyền thông: Matthew Baxter
Huấn luyện và nhân viên y tế[87]
  • Huấn luyện viên chính (quản lý): Brendan Rodgers
  • Trợ lý huấn luyện viên chính: Colin Pascoe
  • Huấn luyện viên đội nhất: Mike Marsh
  • Huấn luyện viên thủ môn: John Achterberg
  • Trưởng phòng tập thể hình và điều dưỡng: Ryland Morgans
  • Huấn luyện viên đội dự bị: Rodolfo Borrell

Danh sách huấn luyện viên từ ngày thành lập[sửa | sửa mã nguồn]

Số liệu được cập nhật đến ngày 16 tháng 5 năm 2012. Không tính các trận đấu giao hữu.

Tên Quốc tịch Từ Đến Số trận Thắng Hòa Bại Tỉ lệ
thắng%[A]
Thành tích Tham khảo
Barclay, W. E.W. E. Barclay
McKenna, JohnJohn McKenna
 Anh
Cờ của Ireland Ireland
01892-02-15 15 tháng 2 năm 1892 01896-08-16 16 tháng 8 năm 1896 &0000000000000127.000000127 &0000000000000077.00000077 &0000000000000020.00000020 &0000000000000030.00000030 &0000000000000060.63000060,63 1 Giải vô địch Lancashire,
2 Giải Hạng nhì Anh
[88][A]
Watson, TomTom Watson  Anh 01896-08-17 17 tháng 8 năm 1896 01915-05-06 6 tháng 5 năm 1915 &0000000000000742.000000742 &0000000000000329.000000329 &0000000000000141.000000141 &0000000000000272.000000272 &0000000000000044.34000044,34 2 Giải vô địch quốc gia,
1 Giải Hạng nhì Anh
[89]
Ashworth, DavidDavid Ashworth  Anh 01919-12-18 18 tháng 12 năm 1919 01923-02-12 12 tháng 2 năm 1923 &0000000000000139.000000139 &0000000000000070.00000070 &0000000000000040.00000040 &0000000000000029.00000029 &0000000000000050.36000050,36 1 Giải vô địch quốc gia [90]
McQueen, MattMatt McQueen  Scotland 01923-02-13 13 tháng 2 năm 1923 01928-02-15 15 tháng 2 năm 1928 &0000000000000229.000000229 &0000000000000093.00000093 &0000000000000060.00000060 &0000000000000076.00000076 &0000000000000040.61000040,61 1 Giải vô địch quốc gia [91]
Patterson, GeorgeGeorge Patterson  Anh 01928-03-07 7 tháng 3 năm 1928 01936-08-06 6 tháng 8 năm 1936 &0000000000000366.000000366 &0000000000000137.000000137 &0000000000000085.00000085 &0000000000000144.000000144 &0000000000000037.43000037,43 [92]
Kay, GeorgeGeorge Kay  Anh 01936-08-06 6 tháng 8 năm 1936 01951-01 tháng 1 năm 1951 &0000000000000357.000000357 &0000000000000142.000000142 &0000000000000093.00000093 &0000000000000122.000000122 &0000000000000039.78000039,78 1 Giải vô địch quốc gia [93]
Welsh, DonDon Welsh  Anh 01951-03-23 23 tháng 3 năm 1951 01956-05-04 4 tháng 5 năm 1956 &0000000000000232.000000232 &0000000000000081.00000081 &0000000000000058.00000058 &0000000000000093.00000093 &0000000000000034.91000034,91 [94]
Taylor, PhilPhil Taylor  Anh 01956-05 tháng 5 năm 1956 01959-11-17 17 tháng 11 năm 1959 &0000000000000150.000000150 &0000000000000076.00000076 &0000000000000032.00000032 &0000000000000042.00000042 &0000000000000050.67000050,67 [95][96]
Shankly, BillBill Shankly  Scotland 01959-12-01 1 tháng 12 năm 1959 01974-07-12 12 tháng 7 năm 1974 &0000000000000783.000000783 &0000000000000407.000000407 &0000000000000198.000000198 &0000000000000178.000000178 &0000000000000051.98000051,98 3 Giải vô địch quốc gia, 2 Cúp FA, 1 Cúp UEFA,
4 Siêu cúp Anh (2 lần đồng đoạt cúp),
1 Giải Hạng nhì Anh
[97]
