Loạn An Sử
Loạn An Sử (An Sử chi loạn, chữ Hán: 安史之亂) là một cuộc phản loạn quy mô lớn xảy ra từ năm 755 đến năm 763, trong thời vua Huyền Tông, Túc Tông và Đại Tông nhà Đường. Cầm đầu cuộc phản loạn này là An Lộc Sơn (vốn là một Tiết độ sứ của triều đình) và thuộc hạ là Sử Tư Minh.
Mục lục |
An Lộc Sơn [sửa]
An Lộc Sơn (安祿山) tên thật là An Rokhan, người dân tộc Túc Đặc (một tộc người Tajik). An xuất thân từ một gia đình thương nhân có nguồn gốc từ Bukhara (Sogdiana) đến sinh sống và làm ăn ở vùng đất mà nay là Ürümqi (tên Hán là 烏魯木齊), thủ phủ tỉnh Tân Cương, miền Tây Bắc Trung Quốc. Lộc Sơn nguyên mang họ Khang, nhưng sau đó bà mẹ cải giá với người họ An nên lấy họ An. Lộc Sơn là phiên âm tiếng Hán của chữ Lushi, theo tiếng bản tộc có nghĩa là "ánh sáng".
An Lộc Sơn bị kết án tử hình vì tội ăn cắp, bỏ trốn và gia nhập quân đội nhà Đường. Nhờ có thành tích xuất sắc trong chiến đấu ở vùng Tây Bắc, đặc biệt là trong việc chống lại quân Khiết Đan, ông được phong đến chức Tiết độ sứ vào năm 742.
Trước khi làm phản, An được phong làm tiết độ sứ của những ba vùng, được Đường Huyền Tông và Dương Quý Phi yêu mến. Huyền Tông nhận Lộc Sơn làm con nuôi. Lộc Sơn lén ra vào cung cấm tư thông với Dương Quý Phi và gọi bằng "mẹ" để che mắt Huyền Tông.
Huyền Tông không hề hay biết, vẫn hết sức tin tưởng Lộc Sơn. Lộc Sơn to béo, bụng phệ, Huyền Tông hỏi vì sao bụng lại to như vậy, Lộc Sơn khúm núm tâu rằng:
- Bụng thần chứa chất lòng trung với bệ hạ nên to như vậy.
Huyền Tông nghe nói rất bằng lòng, càng tin vào Lộc Sơn hơn.
Nguyên nhân phản loạn [sửa]
An Lộc Sơn có mâu thuẫn với Dương Quốc Trung (楊國忠), anh của Dương Quý Phi. Sợ bị Dương trấn áp, An Lộc Sơn nghe theo lời của Sử Tư Minh (đồng hương, bạn thân và đồng thời là thuộc hạ) làm loạn, khởi 15 vạn binh từ Ngư Dương, đánh xuống phía nam.
Khi tin báo An Lộc Sơn làm phản báo về, Đường Huyền Tông ban đầu không tin vì lòng trung của Lộc Sơn. Mặt khác, chính Lộc Sơn cũng thông gia với Huyền Tông, có 1 con trai còn ở kinh thành để làm con tin.
Mãi sau vua Đường mới biết là sự thật, bèn hạ lệnh giết chết phò mã - con trai Lộc Sơn.
Diễn biến [sửa]
An Lộc Sơn chiếm ưu thế [sửa]
Cuối năm 755, An Lộc Sơn và Sử Tư Minh làm phản. An Lộc Sơn xưng là Thánh Vũ Hoàng đế, đặt quốc hiệu là Yên. An Lộc Sơn có tất cả 15 vạn quân, từ Phạm Dương (nay ở Tây nam Bắc Kinh) kéo về Nam, không gặp kháng cự đáng kể vì quân đội các châu quận sau một thế kỉ hòa bình đã sup sụp ý chí. Bằng năng lực và kinh nghiệm quân sự cộng với lực lượng trong tay hùng mạnh, quân Yên làm chủ chiến trường phía đông, chiếm Hà Bắc, Hà Nam, hãm thành Lạc Dương.
