Louis de Funès

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Louis de Funès
Tên khai sinh Louis Germain David de Funès de Galarza
Sinh 31 tháng 7 năm 1914
Flag of France.svg Courbevoie, Pháp
Mất 27 tháng 1 năm 1983 (68 tuổi)
Flag of France.svg Nantes, Pháp
Hoạt động 1944 - 2004
Hôn nhân Germaine Louise Élodie Carroyer (1936-1942)
Jeanne Augustine Barthélemy (1943-1983)
Trang web Defunes.com

Louis Germain David de Funès de Galarza (31 tháng 7, 1914 - 27 tháng 1, 1983), nổi tiếng với tên Louis de Funès (phát âm: Lu-i đờ Fuy-nex) là một diễn viên, biên kịchđạo diễn nổi tiếng của điện ảnh Pháp. Với hơn 100 bộ phim đã đóng trong sự nghiệp, Louis de Funès được biết đến nhiều nhất là qua các vai hài đặc sắc như thanh tra Paul Juve trong loạt phim Fantômas của đạo diễn André Hunebelle hay vai cảnh sát trưởng Ludovic Cruchot trong loạt phim "cảnh sát" (Gendarme) của đạo diễn Jean Girault. Ông là diễn viên ăn khách nhất của điện ảnh Pháp thập niên 19601970 khi các bộ phim có Funès tham gia đã thu hút tới hơn 150 triệu lượt khán giả chỉ trong hai thập niên này[1].

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Louis de Funès sinh ngày 31 tháng 7 năm 1914 tại Courbevoie, ông là con thứ 3[2] của ông Carlos Luis de Funès de Galarza (1871-1934) và bà Léonor Soto Reguera (1879-1957) vốn là một cặp vợ chồng người Tây Ban Nha di cư đến Pháp năm 1904.

Ông Carlos vốn là một luật sư ở quê hương nhưng khi lưu vong ở Pháp ông phải hành nghề buôn bán ngọc trai, đồ trang sức và ít khi gần gũi với con vì tính cách có phần lập dị của mình[3]. Người truyền cho Louis tình yêu nghệ thuật là bà Léonor, bà cũng là người dạy Louis de Funès những bài học piano vỡ lòng khi cậu bé mới lên 5[4].

Năm 16 tuổi, sau khi học xong cấp II, Louis de Funès nghe theo lời khuyên của anh trai vào học tại trường dạy nghề thuộc da École Professionnelle de la Fourrure nhưng chưa kịp tốt nghiệp đã bị đuổi học vì hay chọc phá. Sau khi làm nhiều nghề khác nhau nhưng đều bị sớm cho thôi việc vì thiếu tính kỷ luật, năm 1932 Louis de Funès được gia đình gửi vào học nghề điện ảnh tại trường École Technique de Photographie et de Cinéma (ETPC - Trường điện ảnh và kỹ thuật điện ảnh, nay là Ecole Nationale Supérieure Louis Lumière). Trong số các bạn học của ông tại ETPCHenri Decaë, người sau này đã quay rất nhiều phim có sự tham gia của de Funès. Nhưng ngay cả lần này de Funès cũng lại bị đuổi học chỉ sau một thời gian vì vô ý gây hỏa hoạn[5].

Sau đó Louis de Funès liên tục thay đổi nhiều công việc khác nhau, từ bán hàng đến nhân viên kế toán nhưng đều chỉ làm được một thời gian thì bị sa thải. Năm 1936, ông cưới người vợ đầu tiên Germaine Louise Élodie Carroyer. Hai người có một đứa con[6] trước khi ly dị năm 1942.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Khởi đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1942, khi đã 28 tuổi, Louis de Funès quyết định trở thành một diễn viên và thi đỗ vào khóa học diễn xuất nổi tiếng Cours SimonParis sau khi diễn một trích đoạn trong vở Les Fourberies de Scapin của Molière[5]. Bên canh những vai diễn nhỏ trên sân khấu, de Funès còn kiếm sống bằng việc trình diễn piano. Năm 1943 ông lập gia đình lần thứ hai với bà Jeanne Augustine Barthélemy. Hai người sống với nhau đến khi de Funès qua đời, họ có hai người con là Patrick (sinh năm 1944) và Olivier (sinh năm 1949, sau này cũng đóng phim và kịch cùng bố).

