Trôm

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Mủ trôm)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Trôm
Sterculia-foetida-feuillage.jpg
Dried Sterculia lychnophora seeds
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Plantae
Ngành (divisio) Magnoliophyta
Lớp (class) Magnoliopsida
Bộ (ordo) Malvales
Họ (familia) Sterculiaceae
Chi (genus) Sterculia
Loài (species) S. foetida
Danh pháp hai phần
Sterculia foetida
L., 1753

Trôm (danh pháp hai phần: Sterculia foetida) là một loài thực vật thuộc chi Trôm trong họ Trôm. Loài này được Carl von Linné miêu tả khoa học đầu tiên năm 1753.[1]

Đây là một cây với lá chẻ ra hoa có mùi hôi ít. Loài này có nguồn gốc tự nhiên ở vùng nhiệt đới trên thế giới như Ấn Độ, Pakistan, Sri Lanka, Miến Điện, Indonesia, Malaysia, Panama, Trung Quốc, Úc, Thái Lan, Philippines, Senegal, SudanViệt Nam. Nó có thể được trồng ở các khu vực nhiệt đới khác.[2]

Mủ trôm[sửa | sửa mã nguồn]

Mủ trôm, hay còn gọi là nhựa trôm, là dịch tiết ra từ cây trôm[3]. Nhựa trôm là một hợp chất polysaccharide cao phân tử, khi thủy phân sẽ cho ra các đường D-galactose, L-rhamnose và acid D-galacturonic, một vài chất chuyển hóa acetylattrimethylamin. Nhựa trôm còn chứa khoảng 37% uronic acid, nhiều khoáng tố như calcium và muối magnesium. Khi ngâm trong nước lạnh với tỉ lệ thấp (4-5%) nhựa trôm sẽ trở thành dạng keo.[3] Mủ trôm có màu trắng, dạng thạch đặc, vón thành từng cục như sương sa. Tại Việt Nam, mủ trôm được sử dụng cho mục đích giải khát như một thức uống có vị thuốc.[4] Ngoài ra, nhờ tính dính nên nhựa trôm thường được dùng làm chất để kết dính trong ngành dược và kỹ nghệ.

Thành phần dinh dưỡng (/100g)[sửa | sửa mã nguồn]

Trôm
  • Ca: 101,06 mg
  • Zn: 0,29 mg
  • Na:5,27 mg
  • K: 297,01 mg
  • Mg: 43,01 mg
  • Fe: 0,91 mg
  • Glucid: 64,06 g

Nó chứa một hàm lượng cao chất xơ hoà tan trong nước.[4]

Tính chất[sửa | sửa mã nguồn]

Theo đông y, mủ trôm có vị ngọt, tính mát, tác dụng thanh nhiệt, giải độc, chỉ khát, nhuận tràng vị[4]

Mủ trôm được sử dụng làm thức uống giải khát, giải độc và chống táo bón[5] do có thần phần chất xơ cao có khả năng trương nở lên gấp từ tám đến mười lần trong nước và kết dính cặn bã độc hại trong ruột già, tăng lượng phân và nhu động ruột.[4] Ngoài ra, mủ trôm góp phần cải thiện độ mỡ trong máu, tăng cảm giác no và điều tiết lượng đường trong máu ở người thừa cân, béo phì hoặc đái tháo đường.[4] Ngoài ra, mủ trôm có thể làm keo dính dùng dán đế giày, cây gỗ, tranh dán. Làm keo công nghệ y dược, viên nang thuốc tây.[5]

Người Việt Nam thường sử dụng mủ trôm, mủ gòn đơn độc hoặc kết hợp với một số thực vật khác như hột é, lười ươi để pha chế thức uống có tác dụng làm mát, giải độc cơ thể.[4]

Độc tính và cẩn trọng[sửa | sửa mã nguồn]

Trái trôm

Độc tính[sửa | sửa mã nguồn]

Mủ trôm không có độc tính. Tuy nhiên, tính mát và nhuận trường, hai ưu điểm của loại mủ này có thể gây ra một số phản ứng phụ.[4]

Cẩn trọng[sửa | sửa mã nguồn]

Không sử dụng mủ trôm trong các trường hợp:

  • Phụ nữ có thai hoặc đang cho con bú.
  • Người có khối u trong ruột.
  • Người đang uống thuốc chữa bệnh. Vì nhựa trôm có độ nhớt cao nên sẽ làm tăng nồng độ hấp thu của thuốc vào máu.[2]

Pha chế[sửa | sửa mã nguồn]

Mủ trôm có thể ăn chung với nước đường cùng các loại sâm khác, nấu chè, nấu thức uống rất đa dạng

Tinh dầu trôm[sửa | sửa mã nguồn]

Theo một nghiên cứu tại Việt Nam, hạt trôm chứa hàm lượng lipit tổng số là 52,36%, thành phần axit béo trong dầu hạt trôm gồm axit hexadecanoic (42,15%) và axit octadecanoic (32,65%).[6]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ The Plant List (2010). Sterculia foetida. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2013. 
  2. ^ a ă DS LÊ KIM PHỤNG (Thứ Hai, 19/10/2009, 02:40 (GMT+7)). “Mủ trôm uống mát?”. 
  3. ^ a ă Công Tâm (Thứ tư, 02/06/2010 19:41). “Mủ trôm, món giải khát mùa hè”. 
  4. ^ a ă â b c d đ Lương y Võ Hà. “Mủ trôm, mủ gòn có độc?”.  Đã bỏ qua tham số không rõ |Date= (gợi ý |date=) (trợ giúp)
  5. ^ a ă Lương y Dương Tấn Hưng (13/11/2009 9:35). “Mủ trôm trị táo bón”. 
  6. ^ Trần Minh Hợi, Điều tra, đánh giá khả năng phát triển 3 loài thực vật Trôm, Sở và Lai cho dầu béo ở miền Bắc Việt Nam để tạo nguồn nguyên liệu cho công nghiệp nhiên liệu sinh học. Website Viện hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2013.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]