LoveGame
| "LoveGame" | ||||
|---|---|---|---|---|
| Đĩa đơn của Lady Gaga | ||||
| từ album The Fame | ||||
| Phát hành | 24 tháng 3, 2009 (xem Phát hành) | |||
| Định dạng | CD Single, tải kỹ thuật số | |||
| Thu âm | 2008; Record Plant và Chalice Recording Studios (Hollywood, Los Angeles, California)[1] |
|||
| Thể loại | Pop điện tử | |||
| Thời lượng | 3:38 | |||
| Hãng đĩa | Streamline, Kon Live, Interscope, Cherrytree | |||
| Sáng tác | Lady Gaga, RedOne | |||
| Sản xuất | RedOne | |||
| Thứ tự đĩa đơn của Lady Gaga | ||||
|
||||
LoveGame (tạm dịch: Trò chơi tình yêu) là một ca khúc nhạc pop-điện tử của ca sĩ-nhạc sĩ người Mỹ Lady Gaga trích từ album đầu tay của cô, album The Fame và được sản xuất bởi RedOne. Bài hát được chọn làm đĩa đơn thứ ba của album tại Bắc Mỹ và Châu Âu và là đĩa đơn thứ 4 ở Úc, New Zealand và Thụy Điển sau khi phát hành đĩa đơn "Eh, Eh (Nothing Else I Can Say)". "LoveGame" cũng là đĩa đơn thứ tư tại Vương quốc Anh được phát hành sau "Paparazzi".
Bài hát được giới phê bình đánh giá cao bởi giai điệu catchy trong ca khúc. Lady Gaga đã giải thích rằng từ ngữ "disco stick" trong lời bài hát "là một cách nói ẩn dụ ám chỉ đến dương vật và được lấy cảm hứng từ những cảnh hôn nhau ân ái của những người tại một câu lạc bộ đêm" khi cô còn làm phục vụ ở đó để kiếm sống. Âm nhạc bài hát là một bản nhạc hit tại những quán vũ trường ở New York. "LoveGame" nằm trong tốp 5 tại Hoa Kỳ, Úc, Áo, Canada..., trong tốp 20 ở New Zealand, Anh và ở nhiều nước Châu Âu khác. Ca khúc trở thành đĩa đơn thứ ba của Lady Gaga giành vị trí quán quân tại bảng xếp hạng "Pop 100" của Mỹ.
Video của bài hát được quay tại một tàu điện ngầm và một bãi đậu xe ở New York. Video này có một số đoạn giống với video Bad của Michael Jackson. Tại Úc, clip "LoveGame" đã bị cấm chiếu trực tiếp từ khi được phát sóng tại kênh truyền hình Video Hits vì nội dung của bài hát đề cập đến tình dục. "LoveGame" được Lady Gaga trình diễn tại 2 chuyến lưu diễn The Fame Ball Tour và The Monster Ball Tour của cô.
Mục lục |
Người viết và cảm hứng[sửa]
|
|
Một đoạn điệp khúc mẫu 23 giây. Giọng hát của Lady Gaga bắt đầu từ lời nhạc: "I wanna take a ride on your disco stick."