Năm 1945, Louis de Funès có vai diễn điện ảnh đầu tiên trong bộ phim La Tentation de Barbizon của Jean Stelli. Sau vai diễn nhỏ đầu tiên này là hàng loạt các vai diễn không thoại hoặc vai diễn quần chúng khác, thậm chí trong bộ phim Du Guesclin (1948), Louis de Funès còn tham gia một lúc vài vai phụ.

Diễn viên triển vọng[sửa | sửa mã nguồn]

Từ đầu thập niên 1950, Sacha Guitry giao cho de Funès các vai nhỏ trong nhiều bộ phim, đáng chú ý có La Poison (1951), Je l'ai été trois fois (19521952), Si Paris nous était conté (1955) và nhất là La Vie d'un honnête homme (1953). Bộ phim cuối đã mang lại cho Louis chút ít tiếng tăm. Từ năm 1952 Louis de Funès tham gia đoàn diễn viên Les Branquignols của Robert Dhéry. Vai diễn đầu tiên của ông cho Les Branquignols là trong vở tạp kịch Bouboute et Sélection. Năm 1953 Louis tham gia vở Ah ! Les belles bacchantes, vở diễn đã thành công và người ta bắt đầu biết tới de Funès.

Năm 1956, Louis de Funès có vai diễn điện ảnh đáng chú ý đầu tiên trong phim La Traversée de Paris của đạo diễn Claude Autant-Lara. Một năm sau đó vai chính đầu tiên trong sự nghiệp đóng phim đến với Louis khi đạo diễn Maurice Regamey chọn ông cho bộ phim Comme un cheveu sur la soupe. Cũng trong năm 1957 de Funès còn có vai chính khác trong phim Ni vu... Ni connu... của Yves Robert..

Thành công liên tiếp[sửa | sửa mã nguồn]

Louis de Funès trong quá trình quay bộ phim Cảnh sát và người ngoài hành tinh

Pouic-Pouic là bộ phim mở đầu cho sự cộng tác thành công giữa Louis de Funès và đạo diễn Jean Girault (Girault đã đạo diễn tới 13 bộ phim có sự góp mặt của de Funès). Năm 1964 hai người thực hiện tác phẩm đầu tiên của loạt phim "cảnh sát" (Gendarme), bộ phim Cảnh sát ở Saint-Tropez (Le Gendarme de Saint-Tropez. Cảnh sát ở Saint-Tropez lập tức thành công và de Funès có bộ phim đầu tiên đứng đầu bảng xếp hạng phim ăn khách. Chỉ hai tháng sau khi hoàn thành bộ phim này, Louis tham gia quay Fantômas cùng ngôi sao Jean Marais và tiếp tục thành công khi Fantômas cũng rất ăn khách. Năm 1967, de Funès và bạn diễn quen thuộc Bourvil cùng tham gia bộ phim La Grande Vadrouille của đạo diễn Gérard Oury. Với 17 triệu lượt người xem, cho đến nay đây vẫn là bộ phim Pháp ăn khách nhất trong lịch sử.

Quay trở lại sân khấu[sửa | sửa mã nguồn]

Cuối tháng 11 năm 1971 tại Nhà hát Palais-Royal, Louis de Funès quay trở lại sân khấu khi tham gia diễn trong vở Oscar mỗi tối cho đến tận tháng 9 năm 1972. Từ tháng 3 năm 1973 ông tập trung quay bộ phim Les Aventures de Rabbi Jacob và quay trở lại sân khấu ngay sau khi bộ phim công chiếu ngày 18 tháng 10 cùng năm. Vở diễn sân khấu cuối cùng của Louis là La Valse des toréadors của Jean Anouilh. Sau 200 buổi diễn cho vở kịch này, ông về nghỉ tại Lâu đài Clermont nằm ở Le Cellier thuộc vùng Loire-Atlantique. Tại đây ông dành nhiều thời gian làm vườn và tham gia rất ít phim.

