Mặt Trời

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Bước tới: menu, tìm kiếm
Mặt Trời Ký hiệu thiên văn học của Mặt Trời
Mặt Trời
Các dữ liệu quan trắc
Khoảng cách trung bình
từ Trái Đất
149,6×106 km
(92,95×106 dặm)
Cấp sao biểu kiến (V) −26,74m[1]
Cấp sao tuyệt đối 4,83m[1]
Phân loại quang phổ G2V
Độ kim loại Z = 0,0177[2]
Kích thước góc 31,6′ - 32,7′ [3]
Các thông số quỹ đạo
Khoảng cách trung bình
từ trung tâm Ngân Hà
2,5×1017 km
(26.000 năm ánh sáng)
Chu kỳ trong Ngân Hà ~ 2,25-2,50×108 a
Vận tốc bay quanh tâm Ngân Hà 217 km/s
Các thông số vật lý
Đường kính trung bình 1.392×106 km[1]
109 lần Trái Đất
Độ dẹt 9×10-6
Diện tích bề mặt 6,0877×1012 km²
(11.900 lần Trái Đất)
Thể tích 1,4122×1018 km³
(1.300.000 lần Trái Đất)
Khối lượng 1,9891×1030 kg
(332.946 lần Trái Đất)
Tỷ trọng 1,408 g/cm³
Gia tốc trọng trường 273,95 m s-2
(27,9 g)
Vận tốc thoát ly 617,54 km/s
Nhiệt độ bề mặt 5.780 K
Nhiệt độ nhật hoa 5 MK
Nhiệt độ tâm (ước tính) 13,6 MK
Độ sáng (LS) 3,827×1026 W
Suất bức xạ (IS) 2,009×107 W m-2 sr-1
Các thông số tự quay
Độ nghiêng trục quay 7,25°
(tới mặt phẳng hoàng đạo)
67,23°
(tới mặt phẳng Ngân Hà)
Xích kinh
tại cực bắc
[4]
286,13°
(19 h 4 m 31,2 s)
Xích vĩ
tại cực bắc
63,87°
Chu kỳ tự quay
tại 16 °
tại xích đạo
tại cực
25,38 ngày[1]
(25 ngày 9 h 7 m 13 s)
[4]
25,05 ngày[1]
34,3 ngày[1]
Vận tốc tự quay
tại xích đạo
7.284 km/h
Thành phần
Hiđrô 73,46%[5]
Hêli 24,85%
Ôxy 0,77%
Cacbon 0,29%
Sắt 0,16%
Lưu huỳnh 0,12%
Neon 0,12%
Nitơ 0,09%
Silic 0,07%
Magiê 0,05%

Mặt trờingôi sao ở trung tâm Hệ mặt trời. Trái đất và các thành viên khác (gồm các hành tinh, tiểu hành tinh, thiên thạch, sao chổi, và bụi) quay quanh Mặt trời. Chỉ riêng Mặt trời chiếm khoảng 99,86% khối lượng của Hệ mặt trời.[6] Khoảng cách trung bình của Mặt trời từ Trái đất xấp xỉ 149,6 triệu kilômét (1 Đơn vị thiên văn AU), và ánh sáng của nó vượt qua khoảng cách này trong 8 phút 19 giây. Khoảng cách này thay đổi trong một năm từ khoảng cách gần nhất 147,1 triệu kilômét (0,9833 AU) ở điểm cận nhật (khoảng ngày 3 tháng 1), tới xa nhất 152,1 triệu kilômét (1,017 AU) ở điểm viễn nhật (khoảng ngày 4 tháng 7).[7] Năng lượng từ Mặt trời, dưới hình thức ánh sáng mặt trời, hỗ trợ cho hầu hết mọi hình thức sự sống trên Trái đất thông qua quang hợp,[8] và điều khiển khí hậu cũng như thời tiết trên Trái Đất. Mặt trời gồm hydro (khoảng 74% khối lượng, hay 92% thể tích), heli (khoảng 24% khối lượng, 7% thể tích), và một lượng nhỏ các nguyên tố khác, gồm sắt, nickel, oxy, silicon, sulfur, magnesium, carbon, neon, calcium, và chromium.[9] Mặt trời có hạng quang phổ G2V. G2 có nghĩa nó có nhiệt độ bề mặt xấp xỉ 5.780 K (5.506,85 °C) khiến nó có màu trắng, và thường có màu vàng khi nhìn từ bề mặt Trái đất bởi sự tán xạ khí quyển. Chính sự tán xạ này của ánh sáng ở giới hạn cuối màu xanh của quang phổ khiến bầu trời có màu xanh.[10] Quang phổ Mặt trời có chứa các đường ion hoá và kim loại trung tính cũng như các đường hydro rất yếu. V (số 5 La Mã) trong lớp quang phổ thể hiện rằng Mặt trời, như hầu hết các ngôi sao khác, là một ngôi sao thuộc dãy chính. Điều này có nghĩa nó tạo ra năng lượng bằng tổng hợp hạt nhân của hạt nhân hydro thành heli. Có hơn 100 triệu ngôi sao lớp G2 trong Ngân hà của chúng ta. Từng bị coi là một ngôi sao nhỏ và khá tầm thường, Mặt trời hiện được biết sáng hơn 85% các ngôi sao trong Ngân hà, đa số chúng là các sao lùn đỏ.[11][12]

