Luka Modrić

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Luka Modrić
Luka Modrić 2010.jpg
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Luka Modrić[1]
Ngày sinh 9 tháng 9, 1985 (29 tuổi)
Nơi sinh Zadar, Nam Tư
Chiều cao 1,73 m (5 ft 8 in)
Vị trí Tiền vệ công
Thông tin về CLB
CLB hiện nay Real Madrid
Số áo 19
CLB trẻ
2002–2003 Dinamo Zagreb
CLB chuyên nghiệp*
Năm CLB ST (BT)
2003–2008 Dinamo Zagreb 112 (31)
2003–2004 Zrinjski Mostar (cho mượn) 22 (8)
2003–2004 Inter Zaprešić (cho mượn) 18 (4)
2008–2012 Tottenham Hotspur 127 (13)
2012– Real Madrid 67 (4)
Đội tuyển quốc gia
2001 U-15 Croatia 2 (0)
2001 U-17 Croatia 2 (0)
2003 U-18 Croatia 7 (0)
2003–2004 U-19 Croatia 11 (1)
2004–2005 U-21 Croatia 15 (2)
2006– Croatia 73 (8)
* Chỉ tính số trận và số bàn thắng được ghi ở giải Vô địch quốc gia cập nhật lúc 17 tháng 5, 2014 (UTC).

† Số trận khoác áo (số bàn thắng).

‡ Thống kê về thành tích tại ĐTQG được cập nhật lúc 6 tháng 3, 2014 (UTC)

Luka Modrić [ˈluːka ˈmɔːdritɕ] (sinh ngày 9 tháng 9 năm 1985 tại Zadar) là cầu thủ bóng đá người Croatia thi đấu ở vị trí tiền vệ trung tâm tại câu lạc bộ Real MadridĐội tuyển bóng đá quốc gia Croatia.

Sự nghiệp câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Dinamo Zagreb[sửa | sửa mã nguồn]

Modrić kí hợp đồng thi đấu cho Dinamo Zagreb ở tuổi 17 vào năm 2002.[2], nhưng sau 1 mùa bóng, năm 2003, anh được đem cho Zrinjski Mostar, một câu lạc bộ Bosnia và Herzegovina mượn và ở tuổi 18 anh trở thành cầu thủ xuất sắc nhất trong năm của Giải vô địch bóng đá quốc gia Bosnia và Herzegovina. Mùa giải tiếp theo anh tiếp tục được cho mượn tại Inter Zaprešić và anh chơi một mùa giải tại đây và cùng câu lạc bộ này giành vị trí thứ hai. Anh cũng nhận danh hiệu cầu thủ trẻ triển vọng nhất của bóng đá Croatia năm 20042005 và được gọi trở lại Dinamo Zagreb. Tại Zagreb, Modrić đã cùng câu lạc bộ giành chức vô địch giải quốc gia ba năm liên tiếp.[3] Năm 2007, anh nhận danh hiệu Cầu thủ xuất sắc nhất giải vô địch bóng đá Croatia.[4] Modric sau đó kí hợp đồng 10 năm với Dinamo Zagreb đến năm 2015.[5]

Khả năng của Modrić ngày càng được nâng cao dưới màu áo Dinamo Zagreb. Sở trường của anh là vị trí tiền vệ trung tâm và anh còn là cầu thủ dẫn dắt lối chơi của đội. Từ đó, nhiều câu lạc bộ nổi tiếng ở giải Premier League như Arsenal, ChelseaNewcastle quan tâm đến anh và họ lần lượt đề nghị những mức chuyển nhượng hấp dẫn. Nhưng cuối cùng Modric đã chuyển đến thi đấu cho Tottenham Hotspur.

