Liverpool (câu lạc bộ bóng đá)
| Liverpool | ||||
|---|---|---|---|---|
| Tên đầy đủ | Liverpool Football Club | |||
| Biệt danh | The Reds (Lữ đoàn Đỏ), The Kop | |||
| Thành lập | 15 tháng 3 năm 1892 | |||
| Sân vận động | Anfield | |||
| — Sức chứa | 45.522[1] | |||
| Chủ sở hữu | Fenway Sports Group | |||
| Chủ tịch | Tom Werner | |||
| Quản lý | Kenny Dalglish | |||
| Giải đấu | Giải bóng đá ngoại hạng Anh | |||
| 2010–11 | Giải bóng đá ngoại hạng Anh, đứng thứ 6 | |||
| Web | http://www.liverpoolfc.tv/ | |||
|
|
||||
Câu lạc bộ bóng đá Liverpool (Tiếng Anh:Liverpool Football Club) là một trong hai câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp nổi tiếng nhất của thành phố Liverpool, Anh (đội kia là Everton).
Từ khi thành lập vào năm 1892 đến nay, Liverpool đã 18 lần vô địch bóng đá Anh, giành được 7 cúp FA, 8 cúp Liên đoàn bóng đá Anh, 14 Siêu cúp Anh, 5 cúp các đội vô địch bóng đá quốc gia châu Âu hoặc UEFA Champions League (cúp C1), 3 cúp UEFA (cúp C3) và 3 siêu cúp bóng đá châu Âu. Chính vì bảng thành tích đáng nể này cộng với kinh nghiệm và bản lĩnh trong những trận tranh cúp mà ở Anh, Liverpool được mệnh danh là "Vua đấu cúp".
Sân vận động của đội là sân Anfield có sức chứa 45,522 người, cách trung tâm thành phố Liverpool khoảng bốn km. Liverpool đã chơi ở sân này từ khi được thành lập vào năm 1892 cho tới ngày nay.
Liverpool có một lực lượng cổ động viên hùng hậu và rất trung thành. Những kình địch lâu đời của đội bóng bao gồm câu lạc bộ cùng thành phố Everton và câu lạc bộ Manchester United. Bài hát truyền thống của câu lạc bộ là bài You'll Never Walk Alone.
Câu lạc bộ có mặt trong hai sự kiện đáng buồn của bóng đá châu Âu: Heysel năm 1985 trước trận chung kết Cúp C1, 39 cổ động viên của Juventus (đối thủ của Liverpool trong trận này) thiệt mạng khi một bức tường khán đài sập xuống và Hillsborough năm 1989 khi 96 cổ động viên Liverpool thiệt mạng vì chen lấn xô đẩy.
[sửa] Lịch sử
Liverpool F.C. được thành lập sau một cuộc tranh chấp nội bộ của Ủy ban Câu lạc bộ Everton. Câu lạc bộ Everton được thành lập và thuê sân Anfield từ năm 1884 tới 1891. Năm 1891, John Houlding, một thành viên của Ủy ban Everton và là người đứng tên hợp đồng thuê sân Anfield cùng một số thành viên khác quyết định mua lại và làm chủ sở hữu sân Anfield. Sau đó, vì có một số bất đồng với nhóm của John Houlding về vấn đề tài chính nên nên nhóm các thành viên còn lại của Câu lạc bộ Everton đành di chuyển đến một sân vận động khác là Goodison Park nằm ở phía bắc công viên Stanley. Chỉ còn lại ba cầu thủ và một sân bóng trống không, John Houlding quyết định tự thành lập cho mình một đội bóng vào ngày 15/3/1892. Câu lạc bộ Liverpool đã được thành lập và chơi tại sân Anfield đang bỏ trống. Tên ban đầu là Everton F.C. and Athletic Grounds, Ltd (hoặc Everton Athletic cho ngắn), nhưng nó đã được thay đổi thành Liverpool F.C. vào tháng 6 năm 1892 khi Liên đoàn bóng đá Anh từ chối công nhận cái tên Everton.
Đội bóng vô địch giải Lancashire League trong mùa giải đầu tiên của họ, và sau đó đã được lên chơi ở Giải bóng đá hạng nhì Anh trong mùa giải sau đó. Họ tiếp tục vô địch và được thăng hạng lên Giải bóng đá hạng nhất Anh (Hay còn được gọi là Giải vô địch quốc gia Anh - từ năm 1992 đến nay, tên chính thức là Giải bóng đá ngoại hạng Anh). Họ vô địch Giải hạng Nhất lần đầu tiên vào mùa giải 1900-01, và vô địch lần nữa vào mùa giải 1905-06. Họ vào tới trận chung kết cúp FA vào năm 1914 nhưng thua 1-0 trước Burnley. Câu lạc bộ vô địch Giải hạng Nhất hai năm liên tiếp vào các mùa giải 1921-22 và 1922-23, nhưng sau đó câu lạc bộ không vô địch danh hiệu nào tới mùa giải 1946-47 khi họ vô địch giải quốc gia lần thứ năm. Câu lạc bộ vào đến trận chung kết cúp FA vào năm 1950, nhưng thua Arsenal. Liverpool bị xuống hạng vào mùa giải 1953-54. Trong giai đoạn này họ đã phải chịu một trận thua 2-1 ở cúp FA trước đội bóng nghiệp dư Worcester City F.C. vào mùa giải 1958-59.
Không lâu sau kết quả mất mặt này, Bill Shankly được bổ nhiệm làm huấn luyện viên, lúc này Liverpool đang suy yếu, với trang thiết bị luyện tập cũ nát, đội ngũ ban huấn luyện kém cỏi. Ông đã sa thải 24 cầu thủ và thay đổi một phòng ở Anfield ban đầu được dùng để khởi động thành một phòng gọi là Boot Room mà các cầu thủ cùng huấn luyện viên có thể bàn bạc chiến thuật và uống trà. Shankly cùng các thành viên ban đầu của Boot Room gồm Joe Fagan, Reuben Bennett, và Bob Paisley bắt đầu cải tổ lại đội bóng.