Paisley, BobBob Paisley  Anh 01974-08-26 26 tháng 8 năm 1974 01983-07-01 1 tháng 7 năm 1983 &0000000000000535.000000535 &0000000000000308.000000308 &0000000000000131.000000131 &0000000000000096.00000096 &0000000000000057.57000057,57 6 Giải vô địch quốc gia,
3 Cúp C1, 1 Cúp UEFA,
3 Cúp Liên đoàn Anh,
1 Siêu cúp châu Âu, 5 Siêu cúp Anh
[98]
Fagan, JoeJoe Fagan  Anh 01983-07-01 1 tháng 7 năm 1983 01985-05-28 28 tháng 5 năm 1985 &0000000000000131.000000131 &0000000000000071.00000071 &0000000000000036.00000036 &0000000000000024.00000024 &0000000000000054.20000054,20 1 Giải vô địch quốc gia, 1 Cúp C1,
1 Cúp Liên đoàn Anh
[99]
Dalglish, KennyKenny Dalglish  Scotland 01985-05-30 30 tháng 5 năm 1985 01991-02-21 21 tháng 2 năm 1991 &0000000000000307.000000307 &0000000000000187.000000187 &0000000000000078.00000078 &0000000000000042.00000042 &0000000000000060.91000060,91 3 Giải vô địch quốc gia, 2 Cúp FA,
4 Siêu cúp Anh (2 lần đồng đoạt cúp)
[100]
Moran, RonnieRonnie Moran  Anh 01991-02-22 22 tháng 2 năm 1991 01991-04-15 15 tháng 4 năm 1991 &0000000000000010.00000010 &0000000000000004.0000004 &0000000000000001.0000001 &0000000000000005.0000005 &0000000000000040.00000040,00 [101][C]
Souness, GraemeGraeme Souness  Scotland 01991-04-16 16 tháng 4 năm 1991 01994-01-28 28 tháng 1 năm 1994 &0000000000000157.000000157 &0000000000000066.00000066 &0000000000000045.00000045 &0000000000000046.00000046 &0000000000000042.04000042,04 1 Cúp FA [102][B]
Evans, RoyRoy Evans  Anh 01994-01-31 31 tháng 1 năm 1994 01998-11-12 12 tháng 11 năm 1998 &0000000000000226.000000226 &0000000000000117.000000117 &0000000000000056.00000056 &0000000000000053.00000053 &0000000000000051.77000051,77 1 Cúp Liên đoàn Anh [103]
Evans, RoyRoy Evans
Houllier, GérardGérard Houllier
 Anh
 Pháp
01998-07-16 16 tháng 7 năm 1998 01998-11-12 12 tháng 11 năm 1998 &0000000000000018.00000018 &0000000000000007.0000007 &0000000000000006.0000006 &0000000000000005.0000005 &0000000000000038.89000038,89 [104]
Houllier, GérardGérard Houllier  Pháp 01998-11-16 16 tháng 11 năm 1998 02004-05-24 24 tháng 5 năm 2004 &0000000000000307.000000307 &0000000000000160.000000160 &0000000000000073.00000073 &0000000000000074.00000074 &0000000000000052.12000052,12 2 Cúp Liên đoàn Anh, 1 Cúp FA, 1 Cúp UEFA,
1 Siêu cúp châu Âu, 1 Siêu cúp Anh
[105][C]
Benítez, RafaelRafael Benítez  Tây Ban Nha 02004-06-16 16 tháng 6 năm 2004 02010-06-03 3 tháng 6 năm 2010 &0000000000000350.000000350 &0000000000000197.000000197 &0000000000000074.00000074 &0000000000000079.00000079 &0000000000000056.29000056,29 1 Cúp C1, 1 Cúp FA,
1 Siêu cúp châu Âu, 1 Siêu cúp Anh
[106]
Hodgson, RoyRoy Hodgson  Anh 02010-07-01 1 tháng 7 năm 2010 02011-01-08 8 tháng 1 năm 2011 &0000000000000031.00000031 &0000000000000013.00000013 &0000000000000008.0000008 &0000000000000010.00000010 &0000000000000041.94000041,94 [107]
Dalglish, KennyKenny Dalglish  Scotland 02011-01-08 8 tháng 1 năm 2011 02012-05-16 16 tháng 5 năm 2012 &0000000000000074.00000074 &0000000000000035.00000035 &0000000000000017.00000017 &0000000000000022.00000022 &0000000000000047.30000047,30 1 Cúp Liên đoàn Anh [108]

