Trường Trung học phổ thông Lê Quý Đôn, Thành phố Hồ Chí Minh
|
|
Thông tin trong bài (hay đoạn) này không thể kiểm chứng được do không được chú giải từ bất kỳ nguồn tham khảo nào. Xin bạn hãy cải thiện bài viết này bằng cách bổ sung chú thích tới các nguồn uy tín. Nếu bài được dịch từ Wikipedia ngôn ngữ khác thì hãy chuyển nguồn tham khảo từ phiên bản đó cho bài này. |
| Trung học Phổ thông Lê Quý Đôn |
|
| Tên gọi khác | Collège Chasseloup-Laubat |
|---|---|
| Khẩu hiệu | |
| Năm thành lập | 1874 |
| Loại hình | Trung học Phổ thông |
| Giám đốc | |
| Hiệu trưởng | |
| Hiệu phó | |
| Giáo viên | |
| Học sinh | |
| Sinh viên | |
| Địa chỉ | |
| Thành phố | Thành phố Hồ Chí Minh |
| Tỉnh | |
| Nước | Việt Nam |
| Điện thoại | |
| Website | http://www.lequydon.edu.vn/ |
Trường Trung học Phổ thông Lê Quý Đôn là một trường phổ thông trung học công lập của Thành phố Hồ Chí Minh. Đây là trường trung học xưa nhất thành phố Hồ Chí Minh, được thành lập năm 1874, với tên gọi ban đầu Collège Chasseloup-Laubat.
Mục lục |
[sửa] Quá trình hình thành và phát triển
Sau khi chiếm được toàn cõi Nam Kỳ, ngày 14 tháng 1 năm 1874, Thống đốc Nam Kỳ, Chuẩn Đô đốc (Contre-amiral) Pháp Jules François Emile Krantz (1821-1914) đã ký nghị định thành lập một ngôi trường trung học tại Sài Gòn nhằm phục vụ nhu cầu đào tạo con em những thực dân người Pháp tại Sài Gòn. Chương trình giảng dạy theo chính quốc, dạy từ tiểu học đến tú tài (chương trình Pháp). Trường sở được khởi công xây dựng ngay vào năm 1874 và hoàn tất vào năm 1877.
Lúc đầu trường có tên Collège Indigène (Trung học bản xứ)[1], không lâu sau được đổi tên thành Collège Chasseloup Laubat, theo tên Bộ trưởng Pháp quốc hải ngoại (còn gọi là Bộ Thuộc địa) lúc bấy giờ là François Marquis de Chasseloup-Laubat (1754-1833). Ban đầu, trường chỉ nhận các học sinh người Pháp, đến đầu thế kỷ 20 thì mở rộng để nhận thêm học sinh người Việt, tuy nhiên phải có quốc tịch Pháp. Do đó, trường phân biệt thành 2 khu:
- Khu dành riêng học trò người Pháp, gọi là Quartier Européen
- Khu dành cho học trò Việt có học thêm giờ tiếng Việt, gọi là Quartier indigène (khu bản xứ)
Cả 2 khu này đều học chung chương trình Pháp và thi tú tài Pháp.
Tuy là một khu trường dành cho những người có quốc tịch Pháp (do đó, trường còn có tên là trường Bổn quốc Sài Gòn, khác với các trường bản xứ khác), vào năm 1926, những học sinh người Việt đã viết lên bảng 4 chữ A.B.L.F, viết tắt câu "A bas les Français" (nghĩa là "Đả đảo thực dân Pháp") trong một lần bãi khoá để tang nhà chí sĩ Phan Chu Trinh.
Ngày 28 tháng 11 năm 1927, Toàn quyền Đông Dương G. Gal ra một nghị định thiết lập tại Chợ Quán một phân hiệu tạm thời của Collège Chasseloup Laubat dành cho học sinh người bản xứ lấy tên là Collège de Cochinchine. Phân hiệu này được đặt dưới sự điều hành của Ban Giám đốc Trường Chasseloup Laubat và môt giáo sư phụ trách tổng giám thị của phân hiệu.
Ngày 11 tháng 8 năm 1928, Toàn quyền Đông Dương tạm quyền René Robert ký nghị định số 3116 gồm 6 điều, thành lập tại Chợ Quán, kể từ đầu niên học 1928-1929 một trường Cao đẳng Tiểu học Pháp bản xứ, chuyển giao phân hiệu tạm thời với trên 200 học sinh của Collège Chasseloup Laubat nói trên vào trường này, có sát nhập một hệ Trung học Đệ nhị cấp bản xứ (Lycée) để thành lập một trường mới, về sau có tên là Lycée Petrus Trương Vĩnh Ký, hay trường Petrus Ký.