Sức khỏe sa sút[sửa | sửa mã nguồn]

Mộ của Louis de Funès ở Cellier

Tháng 3 năm 1975 Louis de Funès bị nhồi máu cơ tim hai lần liên tiếp[3] và bắt đầu phải giảm cường độ làm việc. Tuy vẫn có những bộ phim hài thành công như La Zizanie (1978) hay Cảnh sát và người ngoài hành tinh (Le Gendarme et les extra-terrestres, 1979) nhưng Louis đã bắt đầu thay đổi phong cách diễn hài dùng nhiều cử chỉ mạnh bạo của ông. Năm 1980 Louis de Funès thực hiện được giấc mơ từ lâu của ông, chuyển thể một tác phẩm của Molière lên màn ảnh, đó là bộ phim Lão hà tiện (L'Avare), tuy vậy tác phẩm này lại không được công chúng đón nhận nồng nhiệt như các bộ phim trước đó của de Funès.

Le Gendarme et les gendarmettes (1982) là bộ phim cuối cùng của Louis de Funès. Ngày 27 tháng 1 năm 1983 ngôi sao lớn của điện ảnh Pháp một lần nữa lên cơn nhồi máu cơ tim và ông đã không qua khỏi lần này. Louis de Funès được chôn cất tại nghĩa trang Le Cellier ngày 29 tháng 1 năm 1983 trong một đám tang trọng thể với sự có mặt của nhiều diễn viên nổi tiếng như Jean Carmet, Michel Galabru, Claude Gensac, Guy Grosso, Michel Modo, Jacques Villeret, Annie Girardot, Christian Marin, Jean Lefebvre, Coluche, Jacques François, Yves Montand, Alice Sapritch, Noëlle Adam, Paul Préboist, Bernard BlierJean Marais.

Diễn xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Kỹ thuật gây hài[sửa | sửa mã nguồn]

Diễn xuất hài hước của Louis de Funès phần lớn nhờ vào khả năng diễn bằng điệu bộ xuất sắc, đặc biệt là những cử chỉ nhăn nhó của khuôn mặt đã trở thành đặc trưng trong diễn xuất của ngôi sao hài này. Ngoài ra ông cũng diễn những đoạn thoại hài hước rất tốt và có khả năng cường điệu hóa cảm xúc vui, buồn, thất vọng, lo sợ,... của nhân vật mà mình hóa thân để tạo ra các pha gây cười. Louis de Funès có biệt tài thể hiện sự giận dữ của nhân vật bằng nhiều cách khác nhau, càu nhàu, rít lên, tát liên hồi vào người khác, khoa chân múa tay,... Các vai diễn của ông cũng thường tạo rất nhiều đất cho de Funès thể hiện khả năng của mình, đó thường là những kẻ đạo đức giả, đáng ghét, độc ác. Vóc dáng bé nhỏ của Louis de Funès (ông cao 1,64m) so với các bạn diễn to lớn như Bourvil, Yves Montand cũng là một lợi thế gây hài khác của diễn viên này.

Năng khiếu âm nhạc và khiêu vũ[sửa | sửa mã nguồn]

Theo nữ diễn viên và biên đạo múa Colette Brosset[7] thì Louis de Funès có năng khiếu âm nhạc và khiêu vũ bẩm sinh. Ông có thể nhanh chóng nắm bắt các vũ điệu do biên đạo đưa ra cho nhân vật, điển hình là các cảnh khiêu vũ trong Ah ! Les belles bacchantes, Le Grand Restaurant, L'Homme orchestre hay Les Aventures de Rabbi Jacob. Louis de Funès cũng chơi piano trong Je n'aime que toi, Ah ! Les belles bacchantes hay thậm chí là hát trong La grosse valse, Le Petit baigneur và một số phim khác.

