Sao Mộc
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
| Sao Mộc, chụp bởi một trong hai Voyager | |
| Đặc điểm của quỹ đạo (Kỷ nguyên J2000) | |
|---|---|
| Bán trục lớn | 778.412.027 km hay 5,20336301 đơn vị thiên văn. |
| Chu vi | 4,888 × 109 km hay 32,675 đơn vị thiên văn hay 5,2 lần Trái Đất. |
| Độ lệch tâm | 0,04839266 hay 2,928 lần Trái Đất. |
| Cận điểm | 740.742.598 km hay 4,95155843 đơn vị thiên văn. |
| Viễn điểm | 816.081.455 km hay 5,45516759 đơn vị thiên văn. |
| Chu kỳ theo sao | 4335,3545 ngày hay 11,87 năm hay 11,857 lần Trái Đất. |
| Chu kỳ giao hội | 398,86 ngày hay 1,1 năm. |
| Vận tốc quỹ đạo: | |
| - trung bình | 13,050 km/s hay 0,439 lần Trái Đất. |
| - tối đa | 13,705 km/s hay 0,453 lần Trái Đất. |
| - tối thiểu | 12,440 km/s hay 0,425 lần Trái Đất. |
| Độ nghiêng | 1,304° với Hoàng Đạo hay 6,1° với xích đạo Mặt Trời. |
| Hoàng kinh của điểm nút lên | 100,556° |
| Acgumen của điểm cận nhật | 274,198° |
| Tổng số vệ tinh | 63 |
| Đặc điểm của hành tinh | |
| Đường kính: | |
| - tại xích đạo | 142.984 km hay 11,209 lần Trái Đất. |
| - qua hai cực | 133.709 km hay 10,517 lần Trái Đất. |
| Độ dẹt | 0,06487 |
| Diện tích | 61,4 × 109 km² hay 120,5 lần Trái Đất. |
| Thể tích | 1338 × 1012 km³ hay 1235,6 lần Trái Đất. |
| Khối lượng | 1,899 × 1027 kg hay 317,8 lần Trái Đất. |
| Khối lượng riêng | 1326 kg/m³ hay 0,240 lần Trái Đất. |
| Gia tốc trọng trường tại xích đạo |
23,12 m/s² hay 2,358 lần Trái Đất. |
| Vận tốc thoát ly | 59,54 km/s hay 5,32 lần Trái Đất. |
| Chu kỳ quay quanh trục | 0,41351 ngày hay 9.933 giờ hay 0,415 lần Trái Đất. |
| Vận tốc quay quanh trục tại xích đạo |
45.300 km/h hay 27,055 lần Trái Đất. |
| Độ nghiêng trục quay | 3,13° hay 0,133 lần Trái Đất. |
| Xích kinh của cực bắc | 17 h 52 m 12 s (hay 268,05°) |
| Xích vĩ của cực bắc | 64,48° |
| Hệ số phản xạ | 0,52 hay 1,42 lần Trái Đất. |
| Nhiệt độ tại bề mặt: | |
| - tối thiểu | 110K (hay -163°C) |
| - trung bình | 152K (hay -121°C) |
| - tối đa | K (hay °C) |
| Áp suất khí quyển tại bề mặt |
70 kPa hay 0,7 lần Trái Đất. |
| Cấu tạo của khí quyển | |
| H2 He CH4 H2O NH3 C2H6 PH3 |
~86% ~14% 0,1% 0,1% 0,02% 0,0002% 0,0001% |
Sao Mộc hay Mộc Tinh là hành tinh lớn nhất của Thái Dương Hệ và là hành tinh thứ năm nếu đếm từ Mặt Trời trở ra. Sao Mộc vốn là một hành tinh khí khổng lồ, được cấu tạo chủ yếu bởi hiđrô và hêli, bao quanh một lõi rắn chứa các nguyên tố nặng hơn. Sao Mộc là một hành tinh vĩ đại, nặng hơn gấp hai lần của tất cả 8 hành tinh còn lại của Thái Dương Hệ cộng lại. Do vận tốc quay nhanh, nên Sao Mộc có hình cầu dẹt rõ rệt. Khi quan sát từ Trái Đất, Mộc Tinh có thể có độ sáng biểu kiến lên đến -2.8, sáng thứ ba sau Mặt Trăng và Sao Kim trên bầu trời đêm.