Lên lại Giải hạng Nhất vào mùa giải 1961-62, và đội bóng vô địch giải này lần đầu tiên sau 17 năm vào mùa giải 1963-64. Mùa giải 1965-66 họ vô địch Giải hạng Nhất rồi đoạt được Cup FA đầu tiên. Mùa giải 1972-73 đội bóng vô địch Giải hạng Nhất, cúp UEFA và tiếp đó mùa giải 1973-74 đoạt được cúp FA. Sau thành công này, tháng 7 năm 1974, Shankly tuyên bố nghỉ hưu, ông rời đội bóng và trợ lí Bob Paisley lên thay. Paisley thậm chí còn giành được nhiều thành công hơn Shankly khi giúp đội bóng vô địch Giải hạng Nhất và cúp UEFA ngay trong mùa giải 1975-76, mùa giải thứ hai ông làm huấn luyện viên. Mùa giải sau đó 1976-77 họ bảo vệ thành công danh hiệu vô địch Giải hạng Nhất, đoạt được Cúp vô địch châu Âu (C1) lần đầu tiên trong lịch sử câu lạc bộ, nhưng thua trong trận chung kết cúp FA, bỏ lỡ cơ hội giành cú ăn ba. Mùa giải 1977-1978 Liverpool bảo vệ thành công ngôi vô địch cúp C1 và vô địch Giải hạng Nhất lần nữa với số điểm 68, chỉ để thủng lưới 16 bàn trong 42 trận. Mùa giải 1980-81 họ đoạt được Cúp Liên đoàn và Cúp C1. Trong 9 mùa giải Paisley dẫn dắt đội bóng, Liverpool vô địch 21 danh hiệu, bao gồm 3 Cup C1, một cúp UEFA, 6 chức vô địch Giải hạng Nhất và 3 Cúp liên đoàn. Danh hiệu duy nhất ông không giành được là cúp FA. Kỉ nguyên của Paisley là kỉ nguyên của các ngôi sao lớn, bao gồm Graeme Souness, Ian Rush, Alan Hansen và Kenny Dalglish.
Paisley rời băng ghế huấn luyện vào năm 1983 và (cũng giống như Shankly đã làm) để lại chiếc ghế huấn luyện cho thành viên của Boot Room, trợ lí huấn luyện viên Joe Fagan. Liverpool có được 3 danh hiệu trong mùa giải 1983-84, mùa giải đầu tiên Fagan tiếp quản gồm Giải hạng Nhất, cúp Liên Đoàn và cúp C1. Liverpool vào tới trận chung kết cúp C1 lần nữa vào ngày 29 tháng 5 năm 1985, trận gặp Juventus trên sân vận động Heysel tại thành phố Brussels, nước Bỉ. Trước khi trận đấu bắt đầu, các cổ động viên Juventus đã liên tục ném pháo sáng sang phía các cổ động viên Liverpool khiến các cổ động viên Liverpool tức giận tấn công lại họ. Kết quả là nhiều cổ động viên Juventus bị dồn vào một bức tường rồi bức tường này đổ sập, giết chết 39 người trong số họ. Trận đấu sau đó vẫn diễn ra và Liverpool thua 0-1 bởi bàn thắng penalty của Michel Platini ở phút 57. Các đội bóng Anh sau đó đã bị cấm thi đấu ở các giải đấu châu Âu trong 5 năm; Liverpool nhận mức phạt là 10 năm, sau đó được giảm xuống còn 6 năm. 14 cổ động viên Liverpool phải nhận mức án 3 năm tù cho tội ngộ sát. Thảm họa này được gọi là "Giờ đen tối nhất trong lịch sử các cuộc đấu UEFA".
Fagan từ chức sau thảm hoạ và Kenny Dalglish được bổ nhiệm trên cương vị vừa là huấn luyện viên vừa là cầu thủ. Trong quãng thời gian ông nắm quyền, đội bóng 3 lần vô địch Giải hạng Nhất và đoạt được 2 cúp FA, bao gồm một cú ăn hai vào mùa giải 1985-86. Chỉ 4 năm sau thảm họa Heysel, năm 1989, thêm một thảm họa khác liên quan đến cổ động viên của Liverpool xảy ra. Trong trận bán kết cúp FA gặp Nottingham Forest tại sân Hillsborough vào ngày 15 tháng 4 năm 1989, sân quá tải khiến nhiều người bị dồn ép vào hàng rào ngăn cách sân bóng, dẫm đạp lên nhau trong vô vọng. 94 cổ động viên đã thiệt mạng vào ngày hôm đó; bốn ngày sau số người thiệt mạng là 95 khi một cậu bé 14 tuổi qua đời; bốn năm sau tới lượt cổ động viên thứ 96 qua đời trên giường bệnh sau một thời gian dài sống thực vật. Sau thảm họa Hillsborough, chính quyền đã phải tới kiểm tra về mức độ an toàn của các sân bóng. Theo như Báo cáo Taylor (Taylor Report), lí do chính của thảm hoạ là do sự quá tải dẫn tới việc cảnh sát không thể kiểm soát được tình hình. Một luật lệ đã được ban hành và mọi sân vận động ở giải đấu vô địch nước Anh phải dỡ bỏ hàng rào ngăn cách sân bóng, các khán đài phải được phủ kín bởi ghế ngồi. Mùa giải 1988-89 cũng chứng kiến Liverpool bị mất chức vô địch Giải hạng Nhất một cách bất ngờ nhất kể từ khi giải đấu này ra đời khi mà câu lạc bộ đã mất danh hiệu bởi hiệu số bàn thắng thua vào đúng phút cuối của mùa giải trong trận thua trước nhà vô địch sau đó là Arsenal.
Ngày 22 tháng 2 năm 1991, Dalglish bất ngờ tuyên bố từ chức, người thay thế ông là Graeme Souness. Ngoại trừ chức vô địch cúp FA vào năm 1992, Souness không giành thêm được thành công nào và bị thay thế bởi cựu thành viên Boot Room Roy Evans. Evans đạt được thêm một chút thành công: chức vô địch cúp Liên đoàn vào năm 1995 là danh hiệu duy nhất của ông. Một điểm sáng nữa là chiến thắng 4-3 trước Newcastle United ở Anfield vào ngày 3 tháng 4 năm 1996 được đánh giá là trận đấu hay nhất của Giải bóng đá ngoại hạng Anh trong 10 năm. Gérard Houllier được bổ nhiệm là đồng huấn luyện viên vào mùa giải 1998-99, nhưng sau đó lên thay thế sau khi Evans từ chức vào tháng 11 năm 1998. Trong năm 2001, Liverpool giành được 5 danh hiệu trong đó có cúp FA, cúp Liên đoàn và cúp UEFA. Ở mùa giải 2001-02, mùa giải mà Houllier phải thực hiện một ca phẫu thuật mổ tim, Liverpool về đích ở vị trí thứ nhì sau Arsenal; mùa giải 2002-03, Liverpool giành được danh hiệu cuối cùng dưới thời Houllier là Cúp Liên đoàn. Trước mùa giải 2004-05, Rafael Benítez lên nắm quyền, thay thế cho Gérard Houllier.