|
| Trục trặc khi nghe bản này? Xem hướng dẫn. | |
"LoveGame" được viết bởi Lady Gaga và RedOne. Trong một cuộc phỏng vấn với tạp chí Rolling Stone, Lady Gaga đã giải thích ý nghĩa của bài hát và cảm hứng của cô khi viết nên "LoveGame", đặc biệt là đối với đoạn "Let's have some fun this beat is sick / I wanna take a ride on your disco stick". Cô nói rằng,
"Lời nhạc đó được tôi sử dụng là một phép ẩn dụ. Tôi đã ở một hộp đêm, và tôi đã hôn một anh chàng nào đó, sau đó tôi đã nói với họ: "I wanna ride on your disco stick" (Em muốn "cưỡi" trên cây gậy của anh). Ngày hôm sau, tôi ở trong phòng thu và tôi đã viết bài hát trong khoảng bốn phút. Khi tôi hát ca khúc trực tiếp, tôi thường cầm trên tay một cây gậy - nó trông giống như một thanh kẹo khổng lồ - và nó phát sáng.[2]
Phát sóng[sửa]
Vì lý do có quá nhiều cảnh nóng bỏng nên video LoveGame gặp trục trặc khi bị Kênh Channel 10 của Úc quyết định báo động tầm ảnh hưởng ở mức rating "M" (có cảnh nhạy cảm, không dành cho trẻ em dưới 16 tuổi). Trong khi đó, điều kiện để một video có thể lên sóng là phải ở mức rating "G" (cho mọi lứa tuổi) hoặc "PG" (trẻ em có thể xem được nếu có sự đồng ý của cha mẹ), như vậy đồng nghĩa là Love Game sẽ bị cấm không được trình chiếu trên chương trình Video Hits tại Úc . Một thời gian sau lại xuất hiện thêm một tin buồn về LoveGame tại xứ sở Anh quốc của Lady Gaga. Mặc dù hai hai đĩa đơn Just Dance và Poker Face đã chiễm chệ ngôi vị đầu bảng ở Anh hai lần liên tiếp, thế nhưng Lady Gaga lại không chọn hướng thừa thắng xông lên, tự cô đã xem xét lại và ra quyết định sẽ không phát hành LoveGame tại thị trường này nữa. Quyết định này được đưa ra âu cũng là bởi vì ca từ của LoveGame có phần nhạy cảm và Lady Gaga đang e ngại điều này sẽ quá khiếm nhã và ảnh hưởng đến lối suy nghĩ trong con trẻ đối với những người hâm mộ của cô ở Anh quốc [3].
Nhà sản xuất Ben Fletcher nói rằng: "Từ trước đến giờ, phải nói là thật hiếm có một video nào mà nội dung ẩn chứa trong nó lại nhạy cảm đến mức chúng tôi hầu như không có cách nào để chỉnh sửa nó mà không làm mất đi ý nghĩa của video, điều này nếu muốn thực hiện được thì thật khó đấy. Đó không chỉ ẩn chứa trong ca từ và còn thể hiện ở mặt nhìn nhận, nếu bạn đánh giá nó dựa trên cả hai nhân tố đó thì có thể đã không quá tệ". Ben cho biết thêm rằng: "Đó là do những tác động tích tụ đi kèm với nhau trong suốt quá trình thực hiện video. Chúng tôi được khuyến cáo rằng sẽ rất khó khăn để chỉnh sửa clip xuống thành mức PG, vì vậy chúng tôi đã quyết định không lên sóng MV này mà thay vào đó là những tiết mục quảng cáo và những chương trình khác phù hợp hơn với thị hiếu nghe nhạc của khán giả." [4]. Tuy vậy, nhưng "LoveGame" lại rất thành công với số lượng đĩa tiêu thụ được và đã giành vị trí thứ 4 tại bảng xếp hạng âm nhạc Úc.