Quầng nóng của Mặt trời liên tục mở rộng trong không gian và tạo ra gió mặt trời, một dòng hạt với tốc độ gấp 5 lần âm thanh mở rộng nhật mãn (heliopause) tới khoảng cách xấp xỉ 100 AU. Bong bóng trong môi trường liên sao được hình thành bởi gió mặt trời, nhật quyển (heliosphere), là cấu trúc liên tục lớn nhất trong Hệ mặt trời.[13][14]

Mặt trời hiện đang đi xuyên qua đám Mây Liên sao Địa phương (Local Interstellar Cloud) trong vùng Bóng Địa phương (Local Bubble) mật độ thấp của khí khuếch tán nhiệt độ cao, ở vành trong của Nhánh Orion của Ngân hà, giữa nhánh Perseusnhánh Sagittarius của ngân hà. Trong 50 hệ sao gần nhất bên trong 17 năm ánh sáng từ Trái đất, Mặt trời xếp hạng 4[15] về khối lượng như một ngôi sao cấp bốn (M = +4.83).[1][16], dù có một số giá trị cấp hơi khác biệt đã được đưa ra, ví dụ 4.85[17] và 4.81.[18] Mặt trời quay quanh trung tâm của Ngân hà ở khoảng cách xấp xỉ 24.000–26.000 năm ánh sáng từ trung tâm ngân hà, nói chung di chuyển theo hướng chùm sao Cygnus và hoàn thành một vòng trong khoảng 225–250 triệu năm (một năm ngân hà). Tốc độ quỹ đạo của nó được cho khoảng 220 ± 20, km/s nhưng một ước tính mới đưa ra con số 251km/s}}.[19][20] Bởi Ngân hà của chúng ta đang di chuyển so với Màn bức xạ vi sóng vũ trụ (CMB) theo hướng chòm sao Hydra với tốc độ 550km/s, nên tốc độ chuyển động của nó so với CMB là khoảng 370km/s theo hướng chòm sao Crater hay Leo.[21]

Mục lục

[sửa] Vị trí trong hệ Ngân hà

Mặt trời nằm gần rìa phía trong của Nhánh Orion của Ngân hà, trong Bông Địa phương (Local Fluff) hay Vành đai Gould, ở khoảng cách lý thuyết 7.62±0.32 Kiloparsec (24.800 năm ánh sáng) từ Trung tâm Ngân hà,[22][23][24][25] được chứa bên trong Bong bóng Địa phương (Local Bubble), một không gian khí nóng loãng, có thể được tạo ra bởi tàn dư sao siêu mới, Gaminga. Khoảng cách giữa nhánh địa phương và nhánh tiếp theo ở bên ngoài, Nhánh Perseus, khoảng 6,500 năm ánh sáng. Mặt trời, và do đó cả Hệ mặt trời, nằm trong cái các nhà khoa học gọi là Vùng có thể ở được#Vùng có thể ở được của ngân hà.

Đỉnh đường di chuyển của Mặt trời (Sun's Way), hay đỉnh mặt trời, là hướng Mặt trời di chuyển xuyên qua không gian trong Ngân hà. Hướng chung của chuyển động thiên hà của Mặt trời là về hướng ngôi sao Vega gần chòm sao Hercules, ở một góc khoảng 60 độ bầu trời theo hướng Trung tâm Ngân hà. Nếu một người quan sát Mặt trời từ Alpha Centauri, hệ sao gần nhất, Mặt trời sẽ ở trong chòm sao Cassiopeia.[26]

Mặt trời quay quanh Ngân hà theo hình gần elip với những nhiễu loạn do các cánh tay hình xoắn của Ngân hà và sự phân bố vật chất không đồng đều. Ngoài ra Mặt trời còn đu đưa lên xuống so với mặt phẳng ngân hà xấp xỉ 2.7 lần trong mỗi vòng quay. Điều này rất giống với việc làm sao một vật đu đưa điều hoà đơn giản thực hiện khi không có lực cản. Đã có tranh luận rằng thời điểm khi Mặt trời đi qua các nhánh xoắn ốc có mật độ cao hơn thường trùng khớp với những cuộc tuyệt chủng hàng loạt trên Trái đất, có lẽ vì số sự kiện va chạm tăng lên.[27] Hệ Mặt trời mất khoảng 225–250 triệu năm để quay quanh ngân hà (một năm ngân hà),[28] vì thế trong cuộc đời của Mặt trời nó thực hiện khoảng 20-25 vòng quay và 1/1250 vòng từ khi loài người xuất hiện. Tốc độ quỹ đạo của Hệ mặt trời so với trung tâm Ngân hà khoảng 251 km/s.[19] Ở tốc độ này, Hệ mặt trời mất khoảng 1,400 năm để vượt qua khoảng cách 1 năm ánh sáng, hay 8 ngày để vượt qua 1 AU.[29]