Mùa giải 2004-05, mùa giải đầu tiên Benitez dẫn dắt, đội bóng chỉ đứng vị trí thứ 5 tại giải Giải ngoại hạng Anh nhưng lại vô địch cúp C1 bằng việc đánh bại AC Milan 3-2 trên chấm luân lưu, sau hiệp chính hoà 3-3. Mùa giải 2005-06, Liverpool đứng vị trí thứ 3 với 82 điểm - số điểm cao nhất mà họ giành được kể từ năm 1988, họ vô địch cúp FA bằng việc đánh bại West Ham United trên chấm phạt luân lưu sau khi hiệp chính kết thúc với tỉ số 3-3. Vào mùa giải 2006-07, đội bóng tìm kiếm những nguồn đầu tư mới và hai doanh nhân người Mĩ là George Gillet và Tom Hicks đã tới mua lại đội bóng với mức giá vào khoảng 218,9 triệu bảng. Mùa giải năm đó, họ cũng vào tới trận chung kết cúp C1, nhưng thua 2-1 trước AC Milan. Mùa giải 2008-09, Liverpool giành được số điểm cao nhất ở Giải ngoại hạng Anh trong lịch sử câu lạc bộ là 86 và đứng ở vị trí thứ nhì sau Manchester United. Tuy nhiên đến mùa giải 2009-2010 thì họ chỉ đứng vị trí thứ 7 Giải ngoại hạng Anh, mùa giải này được xem là trắng tay khi câu lạc bộ không đoạt bất kì danh hiệu nào và điều này là nguyên nhân chính dẫn đến sự ra đi của huấn luận viên Rafael Benitez. Trước mùa giải 2010-2011, Roy Hodgson lên nắm quyền dẫn dắt, nhưng chiến thuật của ông lại không phù hợp khiến đội bóng liên tục nằm ở nửa dưới bảng xếp hạng. Ngày 08/01/2011, Roy Hodgson rời Liverpool bằng "thoả thuận đôi bên", người thay thế ông là Kenny Dalglish. Năm 2010 đánh dấu nhiều sự kiện như việc chia tay với nhà tài trợ Carlsberg sau 18 năm gắn bó và câu lạc bộ được sở hữu bởi Fenway Sports Group.
Hiện nay đội bóng đang được tái dẫn dắt bởi Kenny Dalglish, ông đã giúp Liverpool có được danh hiệu đầu tiên sau 6 năm trống vắng danh hiệu với việc vô địch Cúp Liên đoàn.
[sửa] Màu áo và biểu trưng
Từ năm 1896 đến năm 1963, cầu thủ của Liverpool mang áo đỏ và quần trắng, nhưng được thay thế bằng trang phục đỏ (áo đỏ - quần đỏ - tất đỏ) vào năm 1964 trong thời kì Bill Shankly quản lí đội bóng.
Vào thời kì đầu, khi và đội bóng tiếp quản Anfield từ tay Everton, họ dùng màu áo của Everton là xanh và trắng. Vào năm 1896, Liverpool chọn áo đỏ, quần trắng cho đồng phục thi đấu chính thức, năm 1901 biểu tượng con chim Liverbird được chọn là biểu tượng của đội bóng. Trong gần 68 năm tiếp theo trang phục của Liverpool vẫn là là áo đỏ và quần trắng. Màu tất đã được thay đổi rất nhiều trong những năm đó từ đỏ, sang đen, tới trắng và lại trở lại đỏ. Biểu tượng Liverbird nổi tiếng đã được thêu trên ngực trái của áo đấu từ năm 1955, 1 biểu tượng cho lối chơi bóng của Liverpool F.C.
Vào năm 1964, huấn luyện viên Bill Shankly quyết định để đội bóng mặc đồng phục toàn bộ đỏ lần đầu tiên trong trận gặp R.S.C Anderlecht, và Ian St. John nói lại điều này trong cuốn tự truyện của ông. Bill Shankly nghĩ rằng màu sắc sẽ tác động tới tâm lý - màu đỏ cho nguy hiểm, màu đỏ cho sức mạnh.
“Trận đấu đối đầu với Anderlecht tại Anfield đúng là 1 đêm đáng nhớ. Chúng ta đã lần đầu tiên được mang bộ đồng phục đỏ. Christ, những cầu thủ lớn. Và chúng ta cũng chơi theo kiểu cầu thủ lớn”.[2]
Đồng phục sân khách của Liverpool được thay đổi nhiều lần trong suốt quá trình lịch sử đội bóng. Hiện nay bộ đồng phục sân khách của Liverpool được thiết kế với toàn màu đen, đồng phục phụ được thiết kế màu trắng chủ đạo xen lẫn sọc xanh đen làm gợi nhớ những năm mới thành lập đội bóng. Trang phục thi đấu được tài trợ bởi Warrior Sport bắt đầu từ mùa giải 2012-2013. Với bản hợp đồng áo đấu này, Liverpool đã trở thành đội bóng Anh kiếm tiền nhiều nhất từ việc tài trợ áo đấu. Trước đó, tài trợ trang phục là Adidas - từ năm 2006 đến năm 2012, hãng này cũng đã tài trợ trang phục trong giai đoạn 1985 - 1996. Giai đoạn 1973-1985 trang phục được tài trợ bởi Umbro; giai đoạn 1996-2006 bởi Reebok.
Liverpool là đội bóng chuyên nghiệp đầu tiên ở Anh in logo nhà tài trợ trên áo, sau khi họ đồng ý in tên của hãng Hitachi vào năm 1979. Kể từ đó họ được tài trợ bởi Crown Paints, Candy, Carlsberg và hiện nay là ngân hàng Standard Chartered. Hợp đồng với Carlsberg được kí vào năm 1992 và kết thúc vào năm 2010, là bản hợp đồng lâu nhất trong lịch sử bóng đá Anh.