Ngoài lề[sửa | sửa mã nguồn]

  • Sau khi Louis de Funès đã trở nên nổi tiếng, một số bộ phim có sự góp mặt của ông đã được phát hành lại với một cái tên mới. Tháng 1 năm 1969, bộ phim Le Gentleman d'Epsom (1962) của đạo diễn Gilles Grangier được công chiếu với tựa đề Les grands seigneurs[6], bộ phim Certains l'aiment froide (1959) của Jean Bastia thì mang cái tên mới Les râleurs font leur beurre[5].
  • Trong cả sự nghiệp của mình, Louis de Funès chỉ đóng cảnh hôn môi một lần duy nhất, đó là nụ hôn với nữ diễn viên Lino Noro trong bộ phim Dortoir des grandes (1953) của đạo diễn Henri Decoin[6].

Giải thưởng và đánh giá[sửa | sửa mã nguồn]

Giống như các diễn viên hài nổi tiếng khác, Louis de Funès không phải là diễn viên giành được nhiều giải thưởng điện ảnh (vốn thường chỉ dành cho các diễn viên phim chính kịch). Giải thưởng điện ảnh lớn nhất mà de Funès được nhận có lẽ là Giải César danh dự (César d'honneur) năm 1980 cho sự nghiệp cống hiến. Bên cạnh đó ông cũng được trao Huân chương Bắc đẩu Bội tinh (Légion d'honneur) năm 1973.

Một con tem có in hình Louis de Funès đã được Bưu điện Pháp (La Poste) phát hành năm 1998 trong loạt tem kỉ niệm các ngôi sao điện ảnh của nước này. Trong bảng xếp hạng 100 người Pháp vĩ đại nhất mọi thời (100 plus grands français de tous les temps) được đài truyền hình France 2 công bố tháng 3 năm 2005, de Funès đứng thứ 17. Một giống hoa hồngLe Cannet-des-Maures thuộc vùng Var đã được đặt theo tên Louis de Funès[8].

Kỷ lục gia thu hút khán giả[sửa | sửa mã nguồn]

Louis de Funès là diễn viên ăn khách nhất của điện ảnh Pháp thập niên 19601970 khi các bộ phim có Funès tham gia đã thu hút tới hơn 150 triệu lượt khán giả chỉ trong hai thập niên này[1][9]. Từ năm 1964 đến năm 1979 ông có tới 7 phim ăn khách nhất trong năm của ngành công nghiệp phim Pháp (các năm 1964, 1965, 1966, 1967, 1970, 19731979). Hơn thế vào năm 1967 Louis de Funès còn lập kỷ lục hiếm có khi trong 10 phim ăn khách nhất năm có tới 3 phim của ông, đó là Les Grandes Vacances (thứ 1), Oscar (thứ 2) và Fantômas contre Scotland Yard (thứ 5). Cho đến nay bộ phim La Grande Vadrouille do Louis de Funès thủ vai chính vẫn là bộ phim Pháp ăn khách nhất trong lịch sử điện ảnh nước này.

Dưới đây là danh sách 10 phim ăn khách nhất của Louis de Funès:

Phim Năm Vị trí trong năm Lượng người xem (triệu người)
La Grande Vadrouille 1966 Thứ nhất 17,27
Le Corniaud 1965 Thứ nhất 11,74
Cảnh sát ở Saint-Tropez
(Le Gendarme de Saint-Tropez)
1964 Thứ nhất 7,8
Les Aventures de Rabbi Jacob 1973 Thứ nhất 7,29
Les Grandes Vacances 1967 Thứ nhất 6,98
Le Gendarme se marie 1968 Thứ hai 6,82
Cảnh sát và người ngoài hành tinh
(Le Gendarme et les extra-terrestres)
1979 Thứ nhất 6,28
Oscar 1967 Thứ hai 6,12
L'Aile ou la cuisse 1976 Thứ hai 5,84
La Folie des grandeurs 1971 Thứ tư 5,56