[sửa] Đặc điểm

Moon transit of sun large.ogg
Mặt trăng đi qua Mặt trời được chụp trong A lunar transit of the sun captured during calibration of STEREO B's ultraviolet imaging cameras
Một hình vẽ thể hiện cấu trúc Mặt trời:
1. Lõi
2. Vùng bức xạ
3. Vùng đối lưu
4. Quyển sáng
5. Quyển sắc
6. Quầng
7. Vết đen mặt trời
8. Đốm
9. Chỗ lồi lên

Mặt trời là một ngôi sao thuộc dãy chính màu vàng chiếm khoảng 99% tổng khối lượng Hệ mặt trời. Nó là một hình cầu gần hoàn hảo, chỉ hơi dẹt khoảng chín phần triệu,[30] có nghĩa đường kính cực của nó khác biệt so với đường kính xích đạo chỉ 10 km (6 dặm). Bởi Mặt trời tồn tại trong trạng thái plasma và không rắn chắc, tại xích đạo tốc độ quay nhanh hơn tại cực. Điều này được gọi là chuyển động không đồng tốc. Chu kỳ của chuyển động thực này xấp xỉ 25,6 ngày ở xích đạo và 33,5 ngày ở cực. Tuy nhiên, vì điểm quan sát thuận lợi luôn thay đổi khi Trái đất quay quanh Mặt trời, chuyển động biểu kiến của ngôi sao này tại xích đạo là khoảng 28 ngày.[31] Hiệu ứng ly tâm của chuyển động chậm này yếu hơn 18 triệu lần so với lực hấp dẫn tại xích đạo Mặt trời. Hiệu ứng thuỷ triều của các hành tinh thậm chí còn yếu hơn, và không ảnh hưởng lớn tới hình dạng Mặt trời.[32]

Mặt trời là một Tính kim loại, hay sao có nhiều nguyên tố nặng,[note 1]. Sự hình thành Mặt trời có thể đã được bắt đầu từ các sóng chấn động từ một hay nhiều sao siêu mới bên cạnh.[33] Lý thuyết này được đưa ra bởi sự phong phú của nguyên tố nặng trong Hệ mặt trời, như vànguranium, liên quan tới sự phong phú của những nguyên tố này trong cái gọi là Tính kim loại#Sao nhóm II (ít nguyên tố nặng). Các nguyên tố này theo khả năng có thể nhất đã được tạo ra bởi các phản ứng hạt nhân thu năng lượng trong một quá trình hình thành sao siêu mới, hay bởi sự biến đổi thông qua hấp thụ neutron bên trong một ngôi sao lớn thế hệ hai.

Mặt trời không có ranh giới cụ thể như những hành tinh đá, và ở phần phía ngoài của nó mật độ các khí giảm gần như theo hàm mũ với khoảng cách từ tâm.[34] Tuy nhiên, cấu trúc bên trong của nó được xác định rõ ràng, như được miêu tả bên dưới. Bán kính Mặt trời được đo từ tâm tới cạnh ngoài quyển sáng. Đây đơn giản là lớp mà bên trên nó các khí quá lạnh hay quá mỏng để bức xạ một lượng ánh sáng đáng kể, và vì thế là bề mặt dễ quan sát nhất bằng mắt thường.[35]

Phía trong Mặt trời không thể được quan sát trực tiếp, và chính Mặt trời là vật chắn bức xạ điện từ. Tuy nhiên, tương tự như địa chất học sử dụng sóng do các trận động đất tạo ra để xác định cấu trúc bên trong của Trái đất, phương pháp địa chất học Mặt trời (helioseismology) sử dụng các sóng ngoại âm (infrasound) đi xuyên qua phần trong Mặt trời để đo và hình dung cấu trúc bên trong của ngôi sao.[36] Mô hình máy tính của Mặt trời cũng sử dụng một công cụ lý thuyết để xác định các lớp bên trong của nó.

[sửa] Lõi

Bài chi tiết: Lõi Mặt trời
Mặt cắt ngang một ngôi sao kiểu Mặt trời (NASA)