Biểu trưng của Liverpool F.C. gồm hình con chim Liverbird (Biểu tượng của thành phố Liverpool), được đặt bên trong một chiếc cúp, bên trên chiếc cúp là hình cánh cổng Shankly với dòng chữ "YOU'LL NEVER WALK ALONE" (Tạm dịch là "Bạn sẽ không bao giờ đơn độc"). Hai ngọn lửa ở hai bên là những ngọn lửa bên cạnh đài tưởng niệm nạn nhân của thảm hoạ Hillsborough.
[sửa] Sân vận động
- Bài chi tiết: Anfield
Liverpool đã chơi ở sân Anfield từ khi họ được thành lập năm 1892. Anfield được xây vào năm 1884 trên mảnh đất gần công viên Stanley, và ban đầu được sử dụng bởi Everton. Họ rời khu đất vào năm 1892, rồi người chủ của Anfield, John Houlding, quyết định sẽ thành lập một đội bóng mới chơi trên sân này. Sức chứa của sân lúc đó là 20,000, mặc dù chỉ có khoảng 100 cổ động viên đến theo dõi trận đấu đầu tiên của Liverpool ở Anfield.
Năm 1906, câu lạc bộ đã thuê kiến trúc sư Archibald Leitch để thiết kế xây dựng và nâng cấp lại sân Anfield. Khán đài ở cuối sân được đổi tên thành Spion Kop đặt theo tên một ngọn đồi ở Natal, Nam Phi, ngọn đồi này là nơi diễn ra trận Spion Kop trong cuộc chiến tranh với người Nam Phi gốc Hà Lan lần thứ hai, nơi khoảng 300 người của vùng Lancashire hi sinh vào ngày 24 tháng 1 năm 1900, phần lớn trong số họ là từ Liverpool. Trong lịch sử, khán đài The Kop từng có thể chứa khoảng 28,000 chỗ ngồi và là một trong những khán đài lớn nhất thế giới. Nhiều sân vận động ở Anh đặt tên khán đài là Spion Kop, nhưng khán đài của Anfield là lớn nhất nước Anh vào thời điểm đó; nó có thể chứa nhiều khán giả hơn cả một số sân vận động. Khán đài này đã được cắt giảm số ghế ngồi để đảm bảo an toàn sau thảm hoạ Hillsborough. Nó được chuyển thành khán đài phủ kín chỗ ngồi vào năm 1994, và bị cắt giảm sức chứa xuống còn 12,390 chỗ ngồi. Hiện nay, The Kop là khán đài một tầng lớn nhất thế giới.
Khán đài Anfield Road được đặt đối diện với The Kop, và là nơi ngồi của các cổ động viên đội khách. Được xây lại vào năm 1998 với sức chứa 9,074 khán giả, đó là khán đài mới nhất ở Anfield. Hai khán đài còn lại là Main Stand có sức chứa 12,227 khán giả và Centenary Stand có sức chứa 11,762. Khán đài Main Stand là khán đài cũ nhất của Anfield, và vẫn là rộng nhất kể từ khi nó được hoàn thành vào năm 1982. Đó là nơi có phòng thay đồ của các cầu thủ và phòng bình luận, và đường hầm ra sân ở đối diện khán đài này. Khán đài Centenary Stand trước đây là khán đài Kemlyn Road, đổi tên lại như hiện nay sau khi được xây thêm một tầng và đưa vào sử dụng ngày 01 tháng 9 năm 1992 nhân kỉ niệm 100 năm ngày thành lập đội bóng. Lần sửa chữa lớn cuối cùng cho Anfield là vào năm 1998. Sức chứa của cả sân vận động là 45,522 khán giả, được đánh giá là sân vận động đạt chuẩn 4 sao của UEFA.
Do hạn chế về sức chứa của Anfield, Liverpool công bố kế hoạch di chuyển đến một sân vận động mới tại công viên Stanley vào tháng 5 năm 2002. Vào ngày 8 tháng 9 năm 2006, hội đồng thành phố chấp thuận việc xây sân vận động; họ cũng đồng ý sẽ cấp cho Liverpool quyền sử dụng khu đất ở công viên Stanley trong 999 năm. Với việc hai vị đồng chủ tịch George Gillet và Tom Hicks tiếp quản đội bóng vào tháng 2 năm 2007, bản thiết kế của sân vận động mới được thay đổi. Vào ngày tháng 11 năm 2007, bản thiết kế mới được phê chuẩn bởi hội đồng thành phố, và chuẩn bị bắt đầu vào tháng 6 năm 2008. Tập đoàn HKS được giao nhiệm vụ xây sân vận động mới. Song đã không có công trình nào được xây bởi George Gillet và Tom Hicks đã không có đủ tài chính cho dự án này. Hiện nay ban lãnh đạo câu lạc bộ đang mâu thuẫn trong việc quyết định nên xây mới Stanley Park hay nâng cấp Anfield.
[sửa] Khu tập luyện
Melwood ở phía tây Derby đã trở thành sân tập của Liverpool từ năm 1950. Nó không liên quan tới Học viện Kirkby. Khu đất này trước đây của trường học địa phương St Francis Xavier.
[sửa] Cổ động viên
Liverpool là một trong những câu lạc bộ sở hữu cổ động viên trung thành nhất trên thế giới, trung bình lượng cổ động viên tới sân thuộc hàng cao nhất Châu Âu.[3] Câu lạc bộ có hơn 200 hội cổ động viên chính thức ở hơn 30 quốc gia trên thế giới được Hiệp hội các chi nhánh quốc tế (Association of International Branches) công nhận.[4] Với lợi thế lượng cổ động viên đông đảo, Liverpool thường xuyên tổ chức các tour du đấu quốc tế vào mùa hè.[5] Cổ động viên Liverpool thường thích tự gọi họ là những "Kopites", điều này để nói tới những fan lúc đứng, lúc lại ngồi trên khán đài The Kop.
Bài hát "You'll Never Walk Alone", ban đầu xuất hiện trong vở kịch Carousel, được thu âm sau đó bởi nhạc sĩ Gerry & The Pacemakers, và được cổ động viên hát lên ở sân Anfield từ đầu những năm 1960. Đó là bài hát của các cổ động viên nổi tiếng nhất thế giới. Tên bài hát được viết trên cổng Shankly, được dựng lên vào ngày 2 tháng 8 năm 1982 để tưởng nhớ cựu huấn luyện viên huyền thoại Bill Shankly. Hàng chữ "You'll Never Walk Alone" trên cánh cổng Shankly cũng là tiêu ngữ của đội bóng.