Phim tham gia[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Phim Đạo diễn Ghi chú
1946 La Tentation de Barbizon Jean Stelli
1947 Dernier refuge Marc Maurette
1947 Six heures à perdre Alex Joffé
Jean Lévitte
1947 Antoine et Antoinette Jacques Becker
1947 Le Château de la dernière chance Jean-Paul Paulin
1948 Croisière pour l’inconnu Pierre Montazel
1949 Du Guesclin Bernard de Latour
1949 Rendez-vous avec la chance Emile-Edwin Reinert
1949 Je n’aime que toi Pierre Montazel
1949 Mission à Tanger André Hunebelle
1949 Vient de paraître Jacques Houssin
1949 Au revoir Monsieur Grock Pierre Billon
1949 Adémaï au poteau-frontière Paul Colline
1949 Mon ami Sainfoin Marc-Gilbert Sauvajon
1949 Millionnaires d’un jour André Hunebelle
1949 Pas de week-end pour notre amour Pierre Montazel
1949 Un certain monsieur Yves Ciampi
1949 Le Jugement de Dieu Raymond Bernard
1950 Quai de Grenelle Emil-Edwin Reinert
1950 Le Roi du bla bla bla Maurice Labro
1950 Boniface Somnambule Maurice Labro
1950 La Rue sans loi Claude Dolbert
Marcel Gibaud
1950 L’Amant de paille Gilles Grangier
1950 La Rose rouge Marcello Pagliero
1950 Folie douce Jean-Paul Paulin
1950 Bibi Fricotin Marcel Blistène
1950 Knock Guy Lefranc
1950 E piu facile che un camello Luigi Zampa Phim Ý
1950 Prima comunione Alessandro Blasetti Phim Ý
1951 Les Joueurs Claude Barma Phim ngắn
1951 Un Amour de parapluie Jean Laviron Phim ngắn
1951 Boîte à vendre Claude-André Lalande Phim ngắn
1951 Sans laisser d’adresse Jean-Paul Le Chanois
1951 Champions Juniors Pierre Blondy Phim ngắn
1951 90 degrès à l’ombre Norbert Carbonnaux Phim ngắn
1951 La vie est un jeu Raymond Leboursier
1951 La Passante Henri Calef
1951 La Poison Sacha Guitry
1951 Pas de vacances pour Monsieur le Maire Maurice Labro
1951 Le Dindon Claude Barma
1951 Ma femme est formidable André Hunebelle
1951 Les Loups chassent la nuit Bernard Borderie
1951 Le Voyage en Amérique Henri Lavorel
1951 Jeanne avec nous Claude Vermorel Phim phát trên truyền hình
1952 Les Sept Péchés capitaux Jean Dréville
1952 Ils étaient cinq Jack Pinoteau
1952 Les Dents longues Daniel Gélin
1952 Agence matrimoniale Jean-Paul Le Chanois
1952 La Fugue de Monsieur Perle Pierre Gaspard-Huit
1952 Week-end à Paris Gordon Parry
1952 Elle et moi Guy Lefranc
1952 Je l’ai été trois fois Sacha Guitry
1952 Monsieur Taxi André Hunebelle
1952 Monsieur Leguignon Lampiste Maurice Labro
1952 Le Huitième Art et la manière Maurice Regamey Phim ngắn
1952 Moineaux de Paris Maurice Cloche
1952 L'amour n'est pas un péché Claude Cariven
1952 La Putain respectueuse Charles Brabant
Marcello Pagliero
1952 La Tournée des grands ducs André Pellenc
Norbert Carbonnaux
1952 Tambour battant Georges Combret
1952 Le Sorcier blanc Claude Lalande
1952 Le Grillon du foyer Claude Barma Phim phát trên truyền hình
1953 Les Compagnes de la nuit Ralph Habib
1953 La Vie d’un honnête homme Sacha Guitry
1953 Le Rire Maurice Regamey Phim ngắn
1953 L’Étrange désir de Monsieur Bard Géza von Radványi
1953 Dortoir des grandes Henri Decoin
1953 Au diable la vertu Jean Laviron
1953 Légère et court vêtue Jean Laviron
1953 Capitaine Pantoufle Guy Lefranc
1953 Le Secret d’Hélène Marimon Henri Calef
1953 Faites-moi confiance Gilles Grangier
1953 Mon frangin du Sénégal Guy Lacourt
1953 La Servante Stellio Lorenzi Phim phát trên truyền hình
1954 Poisson d’avril Gilles Grangier
1954 Ah ! Les belles bacchantes Jean Loubignac
1954 Le Blé en herbe Claude Autant-Lara
1954 Le Chevalier de la nuit Robert Darène
1954 Les Corsaires du Bois de Boulogne Norbert Carbonnaux
1954 Escalier de service Carlo Rim
1954 Fraternité René Lucot Phim phát trên truyền hình
1954 Les hommes ne pensent qu’à ça Yves Robert
1954 Huis Clos Jacqueline Audry
1954 Les Intrigantes Henri Decoin