Nhà Đường vội vã mộ 6 vạn quân để giữ Lạc Dương, nhưng quân mới đều là dân lưu lạc không được huấn luyện nên nhanh chóng bị Lộc Sơn đánh bại. Mùa hè năm 756, An Lộc Sơn đánh vào Lạc Dương. Nhiều thành trì phía đông lọt vào tay Lộc Sơn.
Lộc Sơn mang quân tiến về phía tây, đánh kinh thành Trường An, án binh lại trước cửa Đồng Quan vì gặp đạo quân của Kha Thư Hàn án ngữ.
Trong lúc các tướng Quách Tử Nghi, Lý Quang Bật đang đánh mạnh và giành lại quyền chủ động ở phía đông, An Lộc Sơn cũng bế tắc trước ải Đồng Quan thì Đường Huyền Tông lại mắc sai lầm, bắt Kha Thư Hàn ra quân, trong khi tướng này muốn cố thủ để chờ quân của Tử Nghi và Quang Bật đánh về. Bị thúc ép quá, Thư Hàn đành ra quân và bị Lộc Sơn đánh tan rã. 20 vạn quân Đường bị giết, quân Lộc Sơn ồ ạt tiến vào Tràng An.
Đường Huyền Tông cùng thừa tướng Dương Quốc Trung hốt hoảng, cùng Dương Quý phi với 1.000 cấm binh bỏ Trường An rút về đất Thục (蜀, nay là Tứ Xuyên). Trong khi quân sĩ đói rét thì gia đình Quốc Trung vẫn ăn trên ngồi chốc. Quân sĩ khởi loạn, giết chết Quốc Trung và ép Huyền Tông phải giết Dương Quý Phi, nếu không sẽ không hộ giá nữa. Đường cùng, Huyền Tông buộc phải nghe theo, mang Qúy phi thắt cổ ở gò Mã Ngôi.
Lúc đó các tướng sĩ mới đồng ý đi tiếp. Không ngờ dân chúng dọc đường đột nhiên chặn phía trước, viết bốn chữ "Cung điện lăng tẩm" để trách Đường Huyền Tông, đồng thời bao vây Đường Huyền Tông và thái tử yêu cầu họ phải ở lại quyết chiến với phản quân. Đường Huyền Tông vì muốn nhanh chóng thoát thân nên hạ lệnh cho thái tử ở lại để làm yên lòng dân chúng, còn mình thì chạy tiếp.
Thái tử Lý Hanh chỉ muốn cùng cha chạy trốn, nhưng lúc đó hàng ngàn người vây chặt lấy, một mực chặn trước đầu ngựa không chịu để cho thái tử đi. Lý Hưởng định thúc ngựa cố chạy thì bỗng nhiên phía sau xuất hiện hai người, họ tiến lên níu lấy dây cương ngựa và nói: "An Lộc Sơn chiếm cứ kinh thành, đất nước vì thế mà sắp bị chia cắt, nếu không cố gắng, thuận theo lòng dân thì sao có thể cứu được đất nước? Nếu bây giờ điện hạ cùng chí tôn Tây hành mà quân giặc ngay lập tức đốt sạn đạo ra vào Tứ Xuyên thì chẳng phải là đã cống cả Trung Nguyên vào tay giặc rồi ư. Một khi lòng người ly tán chẳng có cách nào hợp lại được, đến lúc đó thì có muốn quay lại chỗ này e rằng cũng chi là điều không tưởng. Xin điện hạ hãy nghĩ đến xã tắc, lập chí cứu nước ở lại đây đồng tâm hiệp lực cùng dân chúng, chủ động phản kích lại phản tặc".
