Minh Đức Mã Hoàng hậu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Mã hoàng hậu (Hán Minh Đế))
Bước tới: menu, tìm kiếm
Minh Đức hoàng hậu
明德皇后
Hoàng hậu nhà Hán
Tại vị 60 - 75
Tiền nhiệm Quang Liệt hoàng hậu
Kế nhiệm Chương Đức hoàng hậu
Hoàng thái hậu nhà Hán
Tại vị 75 - 79
Tiền nhiệm Quang Liệt thái hậu
Kế nhiệm Chương Đức thái hậu
Thông tin chung
Phối ngẫu Hán Minh Đế
Hậu duệ Không có
Tên đầy đủ Mã thị (馬氏)
Thụy hiệu Minh Đức hoàng hậu
明德皇后
Hoàng tộc Nhà Hán
Thân phụ Mã Viện
Thân mẫu Lận phu nhân
Sinh 39
Lũng Tây
Mất 79
Lạc Dương
An táng Hiển Triết lăng

Mã hoàng hậu (chữ Hán: 馬皇后; 39-79), thụy hiệuMinh Đức hoàng hậu (明德皇后), là Hoàng hậu của Hán Minh Đế Lưu Trang, Hoàng thái hậu dưới triều Hán Chương Đế Lưu Đát trong lịch sử Trung Quốc. Bà được tán dương rất nhiều do hành động ức chế ngoại thích, việc mà chưa Hoàng hậu nhà Hán nào làm trước đó.

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Mã hoàng hậu vốn là cháu xa đời của tướng Triệu Xa nước Triệu thời Chiến Quốc. Do Triệu Xa có công, được Triệu Hiếu Thành vương phong làm Mã Phục quân, từ đó con cháu lấy Mã làm họ[1].

Thời Hán Vũ Đế, nhà họ Mã dời từ Hàm Đan đến Mậu Lăng. Cuối thời nhà Tân, cha bà là Mã Viện từng được tiến cử làm chức Đại doãn ở Tân Thành. Nhà Tân mất, Mã Viện sang Lũng Tây theo Quỳ Ngao; sau đó theo Hán Quang Vũ Đế bình định Lũng Tây và được phong làm thái thú Lũng Tây. Tại đây, Mã Viện sinh liên tiếp 3 người con gái, trong đó Mã hoàng hậu là con gái út.

Mã thị từ bé thường sống với bà ngoại, mẹ và các anh chị, do cha thường đi chinh chiến xa nhà, tỏ ra là người chăm chỉ, tự rèn luyện tâm tính[2].

Năm 48, nhà họ Mã xảy ra biến cố. Mã Viện xin cùng đi dẹp quân phản loạn ở Vũ Lăng[3], qua đời ngoài mặt trận vì tuổi già. Những người không cùng cánh cùng tố cáo Mã Viện, nên nhà họ Mã bị thu hồi ấn hầu tước. Không lâu sau, anh Mã thị đang làm khách khanh cũng qua đời, rồi mẹ bà vì suy sụp nên cũng mất. Mã thị sống với bà ngoại, tham gia vào việc nhà từ năm lên 10 tuổi. Những người xung quanh đều rất khâm phục cô bé họ Mã[4].

Hoàng hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà họ Mã sa sút thường bị những người quyền quý khinh thị. Để thoát khỏi tình cảnh đó, do sự sắp đặt của người anh họ, năm 51, Mã thị xinh đẹp trúng tuyển vào cung làm phi tần của Hoàng thái tử Lưu Trang. Do tính cẩn thận và nghiêm túc giữ lễ, Mã thị được lòng Âm hoàng hậu và thái tử Lưu Trang.

Năm 57, Mã thị 19 tuổi, Hán Quang Vũ Đế qua đời, Lưu Trang lên ngôi, tức là Hán Minh Đế. Mã thị được phong làm Quý nhân (貴人), địa vị cao thứ 2 Hậu cung, chỉ dưới bậc Hoàng hậu.

Mã quý nhân 20 tuổi vẫn chưa có con, không lâu sau người em họ là Giả thị cũng vào cung sinh được 1 con trai cho Hán Minh Đế tên là Lưu Đát (劉炟). Minh Đế đem Lưu Đát cho Mã quý nhân nuôi làm con.

Năm 60, các đại thần cùng nhau xin lập Mã quý nhân làm Hoàng hậu. Hán Minh Đế hỏi ý Âm thái hậu. Âm thái hậu sẵn có cảm tình với Mã quý nhân nên thuận theo. Từ đó bà trở thành Hoàng hậu nhà Hán. Lưu Đát được lập làm Thái tử.