Tottenham Hostpurs[sửa | sửa mã nguồn]

2008-2009[sửa | sửa mã nguồn]

Modrić đồng ý gia nhập Tottenham vào ngày 26 tháng 4 năm 2008 sau cuộc kiểm tra y tế và được cấp giấy phép lao động. Anh là bản hợp đồng đầu tiên trong kì chuyển nhượng hè 2008 của Tottenham cũng như của giải Premier League. Bản hợp đồng của anh kéo dài 6 năm và phí chuyển nhượng là 15,8 triệu bảng Anh.[6]

Modrić có trận đầu tiên cho Tottenham vào ngày 28 tháng 7 2008 trong trận giao hữu trước mùa giải gặp Norwich City. Anh chơi 45 phút tại Carrow Road trong chiến thắng 5-1 của Tottenham.[7] Trận đầu tiên tại giải Ngoại hạng Anh 2008-2009 của Modrić là trận gặp Middlesbrough tại sân Riverside vào ngày 16 tháng 8. Trong trận này Tottenham thua 2-1.[8]

Sau những thành tích tệ hại đầu mùa, huấn luyện viên Juande Ramos bị sa thải và thay thế bằng Harry Redknapp. Dưới sự dẫn dắt của tân huấn luyện viên, Modrić đóng vai trò tiền vệ công kiến tạo cơ hội ghi bàn cho cặp tiền đạo Darren BentRoman Pavlyuchenko.[9] Ngày 6 tháng 11, anh đã có dịp đối đầu với câu lạc bộ cũ Dynamo Zagreb tại cúp UEFA và chính anh là người đã chuyền bóng để Darren Bent mở tỉ số trong chiến thắng 4-0.[10] Ngày 18 tháng 12, anh ghi bàn đầu tiên cho Tottenham trong trận hòa 2-2 với Spartak Moscow của Nga trong khuôn khổ UEFA Cup.[11] Anh có bàn thắng đầu tiên tại Premier League vào lưới Newcastle United 3 ngày sau đó, trận đấu mà Tottenham đã để thua 1-2.[12]. Ngày 26 tháng 4 năm 2009, Modric ghi bàn thắng nâng tỉ số lên 2-0 cho Tottenham trong trận gặp Manchester United nhưng sau đó đội bóng của anh đã bị thua ngược 5-2.[13]

2009-2010[sửa | sửa mã nguồn]

Modric và các đồng đội đã có sự khởi đầu rất thuận lợi ở Premier League 2009-10 với chuỗi 4 trận đầu tiên toàn thắng. Thế nhưng trong trận thắng 2-1 trước Birmingham City, sau pha vào bóng của Lee Bowyer, Modric đã bị chấn thương nặng và buộc phải ra sân ở phút 49, thay bằng tiền đạo Peter Crouch. Kết quả chụp X quang sau đó cho thấy anh bị gãy xương mác chân phải.[14] Theo kết quả xét nghiệm, anh sẽ phải nghỉ thi đấu ít nhất 6 tuần lễ. Anh cũng đã phải lên tiếng thừa nhận rằng chấn thương đang ngăn cản mình thi đấu những trận quan trọng cho câu lạc bộ và cả đội tuyển quốc gia. "Tôi thường xuyên là nạn nhân của những pha vào bóng nguy hiểm. Chấn thương đang làm hại tôi khi không thể thi đấu nhiều trên sân cỏ. Cứ đà này tôi sẽ mất phong độ vì luôn phải tập luyện trong phòng hồi phục thể lực."[15]

Ngày 29 tháng 12, Modrić đánh dấu sự trở lại sau 4 tháng nghỉ thi đấu với bàn thắng mở tỉ số trong chiến thắng 2-0 trước West Ham United, qua đó giúp Tottenham giành lấy vị trí tốp 4 từ tay Aston Villa.[16] Ngày 28 tháng 2 năm 2010, Modric đã ghi bàn vào lưới Everton nâng tỉ số lên 2-0 bằng một cú lốp bóng điệu nghệ.[17] Chung cuộc Tottenham thắng 2-2 và tiếp tục đứng ở vị trí thứ 4.