Cổ động viên của câu lạc bộ cũng từng tham gia vào những sự kiện đáng quên. Đầu tiên là thảm hoạ Heysel xảy ra vào năm 1985 khi 39 cổ động viên của Juventus bị thiệt mạng. Họ đã bị các cổ động viên Liverpool dồn vào một bức tường, dưới sức ép của nhiều người, bức tường đổ sập. Vì những hành động đó, Liverpool đã bị UEFA cấm thi đấu ở các giải đấu châu Âu trong 6 năm. 27 người đã bị bắt giữ, phần lớn trong số này tới từ Merseyside, một số người đã từng tham gia vào những vụ bạo lực bóng đá. Vào năm 1989, sau 5 tháng điều tra ở Bỉ, 14 cổ động viên Liverpool đã phải nhận mức án 3 năm tù.
Sự kiện đáng buồn thứ hai là trong trận bán kết cúp FA vào ngày 15 tháng 4 năm 1989 giữa Liverpool và Nottingham Forest tại sân Hillsborough của đội Sheffield Wednesday ở Sheffield. Tổng cộng 96 người thiệt mạng và 766 người bị thương (tất cả đều là cổ động viên của Câu lạc bộ Liverpool) do bị giẫm đạp và đây được biết tới là thảm hoạ Hillsborough. Bốn ngày sau thảm họa, tờ báo The Sun trong một bài viết mang tiêu đề "Sự thật" đã tố cáo các cổ động viên Liverpool cướp bóc, tấn công cảnh sát và cả nhân viên cứu hộ khi họ đang cố gắng cứu sống các nạn nhân. Điều tra sau đó đã chứng minh những cáo buộc này là sai lầm và điều này đã dẫn đến một cuộc tẩy chay của toàn thành phố đối với tờ báo. Biên tập viên của báo The Sun là Kelvin MacKenzie đã phải xin lỗi công chúng. Nhiều tổ chức đã được thiết lập như là một kết quả của thảm hoạ, như Chiến dịch Tư pháp Hillsborough, đại diện cho các gia đình có người chết, người sống sót và những người ủng hộ, những người vận động cho công lý cho 96 người chết vì thảm họa ở Sheffield ngày 15 tháng 4 năm 1989.
[sửa] Kình địch
Đối thủ truyền kiếp của Liveprool đó là đội bóng hàng xóm Everton, đối thủ của họ trong những trận derby Merseyside. Điều này bắt nguồn từ những tranh chấp của ban lãnh đạo Everton và các ông chủ của Anfield. Những trận derby Merseyside luôn được bán hết vé. Các trận derby này có tổng số thẻ đỏ nhiều nhất trong lịch sử giải Ngoại hạng Anh và được đánh giá "Những trận đấu vô kỷ luật và bùng nổ nhất của Giải bóng đá ngoại hạng Anh".[6] Đây là một trong số ít những trận "Derby thân thiện" ("friendly derby") vì không bắt buộc tách hai nhóm cổ động viên hai đội ra.
Liverpool cũng có mối thù với Manchester United, nguyên nhân của điều này chủ yếu do những thành công của hai đội bóng và sự cạnh tranh thương mại giữa hai thành phố Liverpool và Manchester. Sự kình địch giữa 2 câu lạc bộ tăng lên từ những năm 1960, tuy Liverpool là đội bóng Anh đoạt nhiều Cup vô địch châu Âu (C1) nhất nhưng Manchester United lại là đội bóng Anh đoạt Cup vô địch châu Âu sớm nhất (vào năm 1968), Manchester United cũng bắt đầu thống trị bóng đá Anh trong những năm 1990. Sự thù địch lớn đến nỗi cầu thủ cuối cùng được chuyển giao giữa hai câu lạc bộ là Phil Chisnall, người chuyển đến Liverpool từ Manchester United vào năm 1964. Những trận đối đầu với Manchester United được cổ động viên Liverpool quan tâm hơn so với những trận đối đầu với Everton.
[sửa] Sở hữu và tài chính
Liverpool được sử hữu bởi Fenway Sports Group (FSG) chính thức từ ngày 15 tháng 10 năm 2010, FSG là một tập đoàn thể thao của Hoa Kỳ được đứng đầu bởi John W.Henry. FSG sở hữu Liverpool từ một thương vụ mua bán gây tranh cãi vì Ủy ban câu lạc bộ đã tự ý đẩy hai ông chủ cũ là Hick và Gillete ra đi rồi bán câu lạc bộ cho FSG (Tên lúc đó là New England Sports Ventures), một số phiên tòa đã diễn ra để giải quyết việc hai ông chủ cũ kiện Câu lạc bộ nhưng việc mua bán vẫn được hoàn tất vào ngày 15 tháng 10 năm 2010. Số tiền mà FSG đã bỏ ra để nắm quyền sở hữu là 300 triệu bảng Anh, theo Hick và Gillete thì số tiền này thấp hơn mức giá trị thực của câu lạc bộ nhưng các cổ động viên của Liverpool đều hài lòng với việc có ông chủ mới.
Liverpool được xem như là một thương hiệu toàn cầu, được đánh giá hạng AA (Rất mạnh).[7] Trong tháng 4 năm 2010 tạp chí Forbes xếp hạng Liverpool là đội bóng có giá trị thứ 6 thế giới, sau Manchester United, Real Madrid, Arsenal, Barcelona và Bayern Munich, giá trị câu lạc bộ vào khoảng 832 triệu $, không bao gồm nợ.[8] Kế toán Deloitte xếp Liverpool ở vị trí thứ tám trong Deloitte Football Money League, xếp hạng các câu lạc bộ bóng đá của thế giới về doanh thu. Liverpool kiếm được thu nhập 225,3 triệu € trong mùa giải 2009-10.[9]
[sửa] Câu lạc bộ Liverpool đối với văn hoá
Là một trong những đội bóng thành công nhất trong lịch sử bóng đá Anh, Liverpool là hình tượng trong đời sống văn hoá của Anh khi nói về bóng đá và xuất hiện trong nhiều sự kiện đặc biệt của truyền thông. Đội bóng xuất hiện trong số ra đầu tiên của chương trình "Trận đấu của ngày" trên BBC, nói đến trận đấu với Arsenal ở Anfield vào ngày 22 tháng 4 năm 1964. Liverpool cũng xuất hiện trong buổi truyền hình bóng đá trên vô tuyến màu đầu tiên, đó là lần truyền hình trực tiếp trận gặp West Ham United. Các cổ động viên Liverpool đã được ban nhạc Pink Floyd nhắc đến trong bài hát "Fearless", bài hát cũng trích một đoạn từ bài "You'll Never Walk Alone". Liverpool cho ra mắt bài hát với tên gọi "Anfield Rap" vào dịp trước trận chung kết Cúp FA gặp Wimbledon năm 1988, trong bài này John Barnes đã trình diễn rap cùng một số thành viên khác trong đội hình xuất phát.