Tên của hành tinh này được đặt dựa vào nguyên tố mộc của Ngũ Hành; chữ Nho viết là 木星 (Mộc tinh). Văn hóa Tây phương dùng tên thần Jupiter, vị thần quan trọng nhất trong thần thoại La Mã, để đặt tên cho hành
Sao Mộc cũng là nơi mà nền móng của giả thuyết cho rằng Trái Đất là trung tâm của vũ trụ bị lung lay khi Galileo Galilei khám phá ra 4 thiên thể quay chung quanh hành tinh này vào năm 1610 – thay vì chung quanh Trái Đất.
Mục lục |
[sửa] Cấu tạo và khí quyển
|
So sánh kích thước các hành tinh của Hệ Mặt Trời:
Sao Thủy, Sao Kim, Trái Đất, Sao Hỏa, Sao Mộc, Sao Thổ, Sao Thiên Vương, Sao Hải Vương và hành tinh lùn Sao Diêm Vương |
Sao Mộc có một lõi bằng đá tương đối nhỏ so với kích thước của nó. Ngoại trừ phần lõi ra, sao Mộc có thể được xem như hoàn toàn tạo bởi khinh khí (H2). Nằm ngay trên lõi là một lớp khinh khí ở thể đặc, có nhiều tính chất vật lý giống như một kim loại, và trên nữa là lớp khinh khí ở thể lỏng biến dần dần sang một lớp ở thể khí. Ranh giới giữa ba thể không cách nào được xác định rõ ràng vì sự biến dạng từ thể này sang thể khác không xẩy ra một cách đột ngột.
Khí quyển của sao Mộc bao gồm khoảng 86% khinh khí và 14% hêli (He), cũng như một phần rất nhỏ của các chất khác. Càng xuống sâu, tỉ lệ các chất khác càng tăng lên và bầu khí quyển càng trở nên dầy đặc hơn cho đến khi biến sang thể lỏng. Ranh giới giữa bầu khí quyển và "bề mặt" của Sao Mộc, do đó, cũng không rõ ràng.
Vào năm 1690, Giovanni Domenico Cassini khám phá ra các vùng khí quyển của Sao Mộc quay với vận tốc khác nhau: không khí gần cực quay chậm hơn không khí gần quỹ đạo vào khoảng 5 phút. Hơn thế nữa, mây ở các vĩ tuyến khác nhau bay với hai chiều ngược nhau và thường tạo ra những cơn bão lốc với vận tốc cao đến 600 km/h. Một cơn lốc kinh khủng nhất, với đường kính to hơn đường kính Trái Đất, được gọi là Đốm Đỏ Lớn.
| Elemental abundances relative to hydrogen in Jupiter and Sun.[1] |
|||
|---|---|---|---|
| Nguyên tố | Mặt Trời | Sao Mộc/Mặt Trời | |
| He/H | 0.0975 | 0.807 ± 0.02 | |
| Ne/H | 1.23 × 10−4 | 0.10 ± 0.01 | |
| Ar/H | 3.62 × 10−6 | 2.5 ± 0.5 | |
| Kr/H | 1.61 × 10−9 | 2.7 ± 0.5 | |
| Xe/H | 1.68 × 10−10 | 2.6 ± 0.5 | |
| C/H | 3.62 × 10−4 | 2.9 ± 0.5 | |
| Bản mẫu:Nitrogen/H | 1.12 × 10−4 | 3.6 ± 0.5 (8 bar)
3.2 ± 1.4 (9–12 bar) |
|
| Bản mẫu:Oxygen/H | 8.51 × 10−4 | 0.033 ± 0.015 (12 bar)
0.19–0.58 (19 bar) |
|
| Bản mẫu:Phosphorus/H | 3.73 × 10−7 | 0.82 | |
| Bản mẫu:Sulfur/H | 1.62 × 10−45 | 2.5 ± 0.15 | |
| Isotopic ratios in Jupiter and Sun[1] | |||
|---|---|---|---|
| Tỷ lệ | Mặt Trời | Sao Mộc | |
| 13C/12C | 0.011 | 0.0108 ± 0.0005 | |
| 15N/14N | <2.8 × 10−3 | 2.3 ± 0.3 × 10−3
(0.08–2.8 bar) |
|
| 36Ar/38Ar | 5.77 ± 0.08 | 5.6 ± 0.25 | |
| 20Ne/22Ne | 13.81 ± 0.08 | 13 ± 2 | |
| 3He/4He | 1.5 ± 0.3 × 10−4 | 1.66 ± 0.05 × 10−4 | |
| D/H | 3.0 ± 0.17 × 10−5 | 2.25 ± 0.35 × 10−5 | |
[sửa] Vết Đỏ Lớn
Một trong những dấu đặc biệt rõ ràng nhất của Sao Mộc là Vết Đỏ Lớn ở gần phía nam của xích đạo. Vết này là một cơn lốc xoáy nghịch khổng lồ – đường kính gấp ba lần đường kính của Trái Đất – đang thổi dữ dội từ hơn 300 năm nay, nằm ở 22° phía nam xích đạo. So với 100 năm trước đây thì đốm này chỉ còn độ nửa về kích thước. Người ta không biết chắc rằng có phải hiện tượng này xảy ra do sự dao động trong khí quyển của sao Mộc, cũng như đốm này có đang từ từ biến đi theo thời gian hay không.