Ngày 30 tháng 5 năm 2010, Modrić đã ký vào bản hợp đồng mới có thời hạn 6 năm, giúp anh gắn bó với Tottenham đến năm 2016.[18]

2010-2011[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 11 tháng 9, anh có bàn thắng đầu tiên trong mùa giải 2010-11 khi ghi bàn mở tỉ số trong trận hoà 1-1 với West Brom ở phút 27. Tuy nhiên chỉ năm phút sau anh đã phải tập tễnh rời sân do chấn thương mắt cá chân tuy nhiên sau đó chấn thương này đã không nặng như dự đoán ban đầu là phải nghỉ thi đấu vài tháng.[19][20] Ngày 24 tháng 11, anh có bàn thắng đầu tiên trong sự nghiệp tại UEFA Champions League với bàn thắng nâng tỉ số lên 2-0 trong chiến thắng 3-0 trước Werder Bremen, giúp Tottenham chính thức lọt vào vòng 1/16 và anh cũng được Goal.com bầu là cầu thủ xuất sắc nhất trận đấu.[21] Vào cuối mùa giải này, Modrić đã được bầu chọn là Cầu thủ xuất sắc nhất mùa bóng của Tottenham Hotspur.

Real Madrid[sửa | sửa mã nguồn]

2012–13[sửa | sửa mã nguồn]

Modrić thi đấu cho Real Madrid năm 2013.

Ngày 27 tháng 8 năm 2012, Real Madrid thông báo đã đạt được thỏa thuận với Tottenham về vụ chuyển nhượng Modrić. Phí chuyển nhượng là 33 triệu £ với bản hợp đồng có thời hạn 5 năm. Vụ chuyển nhượng này cũng đã thiết lập mối quan hệ hợp tác mới giữa hai câu lạc bộ.[22][23]

Ngày 29 tháng 8 năm 2012, anh có trận đấu đầu tiên cho Real Madrid trong trận lượt về Siêu cúp Tây Ban Nha với Barcelona. Modrić vào sân ở phút 83 thay cho Mesut Özil và suýt ghi bàn. Chung cuộc Real thắng 2-1 và anh có được danh hiệu đầu tiên cùng Real Madrid.[24] Ngày 3 tháng 11 năm 2012, Modrić ghi bàn thắng đầu tiên cho Real Madrid trong chiến thắng 4-0 trước Real Zaragoza.[25]

Ngày 5 tháng 3 năm 2013, Modrić sau khi vào sân thay Aberloa đã ghi một siêu phẩm vào lưới Manchester United F.C. ngay tại sân Old Trafford qua đó giúp Real Madrid C.F. cân bằng tỷ số trước khi Cristiano Ronaldo mang về bàn thắng quyết định đưa họ vượt qua Manchester United với tỷ số 2-1 (tổng tỷ số là 3-2 sau 2 lượt trận) qua đó ghi tên mình vào vòng tứ kết UEFA Champions League.[26] Đến ngày 16 tháng 3, anh có một pha lập công đẹp mặt khác cho Real Madrid trong chiến thắng 5-2 trước Real Mallorca với một cú volley từ hơn 25 mét.[27][28]

Modrić có mặt trong cả hai trận đấu lượt đi và về Champions League với Borussia Dortmund. Trong trận lượt đi, anh thi đấu ở vị trí tiền vệ tấn công nhưng mờ nhạt và Real thua 4–1. Đến trận lượt về, anh thi đấu ở vị trí thấp hơn và có nhiều đường chuyền tạo cơ hội cho đồng đội, được đánh giá là một trong những cầu thủ thi đấu tốt nhất.[29][30][31][32] Từ tháng 3 năm 2013, phong độ Modrić được cải thiện và anh là cầu thủ có số đường chuyền thành công nhiều nhất đội.[33] Ngày 8 tháng 5, anh kiến tạo bàn mở tỉ số và ghi bàn thắng thứ năm trong chiến thắng 6-2 trước CD Málaga.[34][35][36]