Một bộ phim tài liệu về thảm hoạ Hillsborough, viết bởi Jimmy McGovern đã được trình chiếu vào năm 1996. Diễn viên Christopher Eccleston đã vào vai Trevor Hicks, tâm điểm của những câu truyện được kể lại. Hicks, người đã mất hai cô con gái trong thảm hoạ, đã tham gia vào các hoạt động làm cho những sân vận động an toàn hơn và giúp đỡ những gia đình có người thân thiệt mạng trong thảm hoạ Hillsborough. Câu lạc bộ đã xuất hiện trong bộ phim The 51st State (hoặc có cái tên Formula 51). Felix DeSouza (Robert Carlyle) là một cổ động viên nhiệt thành của đội bóng và cảnh cuối cùng của bộ phim được thực hiện trong một trận đấu giữa Liverpool và Manchester United. Đội bóng cũng xuất hiện trong một chương trình dành cho trẻ em có tên gọi Scully; nội dung xoay quanh một cậu bé, Francis Scully, người cố gắng để được đá thử một trận cùng Liverpool. Một số người nổi tiếng của Liverpool như Kenny Dalglish đã xuất hiện trong chương trình.
[sửa] Thống kê và các kỉ lục
Trận đấu chính thức đầu tiên của Liverpool là chiến thắng 8-0 ở giải Lancashire League trước đối thủ Higher Walton. Ian Callaghan giữ thành tích là người ra sân nhiều nhất cho Liverpool tới 857 trận trong 19 mùa giải từ 1958 tới 1978 và giữ kỉ lục ra sân ở giải vô địch quốc gia với 640 lần. Ở đội hình hiện tại, Jamie Carragher là người ra sân nhiều nhất; anh chơi trận thứ 500 cho đội bóng vào đầu năm 2008.
Người ghi nhiều bàn thắng nhất cho Liverpool trong lịch sử đó là Ian Rush, người ghi 346 bàn cho đội bóng từ năm 1980 tới 1987 và từ 1988 tới 1996. Rush giữ kỉ lục là người ghi nhiều bàn nhất trong một mùa giải với thành tích 47 bàn ở mùa giải 1983-84. Tuy nhiên, trong suốt sự nghiệp, Rush không thể vượt qua Roger Hunt về thành tích ghi bàn ở giải vô địch quốc gia, hiện là 245 bàn từ năm 1970. Ở mùa giải 1961-62, Hunt ghi 41 bàn, đó là kỉ lục của đội bóng về số bàn ghi ở giải vô địch quốc gia trong một mùa giải. Gordon Hodgson, cầu thủ ghi nhiều bàn thứ ba trong lịch sử đội bóng với 240 bàn; ông lập được 17 hattrick, một kỷ lục của đội bóng. Số bàn thắng nhiều nhất mà một cầu thủ ghi trong một trận đấu là 5; John Miller, Andy McGuigan, John Evans, Ian Rush và Robbie Fowler đều đã đạt được thành tích này. Fowler cũng giữ kỉ lục của đội bóng và giải Ngoại hạng Anh về thời gian lập một cú hattrick: anh ghi 3 bàn trong 4 phút 32 giây, trong trận gặp Arsenal ở mùa giải 1994-95. Steven Gerrard là cầu thủ ghi nhiều bàn nhất cho Liverpool ở cúp C1 với 29 bàn.
Chiến thắng đậm nhất của Liverpool là 11-0 trước Strømsgodset IF vào năm 1974. Trận thắng 10-1 trước Rotherham Town vào năm 1896 là trận thắng đậm nhất của họ ở giải vô địch quốc gia. Khoảng cách này được lập lại trong trận gặp Crystal Palace khi họ thắng 9-0 ở Anfield vào năm 1989. Trận thua đậm nhất của Liverpool là 1-9 trước Birmingham vào năm 1954. Chiến thắng 8-0 của Liverpool trước Beşiktaş J.K. ở cúp C1 là chiến thắng đậm nhất trong lịch sử của giải đấu này.
[sửa] Đội hình
[sửa] Đội hình chính
- Số liệu thống kê chính xác tới 29 tháng chín 2011.[10]
|
|
[sửa] Cho mượn
|
[sửa] Các cầu thủ trong lịch sử
Xem thêm: Danh sách các cầu thủ Liverpool F.C. và Thể loại:Cầu thủ bóng đá Liverpool F.C.
[sửa] Đội trẻ và học viện
[sửa] Quan chức câu lạc bộ
- Chủ sở hữu: Fenway Sports Group
- Chủ tịch danh dự: David Moores
- Liverpool Football and Athletics Grounds Limited[11]
- Chính chủ sở hữu: John W. Henry
- Chủ tịch: Tom Werner
- Phó chủ tịch: David Ginsberg
- Giám đốc quản lý: Ian Ayre
- Trưởng giám đốc tài chính: Philip Nash
- Liverpool Football Club
- Giám đốc: John W. Henry, Tom Werner, David Ginsberg, Ian Ayre, Philip Nash, Michael Gordon, Jeffrey Vinik
- Giám đốc thể thao: Damien Comolli
- Thư ký câu lạc bộ: Ian Silvester
- Giám đốc hoạt động: Andrew Parkinson
- Trông coi sân bãi: Terry Forsyth
- Quản lý sân: Ged Poynton
- Giám đốc báo chí: Ian Cotton
- Huấn luyện và nhân viên y tế[12]
- Quản lý: Kenny Dalglish
- Huấn luận viên đội nhất: Steve Clarke, Kevin Keen
- Huấn luận viên thủ môn: John Achterberg
- Trưởng phòng tập thể hình và điều dưỡng: Darren Burgess
- Huấn luận viên đội dự bị: Rodolfo Borrell
[sửa] Huấn luyện viên
Số liệu được cập nhật đến ngày 8 tháng 1 năm 2011. Không tính các trận đấu giao hữu.