Diễn biến trên các bảng xếp hạng[sửa]
Bài hát ra mắt trên Billboard Hot 100 ở vị trí thứ 96 vào ngày 4 tháng 4 năm 2009 nhưng tuần tiếp theo lại bị rớt hạng [5]. Sau sáu tuần bài hát giành vị trí thứ 6 khi bán được 107.000 bản download kỹ thuật số [6]. Hai tuần kể từ đó, "LoveGame" hạ cánh tại vị trí thứ 5 tại Hoa Kỳ.[7] Cùng thời điểm ấy, "LoveGame" đã giành vị trí quán quân ở 2 bảng xếp hạng "Billboard" là "Hot Dance Club Songs" và "Pop Songs". .[8][9]. Tại Canada, ca khúc ra mắt trên "Canada Hot 100" tại vị trí 68 [10] trước khi được phát hành chính thức. Sau đó, "LoveGame" leo lên giành vị trí thứ 5 [11]. Sau một vài tuần bị trí rớt hạng, "LoveGame" lại leo lên và tại vị trí á quân [12]. Bài hát được chứng nhận đĩa bạch kim hai lần do Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Canada (CRIA) chứng nhận trong tháng 6 năm 2009, với doanh số bán hàng là 80.000 bản.[13] Tại Australia, "LoveGame" đứng vị trí thứ 92 và vào ngày 11 tháng 5 2009, bài hát đạt vị trí số 4 [14], trở thành đĩa đơn thứ 3 của Lady Gaga nằm trong top 5 ở Úc. Đến ngày 6 tháng 7 năm 2009, bài hát được chứng nhận đĩa bạch kim của Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Úc (ARIA).[15]
Đầu năm 2009, bài hát xuất hiện trên bảng xếp hạng UK Singles Chart tại vị trí 89 chỉ nhờ Download. "LoveGame" trở lại bảng xếp hạng tại vị trí 64 sau khi chính thức phát hành đĩa đơn và dừng lại tại vị trí 19, ca khúc trở thành thứ hạng đầu tiên của Lady Gaga thấp nhất ở Anh. Bài hát này cũng đứng vị trí thứ 6 ở Pháp [16] và leo lên đến vị trí thứ 5 vào tuần kế tiếp [17]. "LoveGame} ra mắt tại vị trí 19 [18] và 38 [19] tại vùng Flanders và vùng Wallonia của Bỉ. Sau đó tiếp tục giành vị trí 6 tại Flanders [18] và vị trí 5 tại Wallonia [20].
Giải thưởng[sửa]
| Năm | Đề cử cho | Giải thưởng | Kết quả |
|---|---|---|---|
| 2009 | Giải MP3 Music | The RCD Award - Radio / Charts / Downloads | Đoạt giải |
| 2010 | Giải BMI | BMI Pop Awards Award-Winning Songs | Đoạt giải |
Danh sách ca khúc và định dạng[sửa]
|
|
Thông tin bài hát[sửa]
- Sáng tác – Lady Gaga, RedOne
- Sản xuất – RedOne
- Dụng cụ và lập trình – RedOne
- Ghi âm và kỹ thuật – RedOne
- Giọng hát – Lady Gaga
- Chỉnh sửa âm thanh – Robert Orton
Xếp hạng và doanh số[sửa]
Tiền nhiệm và đương nhiệm xếp hạng[sửa]
| Tiền nhiệm: "Body Rock" của Oceana |
Đĩa đơn quán quân ‘‘Billboard’’ Hot Dance Club Play Ngày 25 tháng 7, 2009 – Ngày 1 tháng 8, 2009 |
Kế nhiệm: "Love etc." của Pet Shop Boys |
| Tiền nhiệm: "Don't Trust Me" của 3OH!3 |
Đĩa đơn quán quân ‘‘Billboard’’ Pop Songs Ngày 18 tháng 7, 2009 – Ngày 1 tháng 8, 2009 |
Kế nhiệm: "Waking Up in Vegas" của Katy Perry |
Lịch sử phát hành[sửa]
| Vùng | Ngày | Định dạng |
|---|---|---|
| Canada | 24 tháng 3, 2009 | Digital download[25] |
| Hoa Kỳ | 31 tháng 3, 2009 | Digital download[26][57] |
| 12 tháng 5, 2009 | Airplay[58] | |
| Digital Download – The Remixes[59] | ||
| 9 tháng 6, 2009 | CD single – The Remixes[23] | |
| Đức | 26 tháng 6, 2009 | CD single[60] |
| Pháp | 11 tháng 5, 2009 | CD Single[61] |
| Vương Quốc Anh | 21 tháng 9, 2009 | CD Single[62] |
Tài liệu tham khảo[sửa]
- ^ (2008) Ghi chú album The Fame [Liner Notes (CD)]. Interscope Records.
- ^ Scaggs, Austin (19 tháng 2 năm 2009). “The "Just Dance" singer on leotards, the first lady and raunchy lyrics”. Rolling Stone (Jann Wenner). ISSN 0035-791X.