2013–14[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi huấn luyện viên Carlo Ancelotti đến Real, Modrić thường xuyên được xếp đá chính.[37] Anh có bàn thắng đầu tiên trong mùa giải tại trận đấu với F.C. Copenhagen trong khuôn khổ Champions League. Đây cũng là bàn thắng thứ năm của anh cho Real và cả năm bàn thắng đều được ghi từ ngoài vòng cấm địa.[38] Ngày 16 tháng 2, anh có pha lập công đầu tiên tại La Liga 2013-14.[39] Modrić cùng Real giành chức vô địch Copa del Rey 2013–14 sau chiến thắng 2-1 trước FC Barcelona. Trong trận bán kết lượt đi UEFA Champions League với Bayern Munich, anh đã có màn trình diễn vô cùng xuất sắc, giúp Real đánh bại đội bóng nước Đức với tỉ số 1-0.[40] Trong trận lượt về cũng là trận đấu thứ 100 của anh trong màu áo Real Madrid[41], anh đã kiến tạo cho bàn mở tỉ số của Sergio Ramos và chung cuộc Real giành thắng lợi 4-0 và lọt vào trận chung kết.[42] Ngày 24 tháng 5, trong trận chung kết UEFA Champions League 2013-14 với Atlético Madrid được tổ chức trên sân Estádio da Luz, Lisbon, Bồ Đào Nha, Modrić chính là người đã thực hiện quả phạt góc ở phút thứ 93 tạo điều kiện cho Sergio Ramos đánh đầu gỡ hòa 1-1. Sau đó, trong hiệp phụ, Real ghi thêm ba bàn thắng nữa và chính thức có được danh hiệu vô địch Champions League lần thứ mười (la Décima) trong lịch sử.[43][44]

Sự nghiệp đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Modrić lần lượt thi đấu cho các đội U-17, U-19 và U-21 Croatia[45] trước khi được gọi vào đội tuyển quốc gia năm 2006 và có trận đầu tiên trong màu áo đội tuyển quốc gia là trận đấu với Argentina ngày 1 tháng 3 năm 2006 tại Basel, Thuỵ Sĩ. Tại World Cup 2006, giải đấu mà Croatia không vượt qua được vòng bảng, anh được vào sân trong hai trận vòng bảng gặp Nhật BảnÚc. Anh ghi bàn thắng đầu tiên cho đội tuyển là trong trận thắng Ý 2-0 vào ngày 16 tháng 8 năm 2006 tại Livorno.

Tại Euro 2008, Modrić là niềm kì vọng lớn nhất của các cổ động viên Croatia. Trong trận đầu tiên gặp đội tuyến chủ nhà Áo ngày 8 tháng 6 năm 2008, Modrić là người ghi bàn thắng duy nhất của trận đấu từ chấm phạt đền ngay ở phút thứ 4 sau khi Ivica Olić bị René Aufhauser phạm lỗi trong vòng cấm.[46] Trận đấu tiếp theo gặp đội tuyển Đức ngày 12 tháng 6, anh không ghi được bàn nào nhưng đã góp phần giúp Croatia thắng ứng cử viên cho chức vô địch Đức 2-1 nên đã giành danh hiệu Cầu thủ xuất sắc nhất trận đấu vào cuối trận.[47]

Tuy nhiên Croatia đã bị loại sau trận thua Thổ Nhĩ Kỳ trong loạt sút luân lưu trong đó có một pha sút hỏng của Modrić.[48] Khi giải đấu kết thúc, anh được chọn vào đội hình tiêu biểu của giải, là cầu thủ Croatia thứ hai được nhận vinh dự này sau tiền đạo Davor Šuker.[49]

Tại vòng loại World Cup 2010 khu vực Châu Âu, Modrić đã có ba bàn thắng cho đội tuyển Croatia vào lưới Kazakhstan, AndorraUkraina.

Thống kê sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ Mùa bóng Giải ngoại hạng Cúp quốc gia Cúp Châu Âu Tổng cộng
Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng
Tottenham Hotspur
2008–09 34 3 6 1 4 1 44 5
2009–10 25 3 8 0 0 0 33 3
2010–11 7 1 0 0 3 0 10 1
Tổng cộng 66 7 14 1 7 1 87 9