Mã hoàng hậu rất chăm chỉ đọc sách Kinh Dịch, Kinh Xuân Thu, Sở từ, Chu quan, có nhiều chương bà thuộc lòng[5]. Hoàng hậu thường hay cùng Hán Minh Đế bàn luận vấn đề chính sự, những vấn đề mà ông không thể tự giải quyết được. Để tránh mang tiếng can chính như các Hoàng hậu trước đó, bà khéo léo gợi ý cho Minh Đế. Tuy được sủng ái, nhưng Mã hoàng hậu chưa bao giờ nói đến việc phong tước cho người họ Mã, chính điều này càng khiến Minh Đế yêu quý bà.

Năm 70, xảy ra vụ án Sở vương Lưu Anh. Lưu Anh là em của Hán Minh Đế, tụ tập lực lượng, vẽ bản đồ định mưu phản. Minh Đế bèn tuyên bố phế ngôi Sở vương của Lưu Anh khiến Anh tự sát. Sau đó Minh Đế tiếp tục muốn mở rộng điều tra để truy tìm đồng đảng, bất chấp lời khuyên của các quan. Mã hậu bèn lựa lời khuyên giải không nên làm liên lụy nhiều người, Minh Đế mới thôi ý định mở rộng vụ án.

Năm 72, Hán Minh Đế phong đất cho các hoàng tử, và ông chỉ phong cho các con ông những phần đất đai rất ít và hạn chế. Mã hoàng hậu bèn hỏi Minh Đế, các phần đất cho con trai ông nhỏ hơn rất nhiều các phần đất các anh em ông, những người con trai khác của Hán Quang Vũ Đế. Minh Đế cho rằng con trai mình không thể vượt trội hơn các con trai của Quang Vũ Đế, nên ban cho đất phong như thế. Mã hoàng hậu hiểu ra và tỏ ý tâm đắc quyết định này của Hán Minh Đế.

Hoàng thái hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 75, Hán Minh Đế Lưu Trang qua đời, Hoàng thái tử Lưu Đát lên nối ngôi, tức là Hán Chương Đế, bà được tôn làm Hoàng thái hậu. Các em bà là Mã Liêu (馬廖), Mã Quang (馬防), Mã Phòng (馬光) tự nhận là ngoại thích xông vào cung đòi chịu tang vua Minh Đế. Tướng Dương Nhân dùng quân ngự lâm ngăn chặn. Anh em họ Mã sai người vào tố cáo với Hán Chương Đế và Mã thái hậu. Mã thái hậu không bênh vực anh em họ Mã mà khen ngợi Dương Nhân là người nghiêm minh.

Năm 76, Hán Chương Đế muốn phong hầu cho anh em họ Mã, nhưng thái hậu ngăn cản. Thái hậu học theo tâm ý của Hán Minh Đế, không trọng dụng họ Mã trong triều, sợ rằng họ Mã sẽ lấn quyền họ Âm của Quang Liệt Âm hoàng hậu và họ Quách của Trung Sơn Quách vương thái hậu. Mã thái hậu cho rằng nếu họ ngoại thích lấn vượt tranh đua nhau trong triều, sẽ làm triều cương rối loạn.

Mùa hạ năm 77, có một số quan lại dâng thư đề nghị phong chức cho các em Thái hậu. Mã thái hậu nghe vậy hạ chiếu nói rằng những người dâng thư đều là nịnh thần và dẫn chứng hậu quả của ngoại thích họ Vương thời Hán Thành ĐếVương Mãng đã cướp ngôi nhà Hán.

Bà mở nhà dệt vải trong cung, trồng dâu nuôi tằm trong quán Long viên cho các cung nữ lao động. Lúc rảnh rỗi, Thái hậu thường hay cùng Chương Đế bàn luận việc chính sự, ngoài ra bà còn dạy các hoàng tử con của Chương Đế sách Tứ thư, Ngũ kinh.

Năm 79, Mã thái hậu qua đời, thọ 41 tuổi. Bà được xem là người có ảnh hưởng về chính trị khá lớn dưới thời Hán Minh Đế và Hán Chương Đế. Việc ức chế ngoại thích của bà được xem là hiếm có và được các sử gia tán dương[5].

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Lê Đông Phương, Vương Tử Kim (2007), Kể chuyện Tần Hán, NXB Đà Nẵng
  • Đặng Huy Phúc (2001), Các hoàng đế Trung Hoa, NXB Hà Nội
  • Nguyễn Tôn Nhan (1997), Hậu phi truyện, NXB Phụ nữ

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Nguyễn Tôn Nhan, sách đã dẫn, tr 98
  2. ^ Nguyễn Tôn Nhan, sách đã dẫn, tr 99
  3. ^ Hồ Bắc hiện nay
  4. ^ Nguyễn Tôn Nhan, sách đã dẫn, tr 102
  5. ^ a ă Nguyễn Tôn Nhan, sách đã dẫn, tr 105