Lý Hanh nghe xong thấy cũng có lý, nhìn lại người nói thì ra là con trai thứ ba của mình Kiến Ninh Vương Lý Đàm và Đông cung thị vệ Lý Phụ Quốc. Lý Hanh đáp rằng phải bẩm báo với phụ hoàng cho rõ ràng. Ngay lập tức con trai trưởng của Lý Hưởng là Quảng Bình Vương Lý Thích đuổi theo Đường Huyền Tông để trình báo tình hình. Đường Huyền Tông nói rằng: "Lòng người như vậy cũng tức là ý trời". Sau đó để lại 2000 hậu quân cho thái tử, bảo Lý Thích về báo lại: "Phải lấy xã tắc làm trọng, không cần lo cho ta. Đến Tứ Xuyên ta sẽ hạ chỉ nhường ngôi". Thế là thái tử Lý Hanh ở lại, quyết chuẩn bị phản kích lại quân giặc, cứu lấy xã tắc. Dân chúng ai nấy đều giải tán.
Nhà Đường phản công [sửa]
Sau khi chiếm Trường An, An Lộc Sơn nghe tin Dương Quý Phi đã chết, ra lệnh tàn sát dân kinh thành rất nhiều. Bản thân Lộc Sơn cũng chán nản, sau đó không lâu, Lộc Sơn bị bệnh và trở nên ốm yếu rồi bị chính con trai của mình là An Khánh Tự giết hại.
Trước sự bất lực của vua cha, thái tử Lý Hanh đang ở Thiểm Tây đã lên ngôi tại núi Linh Vũ, tức là Đường Túc Tông, vọng tôn Huyền Tông làm thượng hoàng. Không lâu sau, Đường Túc Tông hạ chiếu phong con trưởng là Quảng Bình Vương làm thiên hạ binh mã nguyên soái, thống soái các tướng Đông chinh An Lộc Sơn. Vua con tổ chức quân đội đánh mạnh vào quân Yên của An Lộc Sơn, thu hồi lại nhiều đất đai.
Vào tháng 12 âm lịch năm 756 , Đường Túc Tông hỏi ý kiến quân sư Lý Tất. Lý Tất đáp rằng: "Tất cả của cải, mỹ nữ An Lộc Sơn cướp được đều đã chuyển về sào huyệt Phạm Dương như vậy chí lớn hùng cứ bốn biển, mưu đồ bá chủ toàn quốc liệu có còn chăng? Tuy hiện nay chiến tướng như mây, mưu sĩ vô số nhưng những kẻ sẵn lòng chết vì chủ thì có thể đếm được trên đầu ngón tay, còn lại đều là do thời thế bắt buộc, miễn cưỡng khuất phục mà thôi. Do đó, theo tính toán của thần, chỉ cần hai năm sau sẽ chẳng còn tên đạo khấu nào".
Tuy nhiên chiến sự vẫn giằng co chưa phân được thua. Quách Tử Nghi và Lý Quang Bật về hội binh với Túc Tông nên Sử Tư Minh thừa cơ chiếm lại 13 quận Hà Bắc. Thế quân Yên lại mạnh.
Năm 757, nhà Đường nhờ thế lực của người Hồi Hột bắt đầu phản công và lấy lại được Trường An. Lý Quang Bật giết được hơn 7 vạn quân Yên ở gần Thái Nguyên, quân Đường tiến vào Hà Bắc đánh thẳng tới Phạm Dương. Trương Tuần tử thủ ở trận Tuy Dương (phía nam huyện Thương Khâu, Hà Nam ngày nay), tuy vì lương thực trong thành đã cạn nên bị quân An đánh bại sau 10 tháng cố thủ, nhưng cũng đã tiêu diệt được hàng vạn quân địch, yểm trợ cho việc tây vận đến Tô Ung, Giang Hoài của nhà Đường, làm thay đổi tương quan lực lượng giữa hai bên. Đến tháng 2 năm 757, lính ở Lũng Hữu, Hà Tây, An Tây, Tây Vực và lương thảo ở Giang Hoài đều đã tập hợp đầy đủ ở địa điểm dự định. Sĩ khí của quân Yên vì phải bôn tẩu mệt mỏi nên đã suy sụp, hơn nữa trong tháng giêng An Lộc Sơn lại bị chính con trai An Khánh Tự mưu sát. Thời cơ để quân Đường phản công một trận lớn đã tới.
Thủ hạ của Lộc Sơn là Sử Tư Minh không theo An Khánh Tự, nên ly khai và rút về Phạm Dương (gần Bắc Kinh ngày nay). Quân phản loạn trở nên phân rã, suy yếu. Sử Tư Minh đầu hàng triều đình nhưng phát hiện ra âm mưu định ám sát mình của nhà Đường, nên lại tiếp tục làm phản. Năm 758, Tư Minh mang quân giải vây cho Khánh Tự đang bị triều đình vây khốn. Quân Đường bị đánh bại bỏ chạy. Tuy nhiên sau đó Tư Minh vào thành giết chết An Khánh Tự, tự xưng làm Yên Đế.
Năm 759, Sử Tư Minh dẫn 10 vạn đại quân tấn công hai kinh. Lý Quang Bật thấy địch đông ta ít, để bảo đảm sự an toàn của Tây kinh Trường An đã dứt khoát bỏ trống thành Lạc Dương, đích thân dẫn 5 vạn quân đến đóng ở Hà Dương (tây bắc huyện Mạnh, Hà Nam ngày nay), phía bắc liền với ao, đầm và rất nhiều sông, nương tựa vào Hoàng Hà để cố thủ, khiến Sử Tư Minh không dám tùy tiện Tây tiến.
Năm 761, Sử Tư Minh bị con trai cả là Sử Triều Nghĩa sát hại vì có ý định lập con nhỏ làm thái tử.
Sau khi Sử Tư Minh chết, quân phản loạn mất tư lệnh tài năng, Sử Triêu Nghĩa mau chóng bị triều đình dẹp tan (763).
Hậu quả và ý nghĩa [sửa]
Cuộc phản loạn này làm nhà Đường suy yếu nghiêm trọng cả về chính trị, quân sự và kinh tế. Sử chép: "Có 36 triệu sinh linh chết trong cơn loạn ấy. Rợ Phiên gặp ai cũng chém cũng giết, thực là một cuộc đổ máu không tiền khoáng hậu trong lịch sử Trung Hoa. Lịch sử nhà Đường ghi lại thì trước loạn An Sử, dân số là 53 triệu, sau loạn chỉ còn 17 triệu. Con số 36 triệu người chết có thể là phóng đại (vì nhiều người không chết mà chỉ chạy trốn đi vùng khác hoặc mất sổ hộ tịch), nhưng như vậy cũng đủ để thấy sự tàn phá khốc liệt của cuộc phản loạn này.
Loạn An Sử chấm dứt nhưng một bộ phận tướng sĩ của Lộc Sơn quy hàng triều đình vẫn làm Tiết độ sứ ở Hà Bắc. Để thưởng công cho các tướng sĩ (mà không ít người là người dân tộc thiểu số), nhà Đường phải phong đất đai và chức tước cho họ, tạo thành vô số chính quyền quân sự nhỏ làm lung lay quyền lực của chính quyền trung ương.
Nhiều quận, huyện ở Hà Nam, Sơn Tây, Sơn Đông bị các tướng truyền nối cho con cháu nhiều đời không lệ thuộc triều đình. Cục diện phiên trấn cát cứ của các Tiết độ sứ bắt đầu hình thành và kéo dài hơn 100 năm, cho tới khi nhà Đường sụp đổ (907).
Xem thêm [sửa]
Tham khảo [sửa]
- Lịch sử Trung Quốc - Học viện quân sự cấp cao, 1992