Bàn thắng cho đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

# Ngày Địa điểm Đối thủ Bàn thắng Kết quả Giải đấu
01. 16 tháng 8, 2006 Stadio Armando Picchi, Livorno, Ý  Ý
0 – 2
0 – 2
Giao hữu
02. 7 tháng 10, 2006 Maksimir, Zagreb, Croatia  Andorra
7 – 0
7 – 0
Vòng loại Euro 2008
03. 7 tháng 2, 2007 Kantrida, Rijeka, Croatia  Na Uy
2 – 0
2 – 1
Giao hữu
04. 8 tháng 6, 2008 Ernst Happel Stadion, Viên, Áo  Áo
0 – 1
0 – 1
Euro 2008
05. 6 tháng 9, 2008 Maksimir, Zagreb, Croatia  Kazakhstan
2 – 0
3 – 0
Vòng loại World Cup 2010
06. 15 tháng 10, 2008 Maksimir, Zagreb, Croatia  Andorra
3 – 0
4 – 0
Vòng loại World Cup 2010
07. 6 tháng 6, 2009 Maksimir, Zagreb, Croatia  Ukraina
2 – 2
2 – 2
Vòng loại World Cup 2010
08. 6 tháng 9, 2011 Maksimir, Zagreb, Croatia  Israel
1 – 1
3 – 1
Vòng loại Euro 2012

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Dinamo Zagreb

Real Madrid

Cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

  • Cầu thủ xuất sắc nhất Giải vô địch bóng đá quốc gia Bosnia và Herzegovina(1): 2003
  • Cầu thủ trẻ triển vọng của Croatia(1): 2004
  • Cầu thủ xuất sắc nhất giải vô địch bóng đá Croatia(1): 2007
  • Cầu thủ Croatia xuất sắc nhất năm (3): 2007, 2008, 2011
  • Cầu thủ xuất sắc nhất mùa giải của Tottenham Hotspur (1): 2010-11
  • Đội hình tiêu biểu UEFA Euro 2008