Lõi của Mặt trời được coi là chiếm khoảng 0.2 tới 0.25 bán kính.[37] Nó có mật độ lên tới 150g/cm3[38][39] (150 lần mật độ nước trên Trái đất) và có nhiệt độ gần 13.600.000 độ Kelvin (so với nhiệt độ bề mặt Mặt trời khoảng 5.800 Kelvin). Những phân tích gần đây của phi vụ SOHO cho thấy tốc độ tự quay của lõi cao hơn vùng bức xạ.[37] Dù trong hầu hết cuộc đời của Mặt trời, năng lượng được tạo ra bởi phản ứng tổng hợp hạt nhân thông qua một loạt bước được gọi là dãy p–p (proton–proton); quá trình này biến hydro thành heli. Chưa tới 2% heli được tạo ra trong Mặt trời có từ chu trình CNO. Lõi là địa điểm duy nhất trong Mặt trời tạo ra một lượng đáng kể nhiệt thông qua phản ứng tổng hợp: phần còn lại của ngôi sao được đốt nóng bởi năng lượng truyền ra ngoài từ lõi. Tất cả năng lượng được tạo ra từ phản ứng tổng hợp hạt nhân trong lõi phải đi qua nhiều lớp để tới quyển sáng trước khi đi vào không gian như ánh sáng mặt trời hay năng lượng động lực của các hạt.[40][41]

Khoảng 9.2×1037 proton (nguyên tử hydro) được chuyển thành heli trong mỗi giây (trong tổng lượng ~8.9×1056 proton tự do trong Mặt trời), hay khoảng 4.4×109 kg trên giây,[41] phát ra năng lượng ở tỷ lệ chuyển đổi vật chất-năng lượng 4.26 triệu mét tấn trên giây, 383 yottawatt (3.83×1026 W),[41] hay 9.15×1010 megaton TNT mỗi giây. Mật độ năng lượng khoảng 194 µW/kg vật chất,[42] dù bởi hầu hết phản ứng tổng hợp hạt nhân xảy ra trong một lõi khá nhỏ mật độ năng lượng plasma tại đó lớn hơn khoảng 150 lần.[43] Để so sánh, thân thể con người tạo ra nhiệt ở tỷ lệ xấp xỉ 1.3 W/kg, lớn hơn khoảng 600 lần trên mỗi đơn vị khối lượng.[44] Giả sử mật độ lõi lớn hơn mức trung bình 150 lần, điều này tương ứng với một tỷ lệ sản xuất năng lượng khá nhỏ trong lõi Mặt trời—khoảng 0.272 W/m3. Năng lượng này nhỏ hơn nhiều so với năng lượng phát sinh từ một cây nến duy nhất.[note 2] Việc sử dụng plasma với các thông số tương tự cho việc sản xuất năng lượng trên Trái đất sẽ hoàn toàn không thực tế—thậm chí một nhà máy điện hạt nhân nhỏ nhất 1 GW cũng cần khoảng 5 tỷ mét tấn plasma.

Tỷ lệ phản ứng tổng hợp hạt nhân phụ thuộc nhiều vào mật độ và nhiệt độ, vì tỷ lệ phản ứng tổng hợp hạt nhân trong lõi là trạng thái cân bằng tự điều chỉnh: một tỷ lệ phản ứng hơi lớn hơn sẽ khiến lõi nóng lên nhiều và hơi mở rộng chống lại trọng lượng của các lớp bên ngoài, làm giảm tỷ lệ phản ứng và điều chỉnh sự nhiễu loạn; và một tỷ lệ hơi nhỏ hơn sẽ khiến lõi lạnh đi và hơi co lại, làm tăng tỷ lệ phản ứng và một lần nữa lại đưa nó về mức cũ.[46]

Các photon (tia gamma) nhiều năng lượng phát ra trong các phản ứng tổng hợp hạt nhân bị hấp thụ trong một plasma mặt trời chỉ vài millimét, và sau đó tái phát xạ theo hướng ngẫu nhiên (và ở mức năng lượng khá thấp)—vì thế cần một thời gian dài bức xạ mới lên tới bề mặt Mặt trời. Những ước tính về "thời gian di chuyển của photon" trong khoảng từ 10.000 tới 170.000 năm.[47] Sau chuyến du hành cuối cùng qua lớp bức xạ bên ngoài để tới "bề mặt" trong suốt của quyển sáng, các photon thoát ra như ánh sáng nhìn thấy được. Mỗi tia gamma trong lõi Mặt trời được chuyển thành hàng triệu photon ánh sáng nhìn thấy được trước khi đi vào không gian. Các neutrino cũng được phát sinh từ các phản ứng tổng hợp hạt nhân trong lõi, nhưng không giống như photon, chúng hiếm khi tương tác với vật chất, vì thế hầu như toàn bộ chúng thoát khỏi Mặt trời ngay lập tức. Trong nhiều năm những đo đạc về số lượng neutrino do Mặt trời tạo ra thấp hơn các dự đoán lý thuyết khoảng 3 lần. Sự không nhất quán này gần đây đã được giải quyết thông qua sự khám phá các hiệu ứng dao động neutrino: trên thực tế Mặt trời toả ra số lượng neutrino như các lý thuyết dự đoán, nhưng các máy dò tìm neutrino để lọt mất 2/3 trong số chúng bởi các neutrino đã thay đổi flavor.[48]