Thành tích[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Liverpool giành được 5 chức vô địch châu Âu, kỷ lục của Anh và đứng thứ 3 châu Âu sau Real MadridA.C. Milan.
  • Premier league trophy icon.png Giải vô địch quốc gia: 18
    • 1901, 1906, 1922, 1923, 1947, 1964, 1966, 1973, 1976, 1977, 1979, 1980, 1982, 1983, 1984, 1986, 1988, 1990
  • FA Cup.png Cúp FA: 7
    • 1965, 1974, 1986, 1989, 1992, 2001, 2006
  • Carling.png Cúp Liên đoàn Anh: 8*(kỉ lục)
    • 1981, 1982, 1983, 1984, 1995, 2001, 2003, 2012
  • CommunityShield.png Siêu cúp Anh: 15
    • 1964*, 1965*, 1966, 1974, 1976, 1977*, 1979, 1980, 1982, 1986*, 1988, 1989, 1990*, 2001, 2006
(* đồng đoạt cúp với một đội khác)

Những lần đoạt nhiều chức vô địch trong 1 mùa giải[sửa | sửa mã nguồn]

Lưu ý: Không tính những giải ngắn hạn như Siêu cúp AnhSiêu cúp châu Âu.

Các danh hiệu cá nhân (cầu thủ)[sửa | sửa mã nguồn]

Quả bóng vàng Châu Âu
Chiếc giày vàng châu Âu
Cầu thủ xuất sắc nhất Champions League
Cầu thủ câu lạc bộ thuộc UEFA của năm

Thống kê và các kỉ lục[sửa | sửa mã nguồn]

Cầu thủ Số trận
Ian Callaghan 857
Jamie Carragher 737
Emlyn Hughes 665
Ray Clemence 665
Ian Rush 660
Cầu thủ Số bàn
Ian Rush 346
Roger Hunt 286
Gordon Hodgson 241
Billy Liddell 228
Robbie Fowler 183

Ian Callaghan giữ thành tích là người ra sân nhiều nhất cho Liverpool với 857 trận trong 19 mùa giải, từ năm 1958 tới năm 1978; và giữ kỉ lục ra sân ở giải vô địch quốc gia với 640 lần. Cầu thủ chơi nhiều thứ nhì cho đội bóng là Jamie Carragher, với 737 lần ra sân tính đến cuối tháng 5 năm 2013.