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Statistics”. Premier League. Truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2011. 
  2. ^ “Modric War Hell”. News Of The World. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2008. 
  3. ^ Bojan Puric, Boris Herceg and Igor Kramarsic. “Croatia - List of Champions”. Rec.Sport.Soccer Statistics Foundation. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2008. 
  4. ^ “Modric HNL’s Footballer Of The Year”. Javno. 21 tháng 12 năm 2007. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2008. 
  5. ^ Khẳng định thương hiệu
  6. ^ [1]
  7. ^ “Norwich v Tottenham: Latest”. EDP24 Sport. 28 tháng 7 năm 2008. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2008. 
  8. ^ Lyon, Sam (16 tháng 8 năm 2008). “Middlesbrough 2-1 Tottenham”. BBC Sport. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2008. 
  9. ^ White, Duncan (14 tháng 12 năm 2008). “Dimitar Berbatov fails to silence Tottenham's chorus of boos”. Daily Telegraph. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2008. 
  10. ^ Cúp UEFA, Người Anh toàn thắng: Gỡ thể diện cho Tứ đại gia
  11. ^ Hughes, Ian (18 tháng 12 năm 2008). “Tottenham 2-2 Spartak Moscow”. BBC Sport. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2008. 
  12. ^ Chowdhury, Saj (21 tháng 12 năm 2008). “Newcastle 2-1 Tottenham”. BBC Sport. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2008. 
  13. ^ Ngược dòng ngoạn mục, M.U tiến gần ngôi vương
  14. ^ BDA/58060_Luka_Modric_gay_xuong_mac_Spurs_lo_lang.aspx Luka Modric gẫy xương mác, Spurs lo lắng
  15. ^ Luka Modric: "Chấn thương đã làm hại tôi"
  16. ^ Tottenham - West Ham 2-0: Spurs vào tốp 4
  17. ^ Tottenham gọi, Liverpool trả lời
  18. ^ “Luka signs new six-year contract”. Tottenham Hotspur. 30 tháng 5 năm 2010. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2010. 
  19. ^ Jamie Lillywhite (11 tháng 9 năm 2010). “West Brom 1 - 1 Tottenham”. BBC Sport. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2010. 
  20. ^ N.M (13 tháng 9 năm 2010). “Tottenham: Đến lượt Modric dính chấn thương”. Thể thao & Văn hoá. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2010. 
  21. ^ Alex Young (24 tháng 11 năm 2010). “Tottenham 3-0 Werder Bremen: Kaboul, Modric And Crouch Ease Spurs Into Last 16”. Goal.com. Truy cập ngày 26 tháng 11 năm 2010. 
  22. ^ “Luka Modric firma su contrato con el Real Madrid” (bằng Tiếng Tây Ban Nha). Trang web chính thức của Real Madrid. 27 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2012. 
  23. ^ “Modrić completes move to Madrid”. UEFA.com. 27 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2012. 
  24. ^ Phong Linh (31 tháng 8 năm 2012). “Hậu Siêu cúp: Song và Modric ra mắt thành công”. Bóng Đá +. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2012. 
  25. ^ Ngọc Trung (4 tháng 11 năm 2012). “Nhìn lại chiến thắng thứ 100 của Jose Mourinho tại Madrid”. Dân trí. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2012. 
  26. ^ “Tuyệt phẩm của Modric giúp Real gỡ hòa 1-1”. Vnexpress.net. 
  27. ^ “Real Madrid recover against Real Mallorca with Luka Modric screamer”. The Guardian. Associated Press. 17 tháng 3 năm 2013. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2013. 
  28. ^ Sinanan, Keeghann (17 tháng 3 năm 2013). “Real Madrid 5–2 Mallorca: Modric rocket highlight of Blancos' comeback victory”. goal.com. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2013. 
  29. ^ Cox, Michael (1 tháng 5 năm 2013). “How Mourinho's subs helped Real score two and almost scrape through”. guardian.co.uk. Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2013. 
  30. ^ “El uno a uno del Real Madrid”. marca.com. 1 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2013. 
  31. ^ “Player Ratings: Real Madrid 2–0 Borussia Dortmund (Agg 3–4)”. goal.com. 1 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2013. 
  32. ^ “Real Madrid-Borussia Dortmund Live”. whoscored.com. 1 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2013. 
  33. ^ Mardsen, Samuel (4 tháng 5 năm 2013). “Luka Modric Is Beginning to Look Like a Real Madrid Player After Difficult Year”. bleacherreport. Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2013. 
  34. ^ Atkinson, Tre' (8 tháng 5 năm 2013). “Real Madrid 6–2 Malaga: What We Learned from Los Blancos' Big Win”. bleacherreport. Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2013. 
  35. ^ Pettigrove, Jason (9 tháng 5 năm 2013). “Rating the Real Madrid Players in Their 6–2 Win Against Malaga”. bleacherreport. Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2013. 
  36. ^ Jabalquinto, Diego (9 tháng 5 năm 2013). “Real Madrid surpassed 5,500 goals in La Liga against Malaga”. realmadrid.com. Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2013. 
  37. ^ Cerezo, H. (12 tháng 12 năm 2013). “Modric is Carlo's fifth most used player”. Marca. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2013. 
  38. ^ “Modric: Shades of Old Trafford”. Marca. 11 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2013. 
  39. ^ “Real keep firing against Getafe”. Marca. 16 tháng 2 năm 2014. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2014. 
  40. ^ “Điểm 10 cho Modric”. Tuổi Trẻ Online. 25 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2014. 
  41. ^ “Modric jugó su partido número 100 con el Real Madrid”. realmadrid.com. 29 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2014. 
  42. ^ “Bayern Munich 0-4 Real Madrid”. bbc.com. 29 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2014. 
  43. ^ “Real Madrid 4-1 Atletico Madrid”. UEFA. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2014. 
  44. ^ “Real Madrid lần thứ 10 vô địch Champions League”. Tuổi Trẻ Online. 25 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2014. 
  45. ^ “Kranjcar chases dream”. FIFA.com. 13 tháng 4 năm 2006. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2007. 
  46. ^ “Austria 0-1 Croatia”. bbc.com. 8 tháng 6 năm 2008. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2014. 
  47. ^ “Bilic: Modric is Europe’s best”. Metro News. 13 tháng 6 năm 2008. 
  48. ^ Euro 2008: Croatia 1-1 Turkey (1-3 penalties)
  49. ^ Modrić in EURO's best team

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]