[sửa] Vùng bức xạ

Từ khoảng 0.25 tới khoảng 0.7 bán kính Mặt trời, vật liệu Mặt trời nóng và đặc đủ để bức xạ nhiệt chuyển được nhiệt độ từ trong lõi ra ngoài.[43] Trong vùng này không có đối lưu nhiệt; tuy các vật liệu lạnh đi khi độ cao tăng lên (từ 7.000.000 °C tới khoảng 2.000.000 °C) sự gradient nhiệt độ này nhỏ hơn giá trị tỷ lệ khoảng đoạn nhiệt (adiabatic lapse rate) và vì thế không thể gây ra sự đối lưu.[39] Nhiệt được truyền bởi sự bức xạions của hydroheli tạo ra các photon, nó chỉ di chuyển một khoảng cách ngắn trước khi bị tái hấp thụ bởi các ion khác.[43] Các photon thực tế bật lên rất nhiều lần xuyên qua vật chất đặc này tới mức một photon riêng lẻ mất khoảng một triệu năm để tới được lớp bề mặt, và vì thế, năng lượng chuyển ra ngoài rất chậm.[39] Mật độ giảm sút hàng trăm lần (từ 20 g/cm³ xuống chỉ 0.2 g/cm³) từ đáy lên đỉnh vùng bức xạ.[43]

Giữa vùng bức xạ và vùng đối lưu là một lớp chuyển tiếp được gọi là tachocline. Đây là vùng nơi có sự thay đổi mạnh giữa chuyển động xoay đồng tốc của vùng bức xạ và chuyển động chênh lệch của vùng đối lưu dẫn tới một sự trượt mạnh—một điều kiện nơi các lớp ngang giáp nhau trượt trên nhau.[49] Các chuyển động của chất lỏng trong vùng đối lưu bên trên, dần biến mất từ đỉnh của lớp này xuống đáy của nó, phù hợp với các đặc điểm yên tĩnh của vùng bức xạ trên đáy. Hiện tại, mọi người tin rằng một dynamo từ bên trong lớp này tạo ra từ trường của Mặt trời.[39]

[sửa] Vùng đối lưu

Trong lớp ngoài của Mặt trời, từ bề mặt nó xuống xấp xỉ 200.000 km (hay 70% bán kính Mặt trời), plasma Mặt trời không đủ đặc hay đủ nóng để chuyển năng lượng nhiệt từ bên trong ra ngoài bằng bức xạ. Vì thế, đối lưu nhiệt diễn ra khi các cột nhiệt mang vật liệu nóng ra bề mặt (quyển sáng) của Mặt trời. Khi vật liệu lạnh đi ở bề mặt, nó đi xuống dưới đáy vùng đối lưu, để nhận thêm nhiệt từ đỉnh vùng bức xạ. Ở bề mặt nhìn thấy được của Mặt trời, nhiệt độ đã giảm xuống 5,700° K và mật độ chỉ còn 0.2 g/m³ (khoảng 1/10.000 mật độ không khí ở mực nước biển).[39]

Các cột nhiệt trong vùng đối lưu tạo nên một dấu vết trên Mặt trời, dưới hình thức hột mặt trời (solar granulation) và siêu hột. Sự hỗn loạn đối lưu của phần phía ngoài này của phần bên trong lòng Mặt trời khiến một dynamo "tỷ lệ nhỏ" xuất hiện tạo ra từ trường bắc và nam cực trên toàn bộ bề mặt Mặt trời.[39] Các cột nhiệt của Mặt trời là các pin Bénard và vì thế thường có hình lăng trụ năm cạnh.[50]

[sửa] Quyển sáng

Nhiệt độ hiệu quả (effective temperature), hay nhiệt độ vật thể tối (black body) của Mặt trời (5777 K) là nhiệt độ một vật thể tối với kích cỡ tương đương phải tạo ra tổng năng lượng phát ra tương tự.

Bề mặt nhìn thấy được của Mặt trời, quyển sáng, là lớp mà ở bên dưới nó Mặt trời trở nên mờ đục với ánh sáng nhìn thấy được.[51] Trên quyển sáng ánh sáng mặt trời nhìn thấy được tự do đi vào không gian, và năng lượng của nó thoát hoàn toàn khỏi Mặt trời. Sự thay đổi trong độ mờ đục xảy ra vì sự giảm khối lượng ion H, nó dễ dàng hấp thụ ánh sáng.[51] Trái lại, ánh sáng nhìn thấy được mà chúng ta thấy được tạo ra khi các electron phản ứng với các nguyên tử hydro để tạo ra các ion H.[52][53] Quyển sáng thực tế dày từ hàng chục tới hàng trăm kilômét, hơi đục hơn không khí trên Trái đất. Bởi phần phía trên của quyển sáng lạnh hơn phần phía dưới, hình ảnh Mặt trời thường sáng hơn ở trung tâm so với ở cạnh hay rìa của đĩa Mặt trời, trong một hiện tượng được gọi là rìa tối (limb darkening).[51] Ánh sáng Mặt trời có quang phổ vật thể tối cho thấy một nhiệt độ khoảng 6.000 K, rải rác với các đường hấp thụ hạt nhân từ các lớp loãng trên quyển sáng. Quyển sáng có mật độ hạt ~1023 m−3 (khoảng 1% mật độ hạt của khí quyển Trái đất ở mực nước biển).[43]

