Cung Hoàng Đạo

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Mười hai cung Hoàng Đạo)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Trái Đất trong quỹ đạo quanh mặt trời và vị trí những chòm sao cung hoàng đạo
12 biểu tượng cung Hoàng Đạo trên tranh khắc gỗ thế kỷ 16

Trong chiêm tinh họcthiên văn học thời cổ, các cung Hoàng Đạo là một vòng tròn 360o và được phân chia làm 12 nhánh, mỗi nhánh tương ứng với một cung, góc 30o. Cung Hoàng Đạo tạo ra bởi các nhà chiêm tinh học Babylon cổ đại từ những năm 1645 trước Công nguyên. Vòng tròn 12 cung Hoàng Đạo hoàn hảo với 12 cung tương xứng với bốn mùa và 12 tháng. Các cung được phân chia làm bốn nhóm yếu tố (Lửa, Nước, Khí, Đất), mỗi nhóm yếu tố gồm 3 cung đại diện cho các cung có tính cách tương đồng với nhau.

Theo các nhà thiên văn học thời cổ đại, trong khoảng thời gian chừng 30 - 31 ngày, Mặt Trời sẽ đi qua một trong mười hai chòm sao đặc biệt. Ai sinh ra trong thời gian Mặt Trời đi qua chòm sao nào thì họ sẽ được chòm sao đó chiếu mệnh và tính cách của họ cũng bị chòm sao ảnh hưởng nhiều. 12 chòm sao tạo thành 12 cung trong vòng tròn Hoàng đạo, có nghĩa "Đường đi của mặt trời". Theo phương Tây, vòng tròn này tên là Horoscope. Tiếng Hy LạpZodiakus Kyklos (ζωδιακός κύκλος) - "Vòng tròn của các linh vật." [1]

Nhiều nhà khoa học hiện đại xem chiêm tinh học là trò mê tín dị đoan.[2] Tuy nhiên, chiêm tinh học vẫn giữ vị trí trọng yếu trong nghiên cứu về "số phận đời người" của phương Tây, vẫn tồn tại ở ngay cả những nước mà tại đó chiêm tinh học bị cấm.[3]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Thời kỳ đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Sự phân chia vòng tròn hoàng đạo ra làm 12 cánh, mỗi cánh một kí tự được hình thành bởi các nhà thiên văn Babylon cổ đại vào thiên niên kỷ 1 TCN. Mỗi cánh có độ quay 30o tương ứng với một tháng trong lịch Babylon cổ. Các nhà thiên văn Babylon cũng đặt cho mỗi cung hoàng đạo một ký tự. Trong đó, cánh đầu tiên có tên là Bạch Dương (Aries), ký tự là một con cừu núi.[4] Dần dần sau này, Hoàng Đạo đã có ảnh hưởng lớn hơn vào thời Hy LạpLa Mã cổ đại. Việc sử dụng Hoàng Đạo để tiên đoán về tính cách, sự nghiệp,... vào thời kì này trở nên khá phổ biến. Nó có ảnh hưởng tới tận vào thời Trung Cổ sau này.

Thời Hy Lạp cổ đại[sửa | sửa mã nguồn]

Cách phân chia của Babylon du nhập vào chiêm tinh học Hy Lạp vào thế kỷ 4 TCN.[5][6] Chiếm tinh số mệnh xuất hiện lần đầu tại Ai Cập thuộc Hy Lạp. Cung Hoàng Đạo Dendera (khoảng năm 50 TCN) là mô tả sớm nhất về 12 cung Hoàng Đạo.

Đóng vai trò quan trọng trong chiêm tinh học số mệnh của phương Tây là nhà thiên văn học kiêm chiêm tinh học Claudius Ptolemaeus với tác phẩm Tetrabiblos được xem là nền tảng của chiêm tinh học phương Tây.[7]

Mười hai cung Hoàng Đạo[sửa | sửa mã nguồn]