Người ghi nhiều bàn thắng nhất cho Liverpool trong lịch sử đó là Ian Rush, người ghi 346 bàn cho đội bóng trong giai đoạn 1980–1987 và 1988–1996. Rush đồng thời giữ kỉ lục người ghi nhiều bàn nhất trong một mùa giải với thành tích 47 bàn ở mùa 1983-84. Tuy nhiên, Rush không thể vượt qua Roger Hunt về thành tích ghi bàn tại giải vô địch quốc gia cho đội bóng, hiện là 245 bàn (của Rush là 229). Trong mùa giải 1961-62, Hunt ghi 41 bàn, đó là kỉ lục của đội bóng về số bàn ghi tại giải vô địch quốc gia trong một mùa. Gordon Hodgson - người ghi nhiều bàn thứ ba trong lịch sử đội bóng với 241 bàn; ông lập được 17 hattrick - một kỷ lục của đội bóng. Số bàn thắng nhiều nhất mà một cầu thủ ghi trong một trận đấu là 5; John Miller, Andy McGuigan, John Evans, Ian RushRobbie Fowler đều đã đạt được thành tích này. Fowler cũng giữ kỉ lục của đội bóng và Giải Ngoại hạng Anh về thời gian lập một cú hattrick: ông ghi 3 bàn trong 4 phút 32 giây, trong trận gặp Arsenal mùa giải 1994-95. Steven Gerrard là cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất cho Liverpool tại đấu trường châu Âu với 38 bàn.[110]

Trận đấu chính thức đầu tiên của Liverpool là chiến thắng 8-0 tại Giải Lancashire League trước đối thủ Higher Walton.[111] Chiến thắng đậm nhất của Liverpool là 11-0 trước Strømsgodset IF vào năm 1974.[112] Trận thắng 10-1 trước Rotherham Town vào năm 1896 là trận thắng đậm nhất của họ tại giải vô địch quốc gia. Khoảng cách này được lập lại trong trận gặp Crystal Palace khi họ thắng 9-0 ở Anfield vào năm 1989. Trận thua đậm nhất của Liverpool là 1-9 trước Birmingham vào năm 1954. Chiến thắng 8-0 của Liverpool trước Beşiktaş J.K.Cúp C1 là chiến thắng đậm nhất trong lịch sử của giải đấu này.[113]

Bài hát truyền thống[sửa | sửa mã nguồn]

Lá cờ của các cổ động viên Liverpool
Bài chi tiết: You'll Never Walk Alone

Bài hát truyền thống của câu lạc bộ là "You'll Never Walk Alone" ("Bạn sẽ không bao giờ bước đi đơn độc"), vốn là một ca khúc được viết cho một vở kịch mang tên Carousel tại sân khấu kịch Broadway vào năm 1945. Oscar Hammerstein II sáng tác phần lời và Richard Rodgers sáng tác phần nhạc.

Bài hát này cũng đã được dùng cho một chương trình ca nhạc cùng tên, nhằm quyên tiền ủng hộ các nạn nhân của thảm hoạ tại sân vận động Bradford vào năm 1985. Nó cũng xuất hiện trong những đợt vận động phòng chống bệnh AIDS tại Hoa Kỳ. Bài hát thường xuyên được người hâm mộ đội Liverpool ca lên khi ủng hộ đội nhà[114] và cũng được hát phổ biến bởi cổ động viên của nhiều câu lạc bộ khác trên thế giới.[115]