Những nghiên cứu đầu tiên về quang phổ quang học của quyển sáng, một số đường hấp thụ được tìm ra không tương ứng với bất kỳ một nguyên tố hoá học nào từng biết trên Trái đất khi ấy. Năm 1868, Norman Lockyer đưa ra giả thuyết rằng các đường hấp thụ đó là bởi một nguyên tố mới mà ông gọi là "heli", theo tên thần Mặt trời Hy Lạp Helios. Mãi 25 năm sau heli mới được phân lập trên Trái đất.[54]

[sửa] Khí quyển

Trong một sự kiện nhật thực toàn phần, quầng mặt trời có thể được quan sát bằng mắt thường.

Các phần bên trên quyển sáng của Mặt trời được gọi chung là khí quyển Mặt trời.[51] Chúng có thể được quan sát bằng kính viễn vọng hoạt động ngang qua quang phổ điện từ, từ sóng radio qua ánh sáng nhìn thấy được tới tia gamma, và gồm năm vùng chính: nhiệt độ tối thiểu, quyển sắc, vùng chuyển tiếp, quầng, và nhật quyển.[51] Nhật quyển, có thể được coi là khí quyển liên tục phía ngoài của Mặt trời, mở rộng ra bên ngoài vượt quá cả quỹ đạo sao Diêm Vương tới heliopause, nơi nó hình thành một biên giới đường chấn động rõ rệt với không gian liên sao. Quyển sắc, vùng chuyển tiếp và quầng nóng hơn nhiều so với bề mặt Mặt trời.[51] Lý do giải thích việc này vẫn chưa rõ ràng, bằng chứng cho thấy rằng các sóng Alfvén có thể có đủ năng lượng để làm nóng quầng.[55]

Lớp lạnh nhất của Mặt trời là vùng nhiệt độ tối thiểu khoảng 500 km bên trên quyển sáng, với nhiệt độ khoảng 4100K.[51] Phần này của Mặt trời đủ lạnh để hỗ trợ các phân tử như carbon monoxide và nước, có thể được phát hiện bởi quang phổ hấp thụ của chúng.[56]

Bên trên lớp nhiệt độ tối thiểu là một lớp dày khoảng 2000 km, chủ yếu là quang phổ của các đường hấp thụ và phát xạ.[51] Nó được gọi là quyển sắc bắt nguồn từ từ chroma của Hy Lạp, có nghĩa màu sắc, bởi quyển sắc nhìn thấy được như một ánh sáng có màu ở đầu và cuối của các lần nhật thực toàn phần.[43] Nhiệt độ của quyển sắc tăng dần cùng với độ cao, lên khoảng 20.000 K ở gần đỉnh.[51] Ở phần phía trên của quyển sắc heli bị ion hoá một phần.[57]

Được Kính Viễn vọng Quang học Mặt trời của Hinode chụp ngày 12 tháng 1 năm 2007, hình Mặt trời này cho thấy tình trạng sợi nhỏ của plasma liên kết các vùng của tính phân cực từ khác biệt.

Bên trên quyển sắc có một vùng chuyển tiếp mỏng (khoảng 200 km) trong đó nhiệt độ tăng nhanh từ khoảng 20.000 K ở thượng tầng quyển sắc lên tới nhiệt độ gần một triệu K tại quầng. Nhiệt độ gia tăng dễ dàng bởi sự ionhoá toàn bộ heli trong vùng chuyển tiếp, làm giảm mạnh sự bức xạ làm nguội của plasma.[57] Vùng chuyển tiếp thực sự có xảy ra ở một độ cao được xác định chính xác. Thực vậy, nó hình thành một kiểu quầng với các đặc tính kiểu quyển sắc như gaisợi, và luôn chuyển động hỗn loạn.[43] Vùng chuyển tiếp không dễ được quan sát thấy từ bề mặt Trái đất, mà thực tế chỉ có thể được quan sát thấy từ vũ trụ bằng các dụng cụ nhạy cảm với thành phần siêu cực tím của quang phổ.[58]

Quầng kéo dài ra khí quyển bên ngoài của Mặt trời, nó có thể tích lớn hơn cả Mặt trời. Quầng liên tục mở rộng vào vũ trụ hình thành nên gió mặt trời, lấp đầy toàn bộ Hệ mặt trời.[59] Quầng thấp, rất gần bề mặt Mặt trời, có mật độ phân tử khoảng 1015–1016 m−3.[57][note 3] Nhiệt độ trung bình của quầng và gió mặt trời khoảng 1–2 triệu kelvin, tuy nhiên, trong những vùng nóng nhất nó khoảng 8–20 triệu kelvin. Tuy không tồn tại giả thuyết đầy đủ để tính nhiệt độ quầng, ít nhất một số nhiệt của nó được biết có từ magnetic reconnection.[59]