[sửa] Vận tốc quay của hành tinh
Vì Sao Mộc được tạo ra bởi các chất khí ở thể lỏng nên mỗi vùng có một vận tốc quay khác nhau. Một điểm nằm gần xích đạo, giữa vĩ tuyến 10° bắc và vĩ tuyến 10° nam, làm một vòng chung quanh Sao Mộc trong 9 giờ 50 phút 30 giây. Vùng này được gọi là System I của Sao Mộc. Phần còn lại, gọi là System II, quay chậm hơn vùng gần xích đạo hơn 5 phút, hay 9 giờ 55 phút 41 giây.
Sao Mộc là hành tinh có vận tốc quay cao nhất trong số các hành tinh của Hệ Mặt Trời (hành tinh lùn Ceres thực hiện một vòng quay chỉ hết 0.3781 ngày tức 9.0741 giờ):
- Mặt Trời là 25,05 ngày
- Sao Thủy là 58,6462 ngày
- Sao Kim là 243.0184 ngày
- Trái Đất là 23.934 giờ
- Sao Hỏa là 24,622962 giờ
- Sao Thổ là 10,65 giờ
- Sao Thiên Vương là 17.233 giờ
- Sao Hải Vương là 16,11 giờ
[sửa] Vệ tinh
Đến năm 2004, đã có 63 vệ tinh của Sao Mộc được khám phá và được chia ra làm 7 nhóm. Trong những vệ tinh này, Io, Europa, Ganymede và Callisto được khám phá bởi Galileo Galilei từ đầu thế kỷ 17 và được lập thành một nhóm. Bốn vệ tinh này, cũng như Metis, Adrastea và Amalthea của nhóm Amalthea, tự quay một vòng chung quanh chính mình trong một thời gian bằng một vòng chung quanh Sao Mộc nên luôn luôn có một mặt hướng về Sao Mộc và một mặt quay đi – trường hợp giống như Mặt Trăng đối với Địa Cầu. Đại đa số những vệ tinh nhỏ còn lại tuy quay chung quanh Sao Mộc nhưng đi ngược với chiều quay của hành tinh này. Tất cả các vệ tinh từ Euporie trở ra đều được đặt theo tên các con gái của thần Zeus.
|
|||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
Bẩy nhóm vệ tinh của Sao Mộc bao gồm:
- Nhóm Amalthea, gần Sao Mộc nhất, gồm Metis, Adrastea, Amalthea và Thebe. Quỹ đạo của các vệ tinh này rất tròn, gần như nằm trên cùng một mặt phẳng với xích đạo của Sao Mộc và ở từ 100 ngàn km đến 200 ngàn km nếu kể từ tâm của Sao Mộc ra. Amalthea là tên của con dê đã cho sữa nuôi sống thần Zeus
- Nhóm Galilean, khám phá bởi Galileo Galilei, gồm Io, Europa, Ganymede và Callisto. Đây là các vệ tinh lớn trong Thái Dương Hệ – Europa, nhỏ nhất trong nhóm, lớn hơn Sao Diêm Vương trong khi Ganymede, lớn nhất trong nhóm, lớn hơn Sao Thuỷ. Quỹ đạo của các vệ tinh này ở từ 400 ngàn km đến 2 triệu km nếu kể từ tâm của Sao Mộc ra.