Trước "You'll Never Walk Alone", bài hát truyền thống của câu lạc bộ là "Hurrah for the Reds", được sáng tác bởi W.Seddon vào ngày 31 tháng 8 năm 1907, tức 15 năm sau khi câu lạc bộ được thành lập.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Liverpool Football Club is formed”. Liverpool F.C. Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2013. 
  2. ^ “Liverpool Football Club”. Premier League. Truy cập 23/08/2011. 
  3. ^ a ă “Liverpool Football Club is formed”. Liverpool F.C. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2010. 
  4. ^ Graham (1985). tr. 14.  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  5. ^ Graham (1985). tr. 16–18.  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  6. ^ Graham (1985). tr. 20.  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  7. ^ Liversedge (1991). tr. 14.  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  8. ^ Kelly (1988). You'll Never Walk Alone. tr. 50–51. 
  9. ^ Kelly (1988). You'll Never Walk Alone. tr. 57. 
  10. ^ “1965/66: Stan the man for Dortmund”. Union of European Football Associations (UEFA). 
  11. ^ Kelly (1999). The Boot Room Boys: Inside the Anfield Boot Room. tr. 86. 
  12. ^ Pead (1986). tr. 414.  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  13. ^ Kelly (1988). You'll Never Walk Alone. tr. 157. 
  14. ^ Kelly (1988). You'll Never Walk Alone. tr. 158. 
  15. ^ Cox (2002). tr. 90.  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  16. ^ “On This Day – 29 May 1985: Fans die in Heysel rioting”. BBC. 29/05/1985. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2006. 
  17. ^ Quote from UEFA Chief Executive Lars-Christer Olsson in 2004, uefa.com
  18. ^ Kelly (1988). You'll Never Walk Alone. tr. 172. 
  19. ^ “On This Day – 15 April 1989: Soccer fans crushed at Hillsborough”. BBC. 15/04/1989. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2006. 
  20. ^ Pithers, Malcolm (22/12/1993). “Hillsborough victim died 'accidentally': Coroner says withdrawal of treatment not to blame”. The Independent. Truy cập 28/08/2010. 
  21. ^ “A hard lesson to learn”. BBC. 15/04/1999. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2006. 
  22. ^ Cowley, Jason (29/03/2009). “The night Football was reborn”. The Observer. Truy cập 23/07/2011. 
  23. ^ Liversedge (1991). tr. 104–105.  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  24. ^ Kelly (1999). The Boot Room Boys: Inside the Anfield Boot Room. tr. 227. 
  25. ^ “Houllier acclaims Euro triumph”. BBC Sport. 16/05/2001. Truy cập 24/03/2007. 
  26. ^ “Houllier 'satisfactory' after surgery”. BBC Sport. 15/10/2001. Truy cập 13/03/2007. 
  27. ^ “AC Milan 3–3 Liverpool (aet)”. BBC Sport. 25/05/2005. Truy cập 15/04/2007. 
  28. ^ “Liverpool 3–3 West Ham (aet)”. BBC Sport. 13/05/2006. Truy cập 26/08/2010. 
  29. ^ “US pair agree Liverpool takeover”. BBC Sport. 2 tháng 6 năm 2007. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2007. 
  30. ^ McNulty, Phil (23/05/2007). “AC Milan 2–1 Liverpool”. BBC Sport. Truy cập 23/05/2007. 
  31. ^ “Liverpool's top-flight record”. LFC History. Truy cập 19/08/2011. 
  32. ^ “Rafael Benitez leaves Liverpool: club statement”. The Daily Telegraph. 6 tháng 3 năm 2010. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2010. 
  33. ^ "Kenny Dalglish sacked as Liverpool manager" BBC Sport 16 May 2012 Retrieved 16 May 2012
  34. ^ “Historical LFC Kits”. Liverpool F.C. Truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2010. 
  35. ^ “Shankly: the hero who let me down”. Ian St. John's autobiography serialised in The Times (London). 9 tháng 10 năm 2005. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2006. 
  36. ^ “Back on home turf, as adidas returns to Liverpool”. adidas. Bản gốc lưu trữ 14/03/2007. Truy cập 17/03/2007. 
  37. ^ Crilly (2007). tr. 28.  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  38. ^ “Hillsborough”. Liverpool F.C. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2010. 
  39. ^ “Liverpool kit launch sparks anger among Hillsborough families”. BBC Sport. BBC. 11 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2012. 
  40. ^ Dart, James; Mark Tinklin (7 tháng 6 năm 2005). “Has a streaker ever scored?”. The Guardian. Truy cập 16/08/2007. 