| Tên | Quốc tịch | Từ | Đến | Số trận | Thắng | Hòa | Bại | Tỉ lệ thắng%[A] |
Thành tích | Ghi chú |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| W. E. Barclay John McKenna |
15 tháng 2 năm 1892 | 16 tháng 8 năm 1896 | 131 | 80 | 20 | 31 | 61,07 | 1 Lancashire League championship, 2 Giải hạng nhì Anh |
[13][B] | |
| Tom Watson | 17 tháng 8 năm 1896 | 6 tháng 5 năm 1915 | 742 | 329 | 141 | 272 | 44,34 | 2 Giải vô địch quốc gia | [14] | |
| David Ashworth | 18 tháng 12 năm 1919 | 12 tháng 2 năm 1923 | 138 | 70 | 40 | 28 | 50,72 | 1 Giải vô địch quốc gia | [15] | |
| Matt McQueen | 13 tháng 2 năm 1923 | 15 tháng 2 năm 1928 | 229 | 93 | 60 | 76 | 40,61 | 1 Giải vô địch quốc gia | [16] | |
| George Patterson | 7 tháng 3 năm 1928 | 6 tháng 8 năm 1936 | 366 | 137 | 85 | 144 | 37,43 | [17] | ||
| George Kay | 6 tháng 8 năm 1936 | tháng 1 năm 1951 | 357 | 142 | 93 | 122 | 39,78 | 1 Giải vô địch quốc gia | [18] | |
| Don Welsh | 23 tháng 3 năm 1951 | 4 tháng 5 năm 1956 | 232 | 81 | 58 | 93 | 34,91 | [19] | ||
| Phil Taylor | tháng 5 năm 1956 | 17 tháng 11 năm 1959 | 150 | 76 | 32 | 42 | 50,67 | [20][21] | ||
| Bill Shankly | 1 tháng 12 năm 1959 | 12 tháng 7 năm 1974 | 783 | 407 | 198 | 178 | 51,98 | 3 Giải vô địch quốc gia, 2 Cúp FA, 1 Cúp UEFA, 4 Siêu cúp Anh (2 lần đồng đoạt cúp) |
[22] | |
| Bob Paisley | 26 tháng 8 năm 1974 | 1 tháng 7 năm 1983 | 535 | 307 | 132 | 96 | 57,38 | 6 Giải vô địch quốc gia, 5 Siêu cúp Anh, 3 Cúp Liên đoàn bóng đá Anh, 3 Cúp C1, 1 Siêu cúp bóng đá châu Âu, 1 Cúp UEFA |
[23] | |
| Joe Fagan | 1 tháng 7 năm 1983 | 28 tháng 5 năm 1985 | 131 | 70 | 37 | 24 | 53,44 | 1 Giải vô địch quốc gia, 1 Cúp C1, 1 Cúp Liên đoàn bóng đá Anh |
[24] | |
| Kenny Dalglish | 30 tháng 5 năm 1985 | 21 tháng 2 năm 1991 | 307 | 187 | 78 | 42 | 60,91 | 3 Giải vô địch quốc gia, 2 Cúp FA, 4 Siêu cúp Anh (2 lần đồng đoạt cúp) |
[25] | |
| Ronnie Moran | 22 tháng 2 năm 1991 | 15 tháng 4 năm 1991 | 10 | 4 | 1 | 5 | 40,00 | [26][C] | ||
| Graeme Souness | 16 tháng 4 năm 1991 | 28 tháng 1 năm 1994 | 157 | 65 | 47 | 45 | 41,40 | 1 Cúp FA | [27] | |
| Roy Evans | 31 tháng 1 năm 1994 | 16 tháng 7 năm 1998 | 226 | 116 | 57 | 53 | 51,33 | 1 Cúp Liên đoàn bóng đá Anh | [28] | |
| Roy Evans Gérard Houllier |
16 tháng 7 năm 1998 | 12 tháng 11 năm 1998 | 18 | 7 | 6 | 5 | 38,89 | [29][D] | ||
| Gérard Houllier | 12 tháng 11 năm 1998 | 24 tháng 5 năm 2004 | 307 | 158 | 75 | 74 | 51,47 | 2 Cúp Liên đoàn bóng đá Anh, 1 Cúp FA, 1 Cúp UEFA, 1 Siêu cúp bóng đá châu Âu, 1 Siêu cúp Anh |
[30][E] | |
| Rafael Benítez | 16 tháng 6 năm 2004 | 3 tháng 6 năm 2010 | 328 | 183 | 73 | 72 | 55,79 | 1 Cúp C1, 1 Cúp FA, 1 Siêu cúp bóng đá châu Âu, 1 Siêu cúp Anh |
[31] | |
| Roy Hodgson | 1 tháng 7 năm 2010 | 8 tháng 1 năm 2011 | 31 | 13 | 9 | 9 | 41,94 | |||
| Kenny Dalglish | 8 tháng 1 năm 2011 | nay | — | 1 Cúp Liên đoàn bóng đá Anh |
[sửa] Tóm tắt hoạt động
| Tóm tắt lịch sử Liverpool F.C. | ||
|---|---|---|
|
|
|
[sửa] Thành tích
[sửa] Câu lạc bộ
- Giải vô địch quốc gia: 18
- 1901, 1906, 1922, 1923, 1947, 1964, 1966, 1973, 1976, 1977
- 1979, 1980, 1982, 1983, 1984, 1986, 1988, 1990
- Cúp FA: 7
- 1965, 1974, 1986, 1989, 1992, 2001, 2006
- Cúp Liên đoàn bóng đá Anh: 8
- 1981, 1982, 1983, 1984, 1995, 2001, 2003, 2012
- Siêu cúp Anh: 15
- 1964*, 1965*, 1966, 1974, 1976, 1977*, 1979, 1980, 1982, 1986*
- 1988, 1989, 1990*, 2001, 2006
-
-
- (* đồng đoạt cúp)
-
- Cúp C1: 5
- 1977, 1978, 1981, 1984, 2005
- Cúp UEFA/Cúp C3: 3
- 1973, 1976, 2001
- Siêu cúp bóng đá châu Âu: 3
- 1977, 2001, 2005
[sửa] Những lần đoạt nhiều chức vô địch trong 1 mùa giải
Lưu ý: Những giải ngắn hạn như Siêu cúp Anh và siêu cúp bóng đá châu Âu không được tính.
- Đoạt 2 chức vô địch trong 1 mùa giải:[32]
- Giải vô địch quốc gia và Cúp FA: 1
- 1985–86
- Giải vô địch quốc gia và Cúp Liên đoàn bóng đá Anh: 2
- 1981–82, 1982–83
- Giải vô địch quốc gia và Cúp C1: 1
- 1976–77
- Giải vô địch quốc gia và Cúp UEFA/Cúp C3: 2
- 1972–73, 1975–76
- Cúp Liên đoàn bóng đá Anh và Cúp C1: 1
- 1980–81
- Giải vô địch quốc gia và Cúp FA: 1
- Đoạt 3 chức vô địch trong 1 mùa giải:[32]
- Giải vô địch quốc gia, Cúp Liên đoàn bóng đá Anh và Cúp C1: 1
- 1983–84
- Cúp FA, Cúp Liên đoàn bóng đá Anh và Cúp UEFA/Cúp C3: 1
- 2000–01
- Giải vô địch quốc gia, Cúp Liên đoàn bóng đá Anh và Cúp C1: 1
[sửa] Các danh hiệu cá nhân
Michael Owen:2001
Ian Rush (32 bàn thắng):1984
Steven Gerrard:2005
[sửa] Bài hát truyền thống
Bài hát truyền thống của câu lạc bộ là You'll Never Walk Alone ("Bạn sẽ không bao giờ đơn độc"), vốn là một ca khúc được viết cho một vở kịch mang tên Carousel tại sân khấu kịch Broadway vào năm 1945. Oscar Hammerstein II sáng tác phần lời và Richard Rodgers sáng tác phần nhạc. Bài hát này cũng đã được dùng cho một chương trình ca nhạc cùng tên, nhằm quyên tiền ủng hộ các nạn nhân của thảm hoạ tại sân vận động Bradford vào năm 1985. Ca khúc này cũng xuất hiện trong những đợt vận động phòng chống bệnh AIDS tại Hoa Kỳ. Bài hát thường xuyên được người hâm mộ đội Liverpool và người dân thành phố Liverpool ca lên khi ủng hộ đội nhà.
Trước "You'll Never Walk Alone", bài hát truyền thống của câu lạc bộ là bài "Hurrah for the Reds", được sáng tác bởi W.Seddon vào ngày 31/8/1907, 15 năm sau khi CLB được thành lập.
[sửa] Ghi chú
- ^ “Liverpool Football Club”. Premier League. Truy cập 23 tháng 8 năm 2011.
- ^ “Shankly: the hero who let me down”, Ian St. John's autobiography serialised in The Times, 9 tháng 10 năm 2005. Truy cập 12 tháng 9 năm 2006.
- ^ Rice, Simon. “Manchester United top of the 25 best supported clubs in Europe”, The Independent, 6 tháng 11 năm 2009. Truy cập 6 tháng 8 năm 2011.
- ^ “Association of international branches (AIB)”. Liverpool F.C. Truy cập 6 tháng 8 năm 2011.
- ^ “Asia Tour 2011”. Liverpool F.C. Truy cập 6 tháng 8 năm 2011.
- ^ Smith, Rory. “Liverpool 1 Everton 0: match report”, The Daily Telegraph, 7 tháng 2 năm 2010. Truy cập 20 tháng 7 năm 2011.
- ^ “Top 25 Football Club Brands” định dạng (PDF). Brand Finance. Truy cập 7 tháng 8 năm 2011.
- ^ “Liverpool”, Forbes, 21 tháng 4 năm 2010. Truy cập 8 tháng 8 năm 2010.
- ^ Wilson, Bill. “Real Madrid top football rich list for sixth year”, BBC, 10 tháng 2 năm 2011. Truy cập 22 tháng 7 năm 2011.
- ^ “First Team”. Liverpool F.C. Truy cập 31 tháng 8 năm 2010.
- ^ “Corporate Information”. Liverpool F.C. Truy cập 2 tháng 7 năm 2011.
- ^ “Academy”. Liverpool F.C. Truy cập 20 tháng 7 năm 2011.
- ^ “John McKenna's managerial career”. LFChistory. Truy cập 3 10 2007.
- ^ “Tom Watson's managerial career”. LFChistory. Truy cập 3 10 2007.
- ^ “David Ashworth's managerial career”. LFChistory. Truy cập 2 10 2007.
- ^ “Matt McQueen's managerial career”. LFChistory. Truy cập 3 10 2007.
- ^ “George Patterson's managerial career”. LFChistory. Truy cập 3 10 2007.
- ^ “George Kay's managerial career”. LFChistory. Truy cập 3 10 2007.
- ^ “Don Welsh's managerial career”. LFChistory. Truy cập 2 10 2007.
- ^ “Phil Taylor's managerial career”. LFChistory. Truy cập 24 09 2007.
- ^ Pead, Brian. Liverpool A complete record 1892-1986. Breedon Books Sport. ISBN 0-907969-15-1.
- ^ “Bill Shankly's managerial career”. LFChistory. Truy cập 3 10 2007.
- ^ “Bob Paisley's managerial career”. LFChistory. Truy cập 3 10 2007.
- ^ “Joe Fagan's managerial career”. LFChistory. Truy cập 3 10 2007.
- ^ “Kenny Dalglish's managerial career”. LFChistory. Truy cập 3 10 2007.
- ^ “Ronnie Moran's managerial career”. Soccerbase. Truy cập 24 09 2007.
- ^ “Graeme Souness's managerial career”. Soccerbase. Truy cập 24 09 2007.
- ^ “Roy Evans's managerial career”. Soccerbase. Truy cập 24 09 2007.
- ^ “Gerard Houllier's managerial career”. Soccerbase. Truy cập 24 09 2007.
- ^ “Gérard Houllier's managerial career”. LFChistory. Truy cập 3 10 2007.
- ^ “Rafael Benitez's managerial career”. LFChistory. Truy cập 3 10 2007.
- ^ a b Doubles won in conjunction with the treble such as a FA Cup and League Cup double in 2001, are not included in the Doubles section.
[sửa] Liên kết ngoài
| Wikimedia Commons có thêm thể loại hình ảnh và tài liệu về: Liverpool (câu lạc bộ bóng đá). |
Trang web chính thức:
Trang lập bởi cổ động viên tại Việt Nam:
- Hội những cổ động viên của LiverpoolFC tại Việt Nam
- Diễn đàn The Kop Việt Nam
- LiverpoolFC Vietnam Community
|
|||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
|||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| Hiệp hội bóng đá Anh (FA) - Đội tuyển Anh Giải ngoại hạng- Giải hạng nhất- Cúp FA- Cúp Liên đoàn- Siêu cúp
|
|||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||