1954 Mam’zelle Nitouche Yves Allégret
1954 Le Mouton à cinq pattes Henri Verneuil
1954 Papa, maman, la bonne et moi Jean-Paul Le Chanois
1954 Les pépées font la loi Raoul André
1954 Hoàng hậu Margot
(La Reine Margot)
Jean Dréville
1954 Scènes de ménage André Berthomieu
1954 Tourments Jacques Daniel-Norman
1955 Napoléon Sacha Guitry
1955 Ingrid - Die Geschichte eines Fotomodells Géza von Radványi Phim Đức
1955 Les Impures Pierre Chevalier
1955 L’Impossible Monsieur Pipelet André Hunebelle
1955 Les Hussards Alex Joffé
1955 Si Paris nous était conté Sacha Guitry
1955 Frou-Frou Augusto Genina
1955 Mädchen ohne Grenzen Géza von Radványi Phim Đức
1956 La Traversée de Paris Claude Autant-Lara
1956 La Bande à papa Guy Lefranc
1956 Bonjour sourire Claude Sautet
1956 La Famille Anodin André Leroux
Marcel Bluwal
Arnaud Desjardin
Loạt 8 phim ngắn 45 phút
1956 Bébés à gogo Paul Mesnier
1956 La Loi des rues Ralph Habib
1956 Courte tête Norbert Carbonnaux
1957 Comme un cheveu sur la soupe Maurice Regamey
1958 Taxi, Roulotte et Corrida André Hunebelle
1958 Ni vu... Ni connu... Yves Robert
1958 La Vie à deux Clément Duhour
1959 I Tartassati Stefano Vanzina Phim Ý
1959 Totò, Eva e il pennello proibito Stefano Vanzina Phim Ý
1959 Mon pote le gitan François Gir
1960 Certains l’aiment froide Jean Bastia
1960 Les Tortillards Jean Bastia
1960 Candide ou l’optimisme du XXe siècle Norbert Carbonnaux
1961 Le Capitaine Fracasse Pierre Gaspard-Huit
1961 La Belle Américaine Robert Dhéry
1961 Dans l’eau qui fait des bulles Maurice Delbez
1962 La Vendetta Jean Chérasse
1962 Le crime ne paie pas Gérard Oury
1962 Un clair de lune à Maubeuge Jean Chérasse
1962 Le Gentleman d’Epsom Gilles Grangier
1962 Nous irons à Deauville Francis Rigaud
1962 Le Diable et les Dix Commandements Julien Duvivier
1963 Les Veinards Jack Pinoteau
1963 Pouic-Pouic Jean Girault
1963 Carambolages Marcel Bluwal
1964 Faites sauter la banque Jean Girault
1964 Des pissenlits par la racine Georges Lautner
1964 Cảnh sát ở Saint-Tropez
(Le Gendarme de Saint-Tropez)
Jean Girault Vai cảnh sát trưởng Ludovic Cruchot
1964 Fantômas André Hunebelle Vai thanh tra Paul Juve
1964 Une souris chez les hommes Jacques Poitrenaud
1965 Le Corniaud Gérard Oury
1965 Fantômas se déchaîne André Hunebelle Vai thanh tra Paul Juve
1965 Cảnh sát ở New York
(Le Gendarme à New York)
Jean Girault Vai cảnh sát trưởng Ludovic Cruchot
1965 Les Bons Vivants Gilles Grangier
Georges Lautner
1966 La Grande Vadrouille Gérard Oury
1966 Maurice Chevalier Mirea Alexandresco Phim tài liệu ngắn
1966 Le Grand Restaurant Jacques Besnard
1967 Fantômas contre Scotland Yard André Hunebelle Vai thanh tra Paul Juve
1967 Les Grandes Vacances Jean Girault
1967 Oscar Édouard Molinaro Diễn viên
Biên kịch
1968 Le Petit Baigneur Robert Dhéry
1968 Le Tatoué Denys de La Patellière
1968 Le Gendarme se marie Jean Girault Vai cảnh sát trưởng Ludovic Cruchot
1969 Hibernatus Édouard Molinaro Diễn viên
Biên kịch
1970 L’Homme orchestre Serge Korber
1962 Un clair de lune à Maubeuge Jean Chérasse
1970 Le Gendarme en balade Jean Girault Vai cảnh sát trưởng Ludovic Cruchot
1970 Sur un arbre perché Serge Korber
1971 La Folie des grandeurs Gérard Oury Dựa theo vở kịch Ruy Blas của Victor Hugo
1971 Jo Jean Girault
1973 Les Aventures de Rabbi Jacob Gérard Oury
1976 L’Aile ou la cuisse Claude Zidi
1978 La Zizanie Claude Zidi
1979 Cảnh sát và người ngoài hành tinh
(Le Gendarme et les extra-terrestres)
Jean Girault Vai cảnh sát trưởng Ludovic Cruchot
1980 Lão hà tiện
(L’Avare)
Jean Girault
Louis de Funès
Diễn viên
Đồng đạo diễn
1981 La Soupe aux choux Jean Girault Diễn viên
Biên kịch
1982 Le Gendarme et les gendarmettes Jean Girault
Tony Aboyantz
Vai cảnh sát trưởng Ludovic Cruchot