Nhật quyển (heliosphere), là khoảng trống xung quanh Mặt trời và được lấp đầy bằng gió plasma mặt trời, kéo dài xấp xỉ 20 bán kính Mặt trời (0.1 AU) ra những mép phía ngoài của Hệ mặt trời. Biên giới phía trong của nó được xác định là lớp mà tại đó dòng gió mặt trời trở nên superalfvénic—có nghĩa, nơi dòng chảy trở nên nhanh hơn tốc độ của sóng Alfvén.[60] Sự nhiễu loạn và các lực động lực học bên ngoài biên giới này không thể ảnh hưởng tới hình dạng của quầng mặt trời bên trong, bởi thông tin chỉ có thể di chuyển với tốc độ của các sóng Alfvén. Gió mặt trời đi ra bên ngoài liên tục xuyên qua Nhật quyển, hình thành nên trường điện từ Mặt trời bên trong hình dạng xoắn ốc,[59] cho tới khi nó va chạm với nhật mãn với khoảng cách hơn 50 AU từ Mặt trời. Tháng 12 năm 2004, tàu vũ trụ Voyager 1 đã vượt qua một dải chấn được cho là một phần của nhật mãn. Cả hai tàu Voyager đều ghi nhận mức độ hạt năng lượng cao khi chúng tiếp cận biên giới.

[sửa] Từ trường

dải dòng nhật quyển phát triển ra toàn hệ mặt trời, và tạo ra sự ảnh hưởng của từ trường quay của Mặt trời lên plasma trong vật chất giữa các hành tinh.[61]

Mặt trời là một sao só hoạt động của từ trường. Nó có từ trường biến đổi từ trường mạnh mẽ hàng năm và đổi hướng sau mỗi 11 năm.[62] Từ trường của Mặt trời tăng lên gây ra một số hiệu ứng gọi chung là hoạt động của Mặt Trời bao gồm vết đen trên bề mặt của Mặt trời, vết sáng mặt trời, và các bức xạ trong gió mặt trời, chúng mang vật chất vào trong hệ Mặt trời.[63] Các ảnh hưởng của hoạt động bức xạ này lên Trái Đất như cực quang ở các vĩ độ trung bình đến cao, và sự gián đoạn việc truyền sóng radio và điện năng. Hoạt động của Mặt trời được cho là có vai trò quan rất lớn trong sự hình thành và tiến hóa của hệ Mặt Trời và làm thay đổi cấu trúc tầng điện ly của Trái Đất.[64]

Tất cả vật chất trong Mặt trời đều ở thể khíplasma do có nhiệt độ cao. Điều này có thể làm cho vận tốc quay ở vùng xích đạo (khoảng 25 ngày) nhanh hơn ở các vùng có vĩ độ cao hơn (khoảng 35 ngày ở gần các cực). Vận tốc quay khác nhau ở các vĩ độ của Mặt trời tạo ra các đường đường xuất từ xoắn vào nhau theo thời gian, tạo ra các vòng hoa từ tường phun ra từ bề mặt của Mặt Trời và tạo ra các vết đen Mặt Trời và các tai lửa Mặt Trời (xem sự nối lại từ trường). Sự xoắn vào nhau này làm tăng solar dynamo và gây ra sự đảo từ của mặt trời theo chu kỳ 11 năm.[65][66]

Từ trường của Mặt Trời mở rộng ra ngoài ranh giới của nó. Plasma gió mặt trời bị từ hóa mang từ trường của Mặt Trời vào không gian tạo ra từ trường giữa các hành tinh.[59] Vì vậy, plasma chỉ có thể chuyển động trên các đường xuất từ, từ trường giữa các hành tinh được mở rộng từ mặt trời ra ngoài không gian. Do trường từ ở trên và dưới xích đạo khác nhau về cực hướng vào và hướng ra khỏi Mặt Trời, nên tồn tại một lớp dòng điện mỏng trên mặt phẳng xích đạo được gọi là dải dòng nhật quyển.[59] Ở khoảng cách lớn, sự quay của Mặt Trời xoắn từ trường và dải dòng này vào cấu trúc giống xoắn ốc Archimedes gọi là xoắn ốc Parker.[59] Từ trường giữa các hành tinh mạnh hơn từ trường ở hai cực của Mặt Trời. Từ trường ở hai cực của Mặt Trời 50–400 μT (trong Quang quyển) giảm theo hàm mũ bậc ba của khoảng cách và đạt 0,1 nT ở Trái Đất. Tuy nhiên, theo các thăm dò từ tàu không gian cho thấy từ trường giữa các hành tinh ở vị trí của Trái Đất cao hơn khoảng 100  lần so vào khoảng 5 nT.[67]