- ^ Adams, Cameron (7 tháng 4 năm 2009). “Lady GaGa Love Game video banned from Australian TV”. The Australian Daily Telegraph (News Corporation). tr. 1. Truy cập ngày 7 tháng 4 năm 2009.
- ^ “Video LoveGame bị trục trặc”. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2010.
- ^ Caulfield, Keith (12 tháng 3 năm 2009). “Miley Cyrus' 'Climb' Debuts High On Hot 100”. Billboard (Nielsen Business Media, Inc.). Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2009.
- ^ Ben-Yehuda, Ayala; Pietroluongo, Silvio (4 tháng 6 năm 2009). “Lady GaGa Takes Two Top 10 Spots On Billboard's Hot 100”. Billboard (Nielsen Business Media, Inc.). Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2009.
- ^ a b c Ben-Yehuda, Ayala (18 tháng 6 năm 2009). “Black Eyed Peas Take Top Two Slots On Billboard Hot 100”. Billboard (Nielsen Business Media, Inc). Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2009.
- ^ Grein, Paul (20 tháng 1 năm 2010). “Week Ending 17 tháng 1, 2010: 21 Million Lady Gaga Fans Can't Be Wrong”. Yahoo!. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2009.
- ^ Grein, Paul (23 tháng 7 năm 2010). “Chart Watch Extra: Gaga's Nice Round Number”. Yahoo!. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2009.
- ^ “Canadian Hot 100”. Billboard. acharts.us. 16 tháng 9 năm 2008. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2009.
- ^ “Canadian Hot 100”. Billboard. acharts.us. 4 tháng 4 năm 2009. Truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2009.
- ^ a b “Canadian Hot 100”. Billboard. acharts.us. 30 tháng 5 năm 2009. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2009.
- ^ a b “CRIA – Gold & Platinum certifications – tháng 6 năm 2009”. Canadian Recording Industry Association. Truy cập ngày 17 tháng 7 năm 2009.
- ^ a b “Australian Singles Chart”. Australian Recording Industry Association. acharts.us. 11 tháng 5 năm 2009. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2009.
- ^ a b “Australian Recording Industry Association”. 31 tháng 3 năm 2009. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2009.
- ^ “France Singles Chart”. Syndicat National de l'Édition Phonographique. acharts.us. 16 tháng 5 năm 2009. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2009.
- ^ a b SNEP, Reporter (6 tháng 8 năm 2009). “Tops Albums : retour gagnant pour Eminem”. Syndicat National de l'Édition Phonographique (ChartsinFrance). Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2009.
- ^ a b c “Belgian Flanders Singles Chart”. Ultratop 50. Hung Medien. 23 tháng 5 năm 2009. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2009.
- ^ “Belgian Wallonia Singles Chart”. Ultratop 40. Hung Medien. 16 tháng 5 năm 2009. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2009.
- ^ a b “Belgian Wallonia Singles Chart”. Ultratop 40. Ultratop.be. 6 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 8 tháng 6 năm 2009.
- ^ a b “Australia release date”. jbhifionline.com.au. Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2009.
- ^ “UK iTunes Remix EP”. iTunes. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2009.
- ^ a b “LoveGame – US CD Single”. Discogs. 12 tháng 5 năm 2009. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2009.
- ^ “Lady Gaga – EU 'The Remixes' CD single”. Hyangmusic.com. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2010.
- ^ a b “LoveGame Canadian iTunes remix”. iTunes. Truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2009.
- ^ a b “LoveGame American iTunes remix”. iTunes. Truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2009.
- ^ “Lady Gaga – French iTunes Remixes”. iTunes. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2009.
- ^ “Lady Gaga – French iTunes Remixes (Bonus Track Version)”. iTunes. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2009.
- ^ “UK CD Single”. hmv.com. Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2009.
- ^ “Austria Singles Top 75”. Ö3 Austria Top 40. acharts.us. 15 tháng 7, 2009. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2009.
