Màng tai

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Màng tai hay màng nhĩ
Anatomy of the Human Ear.svg
Tai người; màng tai (tympanic membrane) là bộ phận màu xanh lá đậm
View-normal-tympanic-membrane.png
Màng nhĩ phải khi xem bằng dụng cụ mỏ vịt.
Tên Latinh membrana tympani
Giải phẫu học Gray subject #230 1039
MeSH Tympanic+Membrane+Lydia
Dorlands/Elsevier Tympanic membrane

Màng nhĩ (còn gọi là màng tai - tympanic membrane) là một màng mỏng hình bầu dục, lõm ở giữa, nằm hơi nghiêng ra sau, ngăn cách hoàn toàn ống tai ngoàitai giữa, bịt lên hòm tai như màng trống bịt vào tang trống. Chức năng của nó là để truyền tải âm thanh từ không khí vào tai qua ba xương nhỏ bên trong tai giữa, rồi vào cửa sổ hình bầu dục trong ốc tai chứa đầy chất dịch lỏng. Mục đích của quá trình nhằm chuyển đổi và khuếch đại rung động trong không khí thành rung động trong chất lỏng. Ba xương nhỏ trong tai giữa lần lượt có tên là xương búa, xương đexương bàn đạp.[1] Màng nhĩ tuy có lớp xơ ở giữa tương đối chắc, nhưng lại rất dễ bị phá hủy gây thủng khi có viêm nhiễm hoặc ứ đọng dịch trong tai giữa. Màng nhĩ cũng dễ bị rách thủng khi có các chấn thương cơ học (chọc, ngoáy vào tai), chấn thương áp lực (lặn sâu, bị tát vào tai, sức ép do bom đạn...) hoặc chấn thương âm.

Vỡ hoặc thủng màng nhĩ có thể dẫn đến mất thính giác từ từ. Sự rách hoặc teo lại của màng nhĩ cũng có thể gây ra mất thính lực dẫn hoặc thậm chí là bệnh cholesteatoma.

Vị trí và quan hệ[sửa | sửa mã nguồn]

Màng nhĩ đặc biệt liên quan đến hố sọ giữa, phía sau các xương nhỏ trong tai và dây thần kinh mặt, phía dưới là tuyến mang tai và phía trước là khớp thái dương.

Thủng màng nhĩ chủ động[sửa | sửa mã nguồn]

Người Bajau vùng Thái Bình Dương cố ý làm thủng màng nhĩ của họ từ nhỏ để thuận lợi lặn và săn bắt dưới biển[2]. Những người Bajau già vì thế nghe rất khó khăn[2]. Trong Thế chiến II, không quân Đức cho chọc thủng màng nhĩ của các phi công chiến đấu để hạn chế các vấn đề về áp suất không khí và thậm chí nhét dây thừng vào để các vết thương khó lành, điều này khiến các phi công trên điếc vĩnh viễn.

Thủng màng nhĩ không chủ động[sửa | sửa mã nguồn]

Thủng màng nhĩ không chủ động thường do các chấn thương do nổ trong các cuộc bạo động,[3] trong di chuyển hàng không, thường khi việc tắc nghẽn do một bệnh nhiễm trùng đường hô hấp trên đã ngăn cản cân bằng áp lực trong tai giữa.[4] Nó cũng xảy ra trong thể thaogiải trí như khi bơi lặn mà tiếp nước trong tư thế quá tồi hoặc lặn sâu[5] và võ thuật.[6] Trong tài liệu đã được công bố, 80% đến 95% đã hồi phục hoàn toàn mà không cần sự can thiệp trong 2-4 tuần.[7][8][9] Tuy nhiên, điều hiển nhiên là mức độ chấn thương càng nặng thì sẽ càng nguy hiểm tới thính giác đặc biệt trong môi trường chiến đấu hay quân sự. Tất cả các dạng trên kể cả thể thao đều xếp loại là chấn thương do nổ. Nhiều bệnh nhân sẽ mất thính giác ngắn hạn hoặc ù tai. Một số ít sẽ mất cân bằng tạm thời dữ dội ( chóng mặt ).Họ có thể bị chảy máu từ ống tai nếu màng nhĩ đã bị vỡ.[9]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Purves D, Augustine GJ, Fitzpatrick D, et al., editors. Neuroscience. 2nd edition. Sunderland (MA): Sinauer Associates; 2001. The Middle Ear. Có thể xem tại: http://www.ncbi.nlm.nih.gov/books/NBK11076/
  2. ^ a ă Trang Guardian - Anh quốc
  3. ^ Ritenour AE, Wickley A, Ritenour JS, Kriete BR, Blackbourne LH, Holcomb JB, Wade CE (1 tháng 2 năm 2008). “Tympanic membrane perforation and hearing loss from blast overpressure in Operation Enduring Freedom and Operation Iraqi Freedom wounded”. J Trauma. 64(2 Suppl): S174–8. 
  4. ^ Mirza S, Richardson H (1 tháng 5 năm 2005). “Otic barotrauma from air travel”. J Laryngol Otol. 119(5) (5): 366–70. doi:10.1258/0022215053945723. PMID 15949100. 
  5. ^ Green SM, Rothrock SG, Green EA= (1 tháng 10 năm 1993). “Tympanometric evaluation of middle ear barotrauma during recreational scuba diving”. Int J Sports Med. 14(7) (7): 411–5. doi:10.1055/s-2007-1021201. PMID 8244609. 
  6. ^ “Traumatic tympanic membrane rupture in a mixed martial arts competition”. Current Sports Med Rep 7(1) (1): 10–11. 1 tháng 2 năm 2008. doi:10.1097/01.CSMR.0000308672.53182.3b. PMID 18296937 .  Đã bỏ qua tham số không rõ | author= (trợ giúp)
  7. ^ Kristensen S (1 tháng 12 năm 1992). “Spontaneous healing of traumatic tympanic membrane perforations in man: a century of experience”. J Laryngol Otol. 106(12) (12): 1037–50. PMID 1487657. 
  8. ^ Lindeman P, Edström S, Granström G, Jacobsson S, von Sydow C, Westin T, Aberg B (1 tháng 12 năm 1987). “Acute traumatic tympanic membrane perforations. Cover or observe?”. Arch Otolaryngol Head Neck Surg. 113(12) (12): 1285–7. PMID 3675893. 
  9. ^ a ă Garth RJ (1 tháng 7 năm 1995). “Blast injury of the ear: an overview and guide to management”. Injury. 26(6): 363–6. PMID 363-6. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]