Mèo đồng cỏ châu Phi

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Mèo đồng cỏ châu Phi
Leptailurus serval -Serengeti National Park, Tanzania-8.jpg
Tình trạng bảo tồn
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Lớp (class) Mammalia
Bộ (ordo) Carnivora
Phân bộ (subordo) Feliformia
Họ (familia) Felidae
Phân họ (subfamilia) Felinae
Chi (genus) Leptailurus
Severtzov, 1858
Loài (species) L. serval
Danh pháp hai phần
Leptailurus serval
(Schreber, 1776)
Phạm vi phân bố
Phạm vi phân bố
Danh pháp đồng nghĩa
  • Galeopardus Heuglin and Fitzinger, 1866;
  • Serval Brehm, 1864;
  • Servalina Greve, 1894.

Mèo đồng cỏ châu Phi, tên tiếng Anh: serval (phát /ˈsɜrvəl/)[2], tên tiếng Afrikaans: Tierboskat nghĩa là "mèo-rừng-hổ", (danh pháp hai phần: Leptailurus serval, đồng nghĩa: Felis serval[3], là một loài mèo hoang châu Phi cỡ vừa. Các nghiên cứu ADN cho thấy rằng nó có quan hệ gần với beo vàng châu Phimãn rừng[4]. Chúng đã tách ra từ tổ tiên chung khoảng 5,4 triệu năm trước[4][5].

mô tả[sửa | sửa mã nguồn]

Mèo đồng cỏ châu Phi là một loài mèo cỡ trung bình, có dáng vẻ thanh mảnh, với đôi chân dài và một cái đuôi khá ngắn. Chiều dài đầu thân 59–92 cm, chiều dài đuôi 20–45 cm, và chiều cao vai 54–66 cm. Trọng lượng khoảng từ 7 đến 12 kg ở con cái, và từ 9 đến 18 kg với con đực.

Phân bố[sửa | sửa mã nguồn]

Mèo đồng cỏ châu Phi phân bố ỏ châu Phi, chủ yếu là phía nam của sa mạc Sahara, và một số ít ở bắc Phi. Môi trường sống chính của chúng là thảo nguyên, mặc dù có thể có ở các khu vực miền núi ở độ cao lên đến 3.000 m. Chúng cần nguồn nước trong phạm vi lãnh thổ của mình, do đó, chúng không sống trong bán sa mạc hay thảo nguyên khô. Chúng cũng tránh các khu rừng rậm xích đạo, mặc dù có thể thấy chúng dọc theo ven rừng. Chúng hiếm khi leo trèo và bơi lội, mặc dù chúng có thể. Lãnh thổ của con cái khoảng 9,5-19,8 km2, và của con đực 11,6-31,5 km2.

Lối sống[sửa | sửa mã nguồn]

Giống như hầu hết mèo, mèo đồng cỏ châu Phi sống đơn độc và săn mồi chủ yếu vào ban đêm. Mặc dù chúng thường săn bắt động vật gặm nhấm, chúng cũng ăn các loài chim, thỏ rừng, chuột lang hyrax, bò sát, côn trùng, cá và ếch. Chúng cũng có thể bắt các động vật lớn hơn, chẳng hạn như hươu, linh dương, mặc dù hơn 90% của con mồi của chúng nặng dưới 200 g.

Mèo đồng cỏ châu Phi có thể di chuyển 3–4 km mỗi đêm để tìm thức ăn. Đôi chân dài (dài nhất của tất cả các con mèo, so với kích thước cơ thể) thể hiện sự thích nghi của chúng với lối sống thảo nguyên, giúp chúng đạt được tốc độ tối đa 80 km mỗi giờ, và đôi tai lớn với thính giác rất tốt cho phép chúng phát hiện con mồi, ngay cả trong lòng đất. Chúng có thể nhảy cao 2–3 m để bắt chim đang bay. Chúng có thể nhảy xa tới 3,6 m. Chúng là loài săn mồi hiệu quả, với tỷ lệ thành công lên tới 50%.

Sinh sản[sửa | sửa mã nguồn]

Mèo đồng cỏ châu Phi có chu kỳ động dục kéo dài đến bốn ngày, và thường vào thời gian để mèo con sẽ được sinh ra ngay trước thời kỳ sinh sản cao điểm của quần thể động vật gặm nhấm địa phương. Chúng có thể sinh nhiều lứa trong năm, nhưng thường chỉ khi lứa trước đó chết ngay sau khi sinh. Chu kỳ mang thai kéo dài 66-77 ngày và thường cho ra đời hai mèo con, mặc dù đôi khi có thể nhiều hơn.

Mèo con được sinh ra trong thảm thực vật dày đặc hoặc hang của lợn đất bỏ lại. Nếu không chúng có thể sinh con dưới một cây bụi. Mèo con nặng khoảng 250 g lúc mới sinh, và ban đầu chưa mở mắt, với bộ lông màu xám. Chúng mở mắt ra từ 9 đến 13 ngày tuổi, và bắt đầu ăn thức ăn rắn sau khoảng một tháng. Vào khoảng sáu tháng, chúng đã có răng nanh và bắt đầu tập đi săn, và sẽ rời khỏi con mẹ vào khoảng 12 tháng tuổi. Chúng đạt đến trưởng thành từ 12 đến 25 tháng tuổi. Tuổi thọ trung bình của chúng là khoảng 10 năm trong tự nhiên, và lên đến trên 20 năm trong điều kiện nuôi nhốt.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Breitenmoser, C., Henschel, P. & Sogbohossou, E. (2008). Leptailurus serval. 2008 IUCN Red List of Threatened Species. IUCN 2008. Truy cập ngày 22 March 2009. Database entry includes justification for why this species is of least concern
  2. ^ Wozencraft, W. C. (2005). “Order Carnivora”. Trong Wilson, D. E.; Reeder, D. M. Mammal Species of the World . Nhà in Đại học Johns Hopkins. tr. 540. ISBN 978-0-8018-8221-0. OCLC 62265494. 
  3. ^ Stephen Henley, 5-1997, On the proposed reintroduction of serval (Felis serval) into the Great Fish River reserve, Eastern Cape
  4. ^ a ă Johnson et al. (2006). “The Late Miocene Radiation of Modern Felidae: A Genetic Assessment”. Science 311: 73–77. doi:10.1126/science.1122277. PMID 16400146. 
  5. ^ O'Brien S. J., Johnson W. E., 2007. The evolution of cats. Scientific American July: 68-75

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]