Luangprabang (huyện)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Luang Prabang
Welterbe.svg Di sản thế giới UNESCO
LuangPrabang VatSensoukharam2 tango7174.jpg
Quốc gia  Lào
Kiểu Văn hóa
Hạng mục ii, iv, v
Tham khảo 479
Vùng UNESCO Châu Á
Lịch sử công nhận
Công nhận 1995 (kì thứ 19)

Luangprabang (phiên âm kiểu Việt Nam là Luông Pra Băng, Luông Pha Băng hay Luổng Phạ Bang; phiên âm Latinh kiểu phương Tây: Luang Prabang, hay Louangphrabang), là một huyện ở miền Bắc Lào. Các trụ sở chính quyền của tỉnh Luang Prabang được đặt ở huyện này.

Theo các thư tịch cổ Việt, địa điểm này còn có tên gọi là Nam Chưởng, và theo Đại Nam chính biên liệt truyện, nó còn có tên là Lao Long quốc, tục gọi là Lào Qua Gia hay Mường Luổng. Trước kia nó từng là kinh đô của một vương quốc tên Lan Xang ("vương quốc triệu voi") từ thế kỉ 14 đến năm 1946. Trước năm 1975, nó vẫn là thủ đô hoàng gia, trung tâm của Vương quốc Lào. Ngày nay, nó là tỉnh lỵ của tỉnh Luông Pra Băng. Luangprabang được UNESCO công nhận là một di sản thế giới (văn hóa).

Luangprabang nằm cách Viêng Chăn 425 km về phía Bắc, bên sông Mê Công. Dân số của huyện này khoảng 22.000 người.

Tên gọi[sửa | sửa mã nguồn]

Trong danh từ Luổng Phạ Bang, "Luổng" là một từ Tày - Thái, có nghĩa gốc là to, lớn, trong tiếng Lào thì "luổng" cũng đã chuyển biến thành một danh từ riêng biệt để chỉ nhân vật cao cả, người có chức quyền cao, nghĩa là "đấng", "đức". "Phạ" là từ Lào gốc tiếng Phạn, dùng để chỉ Đức Phật hoặc nhà sư và khi đứng trước một danh từ chỉ người thì nó chỉ tính chất thiêng liêng, cao cả của nhân vật đó. Còn "bang" là một từ "thuần Lào", nghĩa là "mỏng" (nghĩa gốc), "mảnh mai", "mảnh khảnh", tương tự ở nhiều ngôn ngữ Tày - Thái. Dịch sát nghĩa thì ba tiếng "Luổng Phạ Bang" có nghĩa là "Đức Phật mảnh khảnh".[1]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Vị trí thành phố

Muang Sua hay Mường Xoa là tên cũ của Luangprabang. Sử Lào ghi là Khun Lo, một thủ lĩnh người Thái chiếm lấy xứ này năm 698, nhân khi quân Nam Chiếu đang bận chinh chiến ở mặt khác. Khun Lo được cha mình là Khun Borom ban tặng thành phố đó. Khùn Borom gắn liền với truyền thuyết Lào về việc thành lập thế giới, truyền thuyết chung của dân tộc Lào cùng với người Shan và các dân tộc khác trong vùng. Khun Lo đã lập ra một triều đại với mười lăm đời vua nối tiếp nhau cai trị vùng Mường Xoa độc lập và là một giai đoạn yên ổn kéo dài một thế kỷ.

Cung điện hoàng gia cũ tại Luangprabang, hiện nay là bảo tàng

Nửa cuối thế kỷ 8, Nam Chiếu thường can thiệp vào công việc của các công quốc vùng trung châu thổ sông Cửu Long, dẫn tới việc chiếm Mường Xoa năm 709. Các hoàng tử ở Nam Chiếu hay những vị quan cai trị đã thay thế các lãnh chúa quý tộc người Thái. Thời gian của cuộc chiếm đóng này hiện chưa được biết, nhưng có lẽ nó đã kết thúc trước khi diễn ra cuộc Bắc tiến của Đế quốc Khmer dưới thời vua Indravarman I (khoảng 877-89) và kéo dài tới tận các vùng lãnh thổ của Sipsong Panna ở thượng lưu sông Cửu Long.