- Themisto đứng một mình trong nhóm của nó. Quỹ đạo của vệ tinh này ở vào khoảng 7 triệu km nếu kể từ tâm của Sao Mộc ra. Themisto là tên của một nữ thần trong thần thoại Hy Lạp, con gái của thần sông Inachus, là vợ của Athamas
- Nhóm Himalia gồm Leda, Himalia, Lysithea, Elara và S/2000 J11 (khám phá trong năm 2000 nên chưa có tên). Quỹ đạo của các vệ tinh này ở từ 11 triệu km đến 12 triệu km nếu kể từ tâm của Sao Mộc ra, chu kỳ 287 ngày. Himalia lấy theo tên của một nữ thần, người đã có với Zeus ba người con là Spartaios, Kronios, và Kytos.
- Nhóm Ananke gồm Euporie, Euanthe, Orthosie, Harpalyke, Praxidike, Thyone, Ananke, Iocaste, Hermippe... Quỹ đạo của các vệ tinh này nằm nghiêng vào khoảng 150° đối với xích đạo của Sao Mộc và ở vào khoảng 21 triệu km nếu kể từ tâm của Sao Mộc ra. Tất cả các vệ tinh này đi ngược với chiều quay của Sao Mộc. Ananke là tên của nữ thần số mệnh trong thần thoại Hy Lạp, mẹ của ba nữ thần Moirae
- Nhóm Carme gồm Pasithee, Chaldene, Isonoe, Erinome, Kale, Aitne, Taygete, Carme, Kalyke... Quỹ đạo của các vệ tinh này nằm nghiêng vào khoảng 160° đối với xích đạo của Sao Mộc và ở vào khoảng 23 triệu km nếu kể từ tâm của Sao Mộc ra. Tất cả các vệ tinh trong nhóm này đi ngược với chiều quay của Sao Mộc.
- Nhóm Pasiphaë gồm Eurydome, Pasiphaë, Sponde, Megaclite, Callirrhoe, Sinope, Autonone... Tất cả các vệ tinh trong nhóm này đi ngược với chiều quay của Sao Mộc. Pasiphaë là tên của con gái thần Mặt Trời Helios và là vợ của vua Minos xứ Crete
| Tên | Bán kính của vệ tinh (km) |
Khối lượng của vệ tinh (kg) |
Bán kính của quỹ đạo (km) |
Chu kỳ của quỹ đạo (ngày) |
Nhóm |
| Metis | 20 | 0,1 × 1018 | 128,0 × 103 | 0,294779 S | Amalthea |
| Adrastea | 13 × 10 × 8 | 20 × 1015 | 129,0 × 103 | 0,298260 S | Amalthea |
| Amalthea | 131 × 73 × 67 | 7,5 × 1018 | 181,4 × 103 | 0,498179 S | Amalthea |
| Thebe | 55 × 45 × 67 | 0,8 × 1018 | 221,9 × 103 | 0,6745 | Amalthea |
| Io | 1821,6 | 89,32 × 1021 | 421,6 × 103 | 1,769138 S | Galilean |
| Europa | 1560,8 | 48 × 1021 | 670,9 × 103 | 3,551181 S | Galilean |
| Ganymede | 2631,2 | 148,2 × 1021 | 1070,4 × 103 | 7,154553 S | Galilean |
| Callisto | 2410,3 | 1075,9 × 1021 | 1882,7 × 103 | 16,689018 S | Galilean |
| Himalia | 85 | 9,5 × 1018 | 11460 × 103 | 250,5662 | Himalia |
| Lysithea | 12 | 0,08 × 1018 | 11720 × 103 | 259,22 | Himalia |
| Elara | 40 | 0,8 × 1018 | 11740 × 103 | 259,6528 | Himalia |
| Ananke | 10 | 0,04 × 1018 | 21280 × 103 | −629,8 | Ananke |
| Carme | 15 | 0,1 × 1018 | 23400 × 103 | −734,2 | Carme |
| Pasiphaë | 18 | 0,3 × 1018 | 23620 × 103 | −743,6 | Pasiphaë |
| Sinope | 14 | 0,08 × 1018 | 23940 × 103 | −758,9 | Pasiphaë |
| Chu kỳ của quỹ đạo mang dấu trừ (−) nếu vệ tinh đi ngược với chiều quay của sao Mộc. S có nghĩa là chu kỳ quay của vệ tinh bằng đúng chu kỳ của quỹ đạo. |
|||||
[sửa] Vòng đai
Chung quanh Sao Mộc có một số vòng đai tạo bởi bụi và đá. Sự hiện diện của những vòng đai này mới được xác nhận vào 1979. So sánh với các vòng đai của Sao Thổ, những vòng đai này nhỏ và mờ hơn rất nhiều.