Kịch tham gia[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Bảng xếp hạng diễn viên ăn khách, Studio Magazine số 67, tháng 11 năm 1992
  2. ^ Louis de Funès có chị gái là Maria Téolinda Léonore Margarita de Funès de Galarza (1907 - 1993) và anh trai Carlos Téolindo Javier de Funès de Galarza (1908 - 1939)
  3. ^ a ă Olivier de Funès và Patrick de Funès, Louis de Funès: Ne parlez pas trop de moi, les enfants !, Le Cherche midi, Paris 2005, ISBN 2-7491-0372-X
  4. ^ Philippe Azoulay, Louis de Funès, la comédie humaine (phim tài liệu)
  5. ^ a ă â Jean-Jacques Jelot-Blanc, Louis de Funès, une légende, Anne Carrière, Paris 1993, ISBN 2-910188-07-8
  6. ^ a ă â Éric Leguèbe, Louis de Funès, roi du rire, Dualpha, Paris, 2003, ISBN 2-912476-36-4
  7. ^ DVD Le Grand Restaurant
  8. ^ Trang web của Le Cannet-des-Maures
  9. ^ Phim có de Funès tham gia đã bán được 161.319.000 vé trong giai đoạn 1956-1990, bỏ xa người đứng thứ hai là Bourvil (126.271.000 vé) và Jean-Paul Belmondo (102.371.000)

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

agence de voyage au vietnam