Điểm khởi đầu theo lý thuyết của cung Bạch Dương là xuân phân. Các cung khác cứ thế nối tiếp. Ngày giờ chính xác theo lịch Gregory thường khác biệt chút ít từ năm này sang năm khác, bởi lẽ lịch Gregory thay đổi tương ứng với năm chí tuyến,[Ghi chú 1] trong khi độ dài năm chí tuyến có bản chất thay đổi đều đều. Trong quá khứ gần đây và tương lai không xa thì các sai khác này chỉ vào khoảng dưới hai ngày. Từ năm 1797 đến năm 2043, ngày xuân phân (theo giờ UT - Universal Time) luôn rơi vào ngày 20 hoặc 21 tháng 3. Ngày xuân phân từng rơi vào ngày 19 tháng 3, gần đây nhất vào năm 1796 và lần tới là năm 2044.[Ghi chú 2]

12 cung hoàng đạo
STT Tên Latinh Tên thường gọi Tên chòm sao tương ứng Nghĩa/biểu tượng Hoàng đạo dương lịch (năm 2011)
1 Aries Bạch Dương
Tên khác: Dương Cưu
Bạch Dương Aries.svg Con cừu có bộ lông vàng 21/3 - 20/4
2 Taurus Kim Ngưu Kim Ngưu Taurus.svg Con trắng (do thần Zeus biến thành) 21/4 - 21/5
3 Gemini Song Tử
Tên khác: Song Nam, Song Sinh
Song Tử Gemini.svg Hai cậu bé song sinh (đôi lúc là hai cô bé) 22/5 - 21/6
4 Cancer Cự Giải
Tên khác: Bắc Giải
Cự Giải Cancer.svg Con cua 22/6 - 22/7
5 Leo Sư Tử Sư Tử Leo.svg Con sư tử 23/7 - 22/8
6 Virgo Xử Nữ
Tên khác: Thất Nữ, Trinh Nữ
Thất Nữ Virgo.svg Trinh nữ 23/8 - 23/9
7 Libra Thiên Bình
Tên khác: Thiên Xứng
Thiên Xứng Libra.svg Cái cân 24/9 - 23/10
8 Scorpio Hổ Cáp
Tên khác:Thiên Hạt, Thần Nông, Bọ Cạp
Thiên Hạt Scorpio.svg Con bọ cạp 24/10 - 22/11
9 Sagittarius Nhân Mã
Tên khác: Xạ Thủ, Cung Thủ
Nhân Mã Sagittarius.svg Nửa trên là người, nửa dưới là ngựa, cầm cung 23/11 - 21/12
10 Capricornus Ma Kết
Tên khác: Nam Dương
Ma Kết Capricorn.svg Nữa trên là dê, nửa dưới là đuôi cá 22/12 - 20/1
11 Aquarius Bảo Bình
Tên khác: Thủy Bình
Bảo Bình Aquarius.svg Người mang nước 21/1 - 19/2
12 Pisces Song Ngư Song Ngư Pisces.svg Hai con cá bơi ngược chiều 20/2 - 20/3

Bốn nhóm Hoàng Đạo và ngôi sao chiếu mệnh của từng cung[sửa | sửa mã nguồn]

Bốn nhóm nguyên tố Hoàng Đạo[sửa | sửa mã nguồn]

Vòng tròn Hoàng đạo chia thành 12 cung, phân ra bốn nguyên tố đã tạo ra của thế giới theo quan niệm cổ phương Tây: đất, lửa, nước, khí. Cứ ba cung là được xếp vào một nhóm nguyên tố, những cung cùng chung nhóm luôn tương hợp nhau nhất. Tuy nhiên, không phải hai cung khác nhóm lúc nào cũng kị nhau. Điển hình là nhóm Đất có thể kết hợp hài hòa cùng nhóm Nước và nhóm Lửa tương đối thích hợp với nhóm Khí.

Đầu mùa Giữa mùa Cuối mùa Đặc điểm
Nguyên tố Lửa Bạch Dương Sư Tử Nhân Mã Tính cách người nhóm lửa đặc biệt nồng cháy, đam mê, nông nổi nhưng gan dạ.[cần dẫn nguồn]
Nguyên tố Đất Kim Ngưu Xữ Nữ Ma Kết Những người nhóm đất rất chung thủy, cần cù, ôn hòa và khoan thai.[cần dẫn nguồn]
Nguyên tố Khí Thiên Bình Bảo Bình Song Tử Nhóm này yêu tự do, thông minh, tính tình phóng khoáng, tư tưởng cấp tiến.[cần dẫn nguồn]
Nguyên tố Nước Cự Giải Hổ Cáp Song Ngư Người nhóm nước thường nhạy cảm, dễ bị tổn thương, có thiên hướng nghệ thuật.[cần dẫn nguồn]

Sao chiếu mệnh các cung[sửa | sửa mã nguồn]

12 cung tương ứng với 12 ngôi saohành tinh, bao gồm cả Diêm Vương Tinh đã bị loại khỏi danh sách các hành tinh của hệ Mặt Trời:

  1. Cung Bạch Dương được Hỏa Tinh bảo hộ, tượng trưng cho thần chiến tranh Mars trong thần thoại La Mã (Ares của thần thoại Hi Lạp).
  2. Cung Kim Ngưu được Kim Tinh bảo hộ, tượng trưng cho nữ thần Venus (Aphrodite của thần thoại Hi Lạp.)
  3. Cung Song Tử được Thủy Tinh bảo hộ, tượng trưng cho thần đưa tin Mercury (Hermes).
  4. Cung Cự Giải được Mặt Trăng bảo hộ, tượng trưng cho nữ thần hôn nhân gia đình Junon (Hera trong thần thoại Hi Lạp)
  5. Cung Sư Tử được Mặt Trời bảo hộ, tượng trưng cho thần mặt trời Helios, sự trung trực, uy quyền và sức mạnh.
  6. Cung Xử Nữ được Thủy Tinh bảo hộ, tượng trưng cho trí tuệ, lòng chung thủy nhưng quá cầu toàn nguyên tắc.
  7. Cung Thiên Bình được Kim Tinh bảo hộ, cung này biểu tượng cho sắc đẹp, sự quyến rũ, công bằng. Tượng trưng cho nữ thần Venus.
  8. Cung Hổ Cáp Diêm Vương Tinh bảo hộ, tượng trưng cho Pluto (Hades), thần cai quan âm phủ.
  9. Cung Nhân Mã được Mộc Tinh bảo hộ, tượng trưng cho thần sấm sét Jupiter (Zeus).
  10. Cung Ma Kết được Thổ Tinh bảo hộ, tượng trưng cho thần thời gian Saturn (Cronos).
  11. Cung Bảo Bình được Thiên Vương Tinh bảo hộ, tượng trưng cho thần bầu trời Uranus.
  12. Cung Song Ngư được Hải Vương Tinh bảo hộ, tượng trưng cho thần biển Neptune (Poseidon).

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Lịch Gregory được xây dựng để làm thỏa mãn các giám mục trong Công đồng Nicaea I. Ngày xuân phân được định là ngày 21 tháng 3, tuy nhiên không thể giữ xuân phân cố định vào một ngày trong điều kiện có sự tồn tại của ngày 29 tháng 2.
  2. ^ Xem Jean Meeus, Astronomical Tables of the Sun, Moon, and Planets, 1983, xuất bản bởi Willmann-Bell, Inc., Richmond, Virginia. Ngày có thể sẽ khác đi nếu xét ở các múi giờ khác.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Mayo (1979), tr. 35.(cần dẫn nguồn đầy đủ)
  2. ^ Baird, Penny; Baird, Penelope (2007). Hidden Zodiac: The Perfect Design for Gods and Heroes - A Study of the Formula of Astrology's Twelve Houses and Great Narratives in European Civilisation. Janus Publishing Company. tr. 2. ISBN 9781857566918. 
  3. ^ Nam Việt; Khánh Linh (2009). 12 cung hoàng đạo - Một cách nhìn về đời người. Hà Nội: Nhà xuất bản Thời đại. tr. 32. 
  4. ^ Hugh Thurston, Early Astronomy, (New York: Springer-Verlag, 1994), tr. 135–137.
  5. ^ Rogers, John H. "Origins of the ancient constellations: I. The Mesopotamian traditions." Journal of the British Astronomical Assoc. 108.1 (1998): 9–28. Astronomical Data Service.
  6. ^ Rogers, John H. "Origins of the ancient constellations: II. The Mesopotamian traditions." Journal of the British Astronomical Assoc. 108.2 (1998): 79–89. Astronomical Data Service.
  7. ^ Saliba, George, 1994. A History of Arabic Astronomy: Planetary Theories During the Golden Age of Islam. New York: New York University Press. ISBN 978-0-8147-8023-7. tr. 67.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]