Hiện nay (2004) các nhà thiên văn học xác nhận là Sao Mộc có 3 vòng đai được tạo ra bởi bụi và đá từ 4 vệ tinh thuộc nhóm Amalthea, kể từ tâm của Sao Mộc ra:
- Vòng đai thứ nhất (vành Halo) nằm từ 100 ngàn đến 122,8 ngàn km, là vành đai trong cùng và dày đặc nhất
- Vòng thứ hai (vành đai chính) từ 122,8 ngàn đến 129,2 ngàn km
- Vòng thứ ba: Vành đai Gossamer gồm
[sửa] Quá trình thám hiểm
Vào tháng 12 năm 1973, Pioneer 10 trở thành phi thuyền đầu tiên bay ngang Sao Mộc. Đúng một năm sau đó Pioneer 11 cũng đến nơi. Cả hai phi thuyền đều được dùng để nghiên cứu về từ trường của Sao Mộc. Trong năm 1979 có hai phi thuyền bay ngang hành tinh, Voyager 1 vào tháng 3 và Voyager 2 vào tháng 7. Cả hai được dùng để nghiên cứu các vệ tinh của nhóm Galilean nhưng, đồng thời, đã khám phá ra các vòng đai của hành tinh. Vệ tinh nhân tạo đầu tiên của Sao Mộc là Galileo, đến nơi vào tháng 7 năm 1995. Galileo thả một máy thám hiểm nhỏ (probe) xuống Sao Mộc để nghiên cứu về bầu khí quyển của hành tinh này và làm nhiều cuộc bay ngang các vệ tinh. Galileo đã bị chấm dứt vào tháng 9 năm 2003. Để tránh trường hợp Galileo có thể rơi vào một vệ tinh và làm ô nhiễm vệ tinh này, NASA đã điều khiển cho Galileo đâm thẳng vào Sao Mộc và hoàn toàn cháy tan tại đây.
Trong năm 2000, trong khi trên đường đi đến Sao Thổ, Tàu vũ trụ Cassini-Huygens đã ghé ngang Sao Mộc và gửi về nhiều hình ảnh của hành tinh này với độ phân giải rất cao và nhiều chi tiết.
Theo dự định, Tàu vũ trụ New Horizons sẽ bay ngang Sao Mộc vào khoảng 2007 trong khi trên đường đến Sao Diêm Vương.
[sửa] Xem thêm
- Sao chổi Shoemaker-Levy 9: sao chổi đã đâm vào Sao Mộc năm 1994
[sửa] Tham khảo
- Atreya, S.K.; Mahaffy, P.R.; Niemann, H.B. et al (2003). “Composition and origin of the atmosphere of Jupiter—an update, and implications for the extrasolar giant planets”. Planetary and Space Sciences 51: 105–112. doi:. http://adsabs.harvard.edu/abs/2003P%26SS...51..105A.
[sửa] Liên kết ngoài
| Wikimedia Commons có thêm hình ảnh và tài liệu về: |
| Wikimedia Commons có thêm hình ảnh và tài liệu về: |
- NASA's Jupiter fact sheet
- Jupiter's Inner Moons
- Đại dương có thể tồn tại trên một mặt trăng của sao Mộc
- Tàu không gian Cassini tới gần sao Mộc
- Phát hiện một chùm vệ tinh mới của sao Mộc
- Ảnh dung nham nóng chảy trên vệ tinh của sao Mộc
- Nước tràn trên vệ tinh Ganymede của sao Mộc
- Cực quang trên sao Mộc
- Truy tìm sự sống trên vệ tinh của sao Mộc
- Vệ tinh Io của sao Mộc phát sáng kỳ lạ
- Tàu Galileo kết thúc sứ mạng lịch sử
|
|||||||||||||||||

