Luis Suárez Miramontes

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Luis Suárez
Luis Suárez Miramontes.JPG
Luis Suárez, former player of Spain national team in 1962
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Luis Suárez Miramontes
Chiều cao 1,75 m (5 ft 9 in)
Vị trí Tiền vệ
CLB trẻ
Perseverancia
1949–1953 Fabril
CLB Chuyên nghiệp*
Năm CLB Trận (Bàn)
1953–1954 Deportivo La Coruña 17 (3)
1954–1955 España Industrial 21 (6)
1955–1961 F.C. Barcelona 122 (61)
1961–1970 Internazionale 256 (42)
1970–1973 U.C. Sampdoria 63 (9)
Tổng 458 (115)
Đội tuyển quốc gia
1957–1972 Tây Ban Nha 32 (14)
Đội quản lý
1975 Internazionale
1975 U.C. Sampdoria
1975–1976 SPAL
1976–1977 Como
1977–1978 Cagliari Calcio
1978–1979 Deportivo La Coruña
1980–1988 Spain U21
1988–1991 Tây Ban Nha
1992 Internazionale
1994 Albacete
1995 Internazionale
* Chỉ tính số trận và số bàn thắng
được ghi ở giải Vô địch quốc gia
.
† Số trận khoác áo (Số bàn thắng).

Luis Suárez, tên đầy đủ là Luis Suárez Miramontes (sinh 2 tháng 5 năm 1935 tại La Coruña, Galicia) là cựu cầu thủ bóng đáhuấn luyện viên người Tây Ban Nha. Ông chơi ở vị trí tiền vệ cho các câu lạc bộ Deportivo de La Coruña, CD España Industrial, FC Barcelona, Inter Milan, Sampdoriađội tuyển Tây Ban Nha. Suárez được coi là một trong những cầu thủ vĩ đại nhất của Tây Ban Nha, với kĩ thuật qua người khéo léo và cú sút đầy uy lực. Năm 1960 ông là cầu thủ đầu tiên sinh trưởng tại Tây Ban Nha giành được danh hiệu Quả bóng vàng châu Âu. Năm 1964 ông cùng đội tuyển Tây Ban Nha vô địch Euro 1964. Ông là thành viên chủ chốt của FC Barcelona có nhiều thành công trong thập niên 1950, trước khi ông tới Inter Milan. Tại đây ông cũng là thành viên quan trọng của đội bóng huyền thoại Inter vĩ đại trong thập niên 1960. Ông kết thúc sự nghiệp cầu thủ năm 1973, sau ba mùa bóng chơi tại Sampdoria.

Suárez sau đó chuyển sang sự nghiệp huấn luyện. Ông từng dẫn dắt Inter Milan 3 lần khác nhau, trong đó hai lần sau với vai trò tạm quyền. Suárez cũng đã làm huấn luyện viên đội tuyển U21 Tây Ban Nha và đội tuyển Tây Ban Nha. Với đội tuyển Tây Ban Nha, ông đã dẫn dắt 27 trận và lọt vào được vòng hai World Cup 1990. Ông còn dẫn dắt vài câu lạc bộ Ý và Tây Ban Nha.

Khởi đầu sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Suárez bắt đầu sự nghiệp cầu thủ với câu lạc bộ Deportivo de La Coruña năm 1949 và tham gia ở đội trẻ cho đến khi được chơi ở La Liga lần đầu tiên ngày 6 tháng 12 năm 1953 trong trận thắng 6-1 trước FC Barcelona. Các đồng đội của ông ở Deportivo có PahiñoArsenio Iglesias. Ông chơi 17 trận và ghi được 3 bàn cho Deportivo trong mùa bóng đó. Năm 1954 ông chuyển tới FC Barcelona nhưng hầu hết mùa bóng 1954-55 chơi cho CD España Industrial, câu lạc bộ dự bị của FC Barcelona.

FC Barcelona[sửa | sửa mã nguồn]

Từ 1955 tới 1961 Suárez thường xuyên có mặt trong đội hình FC Barcelona cùng với các đồng đội như Ladislao Kubala, Zoltán Czibor, Sándor Kocsis, RamalletsEvaristo. Với sự dẫn dắt của Helenio Herrera, câu lạc bộ và Suárez giành được cú đúp La Liga/Cúp Quốc gia Tây Ban Nha năm 1959 và La Liga/Fairs Cup (tiền thân của Cúp UEFA) năm 1960. Suárez được bình chọn là Quả bóng vàng châu Âu năm 1960. Một trong những trận đấu cuối cùng của ông tại FC Barcelona là chung kết Cúp C1 châu Âu năm 1961 (thua SL Benfica 2-3).

Inter Milan[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1961 Suárez trở thành cầu thủ đắt giá nhất vào thời điểm đó, khi FC Barcelona chuyển nhượng ông cho Inter Milan với giá 142.000 bảng Anh. Ông tiếp bước ông thầy Helenio Herrera sang Inter. Suárez trở thành cầu thủ chủ chốt trong đội hình Inter vĩ đại giành được 3 chức vô địch Serie A, 2 Cúp C1 châu Âu và 2 Cúp Liên lục địa. Từ 1961 tới 1970 ông thi đấu 328 trận cho Inter và ghi được 55 bàn.

Đội tuyển Tây Ban Nha[sửa | sửa mã nguồn]

Suárez chơi 32 trận cho đội tuyển Tây Ban Nha và ghi được 14 bàn thắng từ năm 1957 tới 1972. Ông có trận ra mắt vào ngày 6 tháng 12 năm 1957 trong trận đại thắng 6-1 trước đội tuyển Hà Lan và có mặt trong cả 2 World Cup: 19621966. Thành tích cao nhất của ông với đội tuyển Tây Ban Nha là chức vô địch Euro 1964 với các đồng đội Josep Fusté, Amancio Amaro, José Ángel IribarJesus María Pereda.

Thành tích[sửa | sửa mã nguồn]

FC Barcelona

Inter Milan

Đội tuyển Tây Ban Nha


Tiền nhiệm:
Alfredo Di Stéfano
Quả bóng vàng châu Âu
1960
Kế nhiệm:
Omar Sivori

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]