  41. ^ Espinoza, Javier (5 tháng 8 năm 2009). “Carlsberg and Liverpool might part ways”. Forbes. Truy cập 23/07/2008. 
  42. ^ Liversedge (1991). tr. 112.  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  43. ^ Kelly (1988). You'll Never Walk Alone. tr. 187. 
  44. ^ Liversedge (1991). tr. 113.  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  45. ^ Kelly (1988). You'll Never Walk Alone. tr. 188. 
  46. ^ Pearce, James (23/08/2006). “How Kop tuned into glory days”. Liverpool Echo. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2008. 
  47. ^ “Liverpool unveil new stadium”. BBC Sport. 17/05/2002. Truy cập 17/03/2007. 
  48. ^ “Liverpool get go-ahead on stadium”. BBC Sport. 9 tháng 8 năm 2006. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2007. 
  49. ^ “Liverpool's stadium move granted”. BBC. 11 tháng 6 năm 2007. Truy cập 22/08/2010. 
  50. ^ Rice, Simon (6 tháng 11 năm 2009). “Manchester United top of the 25 best supported clubs in Europe”. The Independent. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2011. 
  51. ^ “Association of international branches (AIB)”. Liverpool F.C. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2011. 
  52. ^ “Asia Tour 2011”. Liverpool F.C. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2011. 
  53. ^ Smith, David (7 tháng 11 năm 2004). “The city that eclipsed the Sun”. The Guardian. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2008. 
  54. ^ Burrell, Ian (7 tháng 8 năm 2004). “An own goal? Rooney caught in crossfire between 'The Sun' and an unforgiving city”. The Independent. Truy cập 22/12/2008. 
  55. ^ “Hillsbrough Family Support Group”. Liverpool F.C. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2011. 
  56. ^ Smith, Rory (7 tháng 2 năm 2010). “Liverpool 1 Everton 0: match report”. The Daily Telegraph. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2011. 
  57. ^ Rohrer, Finlo (21/08/2007). “Scouse v Manc”. BBC. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2008. 
  58. ^ Ingle, Sean; Scott Murray (5 tháng 10 năm 2000). “Knowledge Unlimited”. The Guardian. Truy cập 26/02/2008. 
  59. ^ Liversedge (1991). tr. 108.  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  60. ^ Liversedge (1991). tr. 109.  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  61. ^ Liversedge (1991). tr. 110.  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  62. ^ Narayana, Nagesh (5 tháng 3 năm 2008). “Factbox Soccer who owns Liverpool Football Club”. Reuters. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2010. 
  63. ^ Wilson, Bill (6 tháng 2 năm 2007). “US business duo at Liverpool helm”. BBC. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2008. 
  64. ^ McNulty, Phil (20 tháng 1 năm 2008). “Liverpool braced for takeover bid”. BBC Sport. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2008. 
  65. ^ Bandini, Paolo (16 tháng 4 năm 2010). “Liverpool appoint Martin Broughton as chairman to oversee sale of club”. The Guardian. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2010. 
  66. ^ Conn, David (7 tháng 5 năm 2010). “Auditors cast doubt on future of Liverpool after losses”. The Guardian. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2010. 
  67. ^ “Liverpool takeover to go ahead as owners lose case”. ESPN. 13 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2011. 
  68. ^ “Liverpool takeover completed by US company NESV”. BBC Sport. 15 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2011. 
  69. ^ “Top 25 Football Club Brands” (PDF). Brand Finance. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2011. 
  70. ^ “Liverpool”. Forbes. 21 tháng 4 năm 2010. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2010. 
  71. ^ Wilson, Bill (10 tháng 2 năm 2011). “Real Madrid top football rich list for sixth year”. BBC. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2011. 
  72. ^ Kelly (1988). You'll Never Walk Alone. tr. 192. 
  73. ^ “The Hillsborough Tragedy”. BBC. 16/06/2000. Truy cập 23/12/2008. 
  74. ^ “Footballer Barnes for rap return”. BBC. 3 tháng 3 năm 2006. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2008. 
  75. ^ “Hillsborough's Sad Legacy”. BBC. 14/04/1999. Truy cập 23/12/2008. 