- ^ “RADIO TOP100 Oficiální – Lady Gaga LoveGame”. International Federation of the Phonographic Industry. IFPIcr.cz. 28 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2009.
- ^ “Bảng xếp hạng Hà Lan”. Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2010.
- ^ a b “Lady GaGa Album & Song Chart History – European Hot 100”. Billboard. Nielsen Company. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2010.
- ^ “Bảng xếp hạng Phần Lan”. Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2010.
- ^ Kent, Vander (7 tháng 7 năm 2009). “Michael Jackson regiert posthum die Charts”. Media Control Charts (Media-Control.de).
- ^ “Single (track) Top 10 lista – week 2009/30”. Mahasz. Magyar Hanglemezkiadók Szövetsége. 20 tháng 7 năm 2009. Truy cập ngày 11 tháng 8 năm 2009.
- ^ “Bảng xếp hạng Ireland”. Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2010.
- ^ “Japan Singles Top 100”. Billboard. acharts.us. 29 tháng 8 năm 2009. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2009.
- ^ “Bảng xếp hạng New Zealand”. Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2010.
- ^ “Sweden Singles Top 60”. Sverigetopplistan. acharts.us. 3 tháng 9 năm 2009. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2009.
- ^ “Swiss Singles Top 75”. Swiss Music Charts. acharts.us. 9 tháng 8 năm 2009. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2009.
- ^ “Bảng xếp hạng Anh”. Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2010.
- ^ Trust, Gary (19 tháng 6 năm 2009). “Lady Gaga Makes Mainstream Top 40 History”. Billboard (Nielsen Business Media, Inc). Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2009.
- ^ “Latest Gold / Platinum Singles – RadioScope New Zealand”. Recording Industry Association of New Zealand. RadioScope New Zealand. 11 tháng 4, 2010. Truy cập 13 tháng 4, 2010.
- ^ “RIAA – Gold & Platinum”. Recording Industry Association of America. 7 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2010.
- ^ “ARIA Charts - End Of Year Charts - Top 100 Singles 2009”. Australian Recording Industry Association. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2010.
- ^ “Austrian Charts - End Of Year Charts - Top 100 Singles 2009”. Ö3 Austria Top 40. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2010.
- ^ “Jaaroverzichten 2009 (Flanders)” (bằng Dutch). Ultratop. 2009. Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2010.
- ^ “Rapports Annuels 2009 (Wallonia)” (bằng French). Ultratop. 2009. Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2010.
- ^ “Charts Year End: Canadian Hot 100”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. 31 tháng 12 năm 2009. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2010.
- ^ “Jaarlijsten 2009”. MegaCharts. 2009. Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2010.
- ^ “Best selling digital singles in 2009 in France”. Syndicat National de l'Édition Phonographique. tr. 30. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2010.
- ^ “Årslista Singlar – År 2009”. Swedish Recording Industry Association. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2010.
- ^ “2009 Year End Swiss Singles Chart”. Swiss Music Charts. 2009. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2010.
- ^ “UK Year End Chart 2009”. Charts Plus. 30 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2010.
- ^ “Charts Year End: The Billboard Hot 100”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. 31 tháng 12 năm 2009. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2010.
- ^ 03:14 (31 tháng 3 năm 2009). “Lady Gaga : Releases : LoveGame [Robots To Mars Remix]”. Interscope Records. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2009.
- ^ “LoveGame radio airing date”. Radio & Records. 12 tháng 5 năm 2009. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2009.
- ^ “LoveGame (The Remixes) - Single by Lady GaGa - Download LoveGame (The Remixes) - Single on iTunes”. iTunes. 12 tháng 5 năm 2009. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2009.
- ^ “Lady Gaga – LoveGame – Germany CD Single”. Ladygaga.com. Truy cập ngày 8 tháng 6 năm 2009.
- ^ “Love game : Lady Gaga en CD single : tous les disques à la Fnac”. Musique.fnac.com. 17 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2009.
- ^ “music: Lovegame (2009)”. HMV. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2009.
Liên kết ngoài[sửa]
|
|||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||