[sửa] Thành phần hóa học

Mặt Trời được cấu tạo chủ yếu bởi các nguyên tố hydroheli, các nguyên tố này chiếm 74,9% và 23,8% khối lượng của Mặt Trời trong khí quyển.[68] Các nguyên tố nặng hơn được gọi là kim loại trong thiên văn học, chiếm ít hơn 2% khối lượng Mặt Trời. Trong đó phổ biến nhất là oxy (chiếm gần 1% khối lượng Mặt Trời), cacbon (0,3%), neon (0,2%), và sắt (0,2%).[69]

Thành phần hóa học của Mặt Trời thừa hưởng các nguyên tố từ vật chất giữa các sao khi nó hình thành: hydro và heli trong Mặt Trời được tạo ra từ tổng hợp hạt nhân Big Bang. Các kim loại này được tạo ra bởi tổng hợp hạt nhân sao khi kết thúc quá trình tiến hóa sao và trả các vật liệu của chúng về khoảng không giữa các sao trước khi Mặt Trời hình thành.[70] Thành phần hóa học của quyển sáng thường đại diện chi thành phần của hệ Mặt trời lúc ban đầu.[71] Tuy nhiên, khi Mặt Trời hình thành, heli và các nguyên tố nặng tích tụ trong Quyển sáng. Do đó, quyển sáng ngày nay chứa ít heli và chỉ có khoảng 84% các nguyên tố nặng so với protostellar; protostellar có 71,1% hydro, 27,4% heli, và 1,5% kim loại.[68]

Bên trong Mặt Trời, các phản ứng tổng hợp hạt nhân làm biến đổi thành phần của nó do hidro biến thành heli, vì vậy phần trong cùng nhất của Mặt Trời hiện tại chỉ có khoảng 60% heli, còn hàm lượng kim loại phổ biến thì không đổi. Do phần bên trong Mặt Trời có hoạt động phóng xạ, chứ không phải đối lưu (xem cấu trúc ở trên), nên không có sản phẩm tổng hợp hạt nhân nào từ lõi đi vào quyển sáng.[72]

Các nguyên tố nặng phổ biến trong mặt trời mô tả bên trên được đo đạc bằng quang phổ và bằng các vật chất trong thiên thạch không bị nung chảy. Các thiên thạch này được cho là có chứa thành phần của protostellar Sun và không bị ảnh hưởng bởi sự tích tụ các nguyên tố nặng. Đó là hai cách đo đạc được nhiều người đồng ý nhất.[9]

[sửa] Thám hiểm Mặt Trời

Để thu được các quan sát liên tục về Mặt Trời, Cơ quan Vũ trụ châu Âu (ESA) và Cục Quản trị Hàng không và Không gian Quốc gia Hoa Kỳ (NASA) đã hợp tác với nhau phóng Đài quan sát mặt trời và nhật quyển (SOHO-Solar and Heliospheric Observatory) vào ngày 2 tháng 12 năm 1995. Soho nằm tại một điểm khá đặc biệt trong không gian, điểm Lagrange L1. Điểm Lagrange là điểm nằm giữa trái đất và mặt trời, cách trái đất chừng 1,6 triệu km, nơi có điểm trọng lực cân bằng giữa các hành tinh[73]

Sự giàu có của các nguyên tố trong quang quyển được biết rất rõ từ các nghiên cứu quang phổ thiên văn, nhưng thành phần bên trong Mặt Trời thì được biết ít hơn. Tàu Genesis, được thiết kế để lấy mẫu gió Mặt Trời, cho phép các nhà thiên văn có thể trực tiếp đo đạc thành phần vật chất của Mặt Trời. Nó trở lại Trái Đất năm 2004 và lẽ ra sẽ được phân tích, nhưng nó đã bị hư hại nặng khi hạ cánh do không mở khi đi vào bầu khí quyển của Trái Đất[74].

[sửa] Mặt Trời là nguồn năng lượng khổng lồ

Mặt trời là ngôi sao gần Trái đất nhất - Hình chụp mặt trời dưới ánh sáng nhìn thấy được

Ánh sáng nói riêng, hay bức xạ điện từ nói chung, từ bề mặt của Mặt Trời được xem là nguồn năng lượng chính cho Trái Đất. Hằng số năng lượng mặt trời được tính bằng công suất của lượng bức xạ trực tiếp chiếu trên một đơn vị diện tích bề mặt Trái Đất; nó bằng khoảng 1370 Watt trên một mét vuông. Ánh sáng Mặt Trời bị hấp thụ một phần trên bầu khí quyển Trái Đất, nên một phần nhỏ hơn tới được bề mặt Trái Đất, gần 1000 Watt/ năng lượng Mặt Trời tới Trái Đất trong điều kiện trời quang đãng. Năng lượng này có thể dùng vào các quá trình tự nhiên hay nhân tạo. Quá trình quang hợp trong cây sử dụng ánh sáng mặt trời và chuyển đổi CO2 thành ôxyhợp chất hữu cơ, trong khi nguồn nhiệt trực tiếp là làm nóng các bình đun nước dùng năng lượng Mặt Trời, hay chuyển thành điện năng bằng các pin năng lượng Mặt Trời. Năng lượng dự trữ trