Lorraine (thiết giáp hạm Pháp)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Bretagne Brassey's.png

Sơ đồ thiết giáp hạm Lorraine như được mô tả trong Niên giám Hải quân Brassey 1915
Phục vụ (Pháp) Civil and Naval Ensign of France.svg Naval Ensign of Free France.svg
Đặt tên theo: Lorraine
Hãng đóng tàu: Ateliers & Chantiers de la Loire
Đặt lườn: 1 tháng 8 năm 1912
Hạ thủy: 30 tháng 9 năm 1913
Nhập biên chế: 27 tháng 7 năm 1916
Xuất biên chế: 17 tháng 2 năm 1953
Số phận: Bị tháo dỡ
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp thiết giáp hạm Bretagne
Trọng tải choán nước: 23.230 tấn (tiêu chuẩn)
26.180 tấn (đầy tải)
Độ dài: 166 m (545 ft)
Sườn ngang: 26,9 m (88 ft)
Mớn nước: 9,8 m (32 ft)
Động cơ đẩy: 4 × turbine hơi nước Parsons
18–24 × nồi hơi
4 × trục
công suất 29.000 mã lực (21,6 MW)
Tốc độ: 20 hải lý một giờ (37 km/h)
Tầm xa: 4.700 hải lý (8.700 km) ở tốc độ 10 hải lý một giờ (19 km/h)
Tầm hoạt động: 2.680 tấn than
300 tấn dầu
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
1.133
Vũ trang: Ban đầu:
10 × hải pháo 340 mm/45 Modèle 1912 (5×2)
22 × hải pháo 138 mm Modèle 1910 (22×1)
4 × pháo 47 mm
4 × ống phóng ngư lôi 450 mm
Sau 1935:
8 × pháo 340 mm/45 (5×2)
14 × hải pháo 138 mm Modèle 1910
8 × hải pháo 75mm/50 Modèle 1922
4 × pháo 47 mm
4 × ống phóng ngư lôi 450 mm
Bọc giáp: đai giáp chính: 270 mm
sàn tàu: 40 mm
tháp pháo: 340 mm
bệ tháp pháo: 170 mm
tháp chỉ huy: 314 mm

Lorraine là một thiết giáp hạm thuộc lớp Bretagne của Hải quân Pháp, được đặt tên theo khu vực hành chính Lorraine của nước Pháp, và đã phục vụ tại Địa Trung Hải trong cả Chiến tranh thế giới thứ nhất lẫn thứ hai.

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Lorraine được chế tạo tại xưởng Ateliers & Chantiers de la Loire tại St. Nazaire, được đặt lườn vào ngày 1 tháng 8 năm 1912 và hạ thủy vào ngày 30 tháng 9 năm 1913. Nó được hoàn tất vào 27 tháng 7 năm 1916. Giống như các tàu chị em, Lorraine được trang bị dàn pháo chính kiểu hải pháo 340 mm/45 Modèle 1912 mới, nguyên của lớp thiết giáp hạm Normandie bị hủy bỏ, gồm mười khẩu bố trí trên những tháp pháo đôi: hai phía trước và hai phía sau trên trục giữa bắn thượng tầng, và một tháp pháo giữa tàu có thể bắn qua cả hai phía mạn tàu.

Trong các đợt tái trang bị từ năm 1921 đến năm 1922, 1926 đến 19271934 đến 1936, Lorraine được hiện đại hóa, với một máy phóng máy bay thay chỗ cho tháp pháo giữa tàu, bổ sung vũ khí phòng không hiện đại, và chuyển sang các nồi hơi đốt dầu. Cho dù công suất của hệ thống động cơ được nâng lên đến 43.000 mã lực, nó chỉ giúp tăng tốc độ tối đa thêm đôi chút đến 21 knot; cùng lớp vỏ giáp tương đối mỏng chỉ có 270 mm gây khó khăn trở ngại trong chiến đấu.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Provence đã phục vụ cùng với các tàu chị em cùng lớp tại Địa Trung Hải trong cả hai cuộc thế chiến. Khi Chiế tranh Thế giới thứ hai nổ ra, Lorraine đã chuyên chở số vàng dự trữ của Pháp sang Hoa Kỳ vào tháng 11 năm 1939; rồi sau đó được điều đến khu vực Đông Địa Trung Hải, nơi nó tham gia bắn phá Bardia.

Khi Pháp đầu hàng vào năm 1940, Đô đốc Andrew Cunningham, chỉ huy Hạm đội Địa Trung Hải của Hải quân Hoàng gia Anh, và Đô đốc Pháp René-Emile Godfroy đã thỏa thuận nhằm đưa đến một cuộc giải giáp hòa bình, và Lorraine cùng các con tàu khác được Anh chiếm giữ tại Alexandria, Ai Cập vào ngày 22 tháng 6 năm 1940.

Sau khi tái vũ trang, Lorraine gia nhập lực lượng Đồng Minh vào ngày 31 tháng 5 năm 1943 trong thành phần Pháp Tự do, và đã tham gia vào việc bắn phá bờ biển miền Nam nước Pháp, bao gồm các thành phố ToulonMarseilles trong Chiến dịch Dragoon. Pháo hạng nặng của nó đã hỗ trợ vào việc bắn phá miền Nam nước Pháp trong tháng 8tháng 9 năm 1944; và nó cũng tấn công một số pháo đài cố thủ của Đức tại Địa Trung Hải và biển Atlantic cho đến hết chiến tranh.

Khi chiến tranh kết thúc tại Châu Âu, Lorraine được cải biến thành một lườn tàu huấn luyện. Nó ngừng hoạt động vào ngày 17 tháng 2 năm 1953, và bị tháo dỡ vào năm 1954.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]