Mật gấu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Mật gấu là một loại mật được lấy từ gấu ngựa được sử dụng làm dược phẩm ở Việt Nam và một số nước châu Á khác như Trung Quốc, Triều Tiên.

Mật gấu có màu đen óng ánh vàng như hổ phách, vị đắng sau có vị ngọt. Mật gấu lấy từ gấu trong tự nhiên được đánh giá cao hơn gấu nuôi. Người ta nuôi gấu để lấy mật với các kỹ thuật hút mật đảm bảo không gây tử vong cho gấu. Mật gấu sau khi lấy ra được bỏ trong hộp và bảo quản ở nơi khô mát, độ ẩm thấp.

Mật gấu được sử dụng chữa các bệnh đau dạ dày, đau răng, đau mắt, các vết sưng do chấn thương dưới dạng thoa ngoài da hay uống, thường pha với rượu[cần dẫn nguồn].

Các lương y thuộc Hội Đông y Việt Nam cảnh báo: “Uống mật gấu, người sử dụng vô tình đã khiến mình đối mặt nguy cơ bị tổn thương gan, thận, vàng da, đau nhức, tăng hồng cầu trong nước tiểu (tiểu ra máu)”, từ đó có thể làm người sử dụng mắc chứng bất lực, thậm chí tử vong.[1]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]