Cùng lúc ấy, người Khmer thành lập một tiền đồn ở Xay Fong gần Viêng Chăn, và Chămpa kéo dài tới tận miền Nam nước Lào, tiếp tục hiễn diện trên hai bờ sông Cửu Long đến tận năm 1070. Chanthaphanit, vị quan địa phương cai trị Xay Fong, di chuyển về phía Bắc đến Mường Xoa và được chấp nhận một cách hòa bình làm người cai trị ở đó sau khi các vị quan của Nam Chiếu rút đi. Chanthaphanit và con trai có thời gian cầm quyền rất lâu, trong giai đoạn đó vùng này bắt đầu được gọi theo cái tên bằng tiếng TháiXiêng Đông-Xiêng Thoong. Cuối cùng triều đình này tham dự vào cuộc xung đột giữa một số công quốc. Khun Chuang, một vị cai trị hiếu chiến có thể từng là một người Kammu (những cách đánh vần khác gồm Khamu và Khmu), đã mở rộng lãnh thổ của mình sau khi chiến đấu với các công quốc khác và có thể đã cai trị trong khoảng từ 1128 đến 1169. Dưới thời Khun Chuang, một dòng họ duy nhất đã cai trị một vùng lãnh thổ rộng lớn và tái lập hệ thống hành chính kiểu Xiêm từ thế kỷ thứ 7. Ở một số khía cạnh, Phật giáo tiểu thừa đã bị gộp vào Phật giáo đại thừa.

Xieng Dong Xieng Thong đã trải qua một giai đoạn ngắn dưới quyền bá chủ của người Khmer thời Jayavarman VII từ 1185 đến 1191. Tới năm 1180 Sipsong Panna đã giành lại được độc lập từ Khmer, tuy nhiên năm 1238 một cuộc nổi dậy từ bên trong tiền đồn của Khmer tại Sukhodaya đã dẫn tới việc trục xuất các lãnh chúa Khmer.

Năm 1353 Xiêng Đông-Xiêng Thoong trở thành thủ đô của Lan Xang. Năm 1560 Vua Setthathirath I di chuyển thủ đô tới Viêng Chăn, hiện nay vẫn là thủ đô của Lào.

Năm 1707, Lan Xang tan rã và Luangprabang trở thành thủ đô của Vương quốc Luangprabang độc lập. Khi Pháp sáp nhập Lào, Pháp công nhận Luangprabang là nơi cư ngụ hoàng gia của Lào. Cuối cùng, vị vua cai trị Luangprabang trở thành đồng nghĩa với nguyên thủ quốc gia của Nhà nước bảo hộ Lào thuộc Pháp. Khi Lào giành lại độc lập, vua Luangprabang, Sisavang Vong, trở thành lãnh đạo quốc gia của Vương quốc Lào.

Các triều đại tại Luangprabang[sửa | sửa mã nguồn]

  • Khun Lo, vị lãnh chúa đã lập ra thành phố
  • Phà Ngùm, hoàng tử Luangprabang người lập ra Lan Xang
  • Oun Kham, nhà vua cai trị dưới thời Pháp
  • Kham Souk (Zakarine), nhà vua cai trị thời Pháp và có tư tưởng độc lập
  • Sisavang Vong, nhà vua thời Pháp, và khi Pháp trao lại độc lập cho Lào, đã trở thành vua của toàn bộ vương quốc

Thắng cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Luangprabang nhìn từ hữu ngạn sông Mê Công (hình toàn cảnh)

Vận tải[sửa | sửa mã nguồn]

Luông Pra Băng có Sân bay quốc tế Luang Prabang với đường bay thẳng tới

Luangprabang có đường bộ nối tới:

Sông Cửu Long là một đường nối vận tải quan trọng. Có thể đi tới Huay Xai, phía thượng nguồn gần biên giới Thái Lan, bằng tàu thủy chậm trong hai ngày, với một điểm dừng tại Pak Beng.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ An Chi. Luang Prabang và Viêng Chăn. Báo Năng lượng mới điện tử. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2013.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]