Sau năm 1954, với dụng ý tránh gợi nhớ thời thuộc địa, trường được đổi tên là trường Jean Jacques Rousseau, dạy chủ yếu là học sinh người Việt, nhưng vẫn do người Pháp quản lý. Đến 1967, trường được trả lại cho Bộ Quốc gia Giáo dục Việt Nam Cộng hòa và trở thành Trung tâm giáo dục Lê Quý Đôn. Từ 1975, chính quyền Việt Nam vẫn giữ tên gọi Lê Quý Đôn cho ngôi trường này.
[sửa] Kiến trúc khu trường
Trải qua hơn một thế kỷ, kiến trúc ban đầu của ngôi trường vẫn còn gân như nguyên vẹn, gồm bốn dãy nhà cao hai tầng ghép lại có hình chữ "khẩu". Với lối kiến trúc mang đậm chất Tây Âu, trường sở được xem như một kiến trúc cổ có lịch sử văn hóa lâu đời, vẫn giữ gìn được nét truyền thống cổ kính mặc dù đã được trùng tu, sửa chữa. Dựa trên nền kiến trúc cổ, hiện tại trường sở đã xây thêm một số công trình phụ gồm nhà luyện tập thể thao và 10 phòng học kiểu mới. Tính truyền thống và hiện đại được nhà trường chú ý ngay trong khâu thiết kế và trang trí, vì thế ngôi trường Lê Quý Đôn vẫn mang đậm nét cổ kính.
[sửa] Sự kiện
Thời Pháp trường nổi tiếng với nhiều giáo viên và học sinh giỏi được lưu danh. Ngàu nay, trường là một trong những trường đầu tiên thực hiện mô hình chất lượng cao tại thành phố HCM. Tuy bước đầu gặp nhiều khó khăn, nhưng trường đang từng bước khẳng định vị trí trên toàn thành phố. Năm 2009 trường đã hoàn tất lứa đầu tiên của mô hình mới vơí tỉ lệ tốt nghiệp 100% và chính thức trở thành trường Công lập tự chủ tài chính
[sửa] Một số giáo viên và học sinh tiêu biểu thời Pháp
- Phạm Công Tắc, lãnh đạo tối cao của đạo Cao Đài.
- Cao Triều Phát, lãnh đạo Cao Đài Minh Chơn Đạo, Đại Biểu Quốc Hội Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa khóa I.
- Nguyễn An Ninh, nhà cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ 20.
- Phan Văn Chương, cố vấn Ủy ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ, Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Hành chính tỉnh Rạch Giá, Giám đốc Sở Ngân Khố Nam Bộ.
- Trần Văn Giàu, nhà hoạt động cách mạng, nhà khoa học, nhà nghiên cứu lịch sử, triết học và là nhà giáo Việt Nam.
- Nguyễn Văn Hưởng, Giáo sư, Bác sĩ vi trùng học và Đông y, Bộ trưởng Bộ Y tế, Ủy viên Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Đại biểu Quốc hội khóa I, Phó Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa II, III.
- Vương Hồng Sển, nhà văn hóa, học giả, nhà sưu tập đồ cổ nổi tiếng Việt Nam.
- Dương Văn Minh, Tổng Thống cuối cùng của Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa.
- Phạm Ngọc Thảo, Tướng của hai Quân đội: Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, Quân Đội Nhân Dân Việt Nam.
- Trịnh Công Sơn, Nhạc sĩ Tân Nhạc nổi tiếng của Việt Nam.
- Norodom Sihanouk, hiện nay là Thái thượng hoàng của Vương quốc Campuchia.
- Trịnh Xuân Thuận, là một khoa học gia người Mỹ gốc Việt trong lĩnh vực vật lý thiên văn, một nhà văn đã viết nhiều quyển sách có giá trị cao về vũ trụ học và về những suy nghĩ của ông trong tương quan giữa khoa học và Phật giáo.
- Trần Đại Nghĩa, (không học ở trường nhưng được hội ái hữu của trường cấp học bổng 1 năm du học Pháp).
- Lưu Văn Lang, kỹ sư người bản xứ đầu tiên của Việt Nam và toàn cõi Đông Dương, nhà trí thức yêu nước nổi tiếng ở miền Nam nửa đầu thế kỷ 20.
[sửa] Chú thích
- ^ Bấy giờ trường chưa có tên chính thức nên gọi là Trung học bản xứ, còn người dân gọi là Trường Khải Tường vì nằm trong khu đất của chùa Khải Tường cũ.
[sửa] Liên kết ngoài
|
|||||