  76. ^ Ebert, Roger (18/10/2002). “Formula 51”. Chicago Sun Times. Truy cập 19/08/2011. 
  77. ^ “Scully”. BBC. 20/08/2009. Truy cập 19/08/2011. 
  78. ^ a ă â “Suso loaned to Spanish outfit”. liverpoolfc.tv. 12 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2013. 
  79. ^ “Adorjan completes Groningen loan move”. liverpoolfc.com. 26 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2013. 
  80. ^ “Ngoo loaned to Yeovil for 2013-14”. liverpoolfc.com. 10 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2013. 
  81. ^ a ă “Coady joins Blades for six months”. liverpoolfc.tv. 22 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2013. 
  82. ^ “Borini seals loan switch to Sunderland”. liverpoolfc.tv. 2 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2013. 
  83. ^ “Teixeira seals loan switch to Brentford”. liverpoolfc.com. 10 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2013. 
  84. ^ “Mukendi completes loan switch”. liverpoolfc.com. 19 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2013. 
  85. ^ “Corporate Information”. Liverpool F.C. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2011. 
  86. ^ “Billy Hogan joins Liverpool FC”. Liverpool FC. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2012. 
  87. ^ “Academy”. Liverpool F.C. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2011. 
  88. ^ “John McKenna”. LFC History. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2011. 
  89. ^ “Tom Watson”. LFC History. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2011. 
  90. ^ “David Ashworth”. LFC History. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2011. 
  91. ^ “Matt McQueen”. LFC History. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2011. 
  92. ^ “George Patterson”. LFC History. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2011. 
  93. ^ “George Kay”. LFC History. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2011. 
  94. ^ “Don Welsh”. LFC History. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2011. 
  95. ^ “Phil Taylor's managerial career”. LFChistory. Truy cập 24 09 2007. 
  96. ^ “Phil Taylor”. LFC History. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2011. 
  97. ^ “Bill Shankly”. LFC History. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2011. 
  98. ^ “Bob Paisley”. LFC History. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2011. 
  99. ^ “Joe Fagan”. LFC History. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2011. 
  100. ^ “Kenny Dalglish”. LFC History. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2011. 
  101. ^ “Ronnie Moran”. Soccerbase. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2007. 
  102. ^ “Graeme Souness”. LFC History. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2011. 
  103. ^ “Roy Evans”. LFC History. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2011. 
  104. ^ “Evans/Houllier”. LFC History. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2011. 
  105. ^ “Gérard Houllier”. LFC History. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2011. 
  106. ^ “Rafa Benitez”. LFC History. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2011. 
  107. ^ “Roy Hodgson”. LFC History. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2011. 
  108. ^ “Kenny Dalglish (2nd term)”. LFC History. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2011. 
  109. ^ a ă 2 chức vô địch bất kì trong 1 mùa giải đoạt 3 chức vô địch, như Cúp Liên đoàn bóng đá Anh và Cúp FA mùa giải 2000-01, sẽ không được tính trong phần "Đoạt 2 chức vô địch trong 1 mùa giải".
  110. ^ “Total games played per season by Jamie Carragher”. LFC history. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2008. 
  111. ^ “Anfield”. LFChistory. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2008. 
  112. ^ “Matches”. Liverpool F.C. Truy cập ngày 11 tháng 8 năm 2010. 
  113. ^ “Liverpool revived by record triumph”. UEFA. 6 tháng 11 năm 2007. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2008. 
  114. ^ You'll Never Walk Alone BBC Online. June 9, 2008.
  115. ^ “Liverpool”. Fédération Internationale de Football Association (FIFA). Truy cập 23/07/2011. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Trang web chính thức:

Trang lập bởi cổ động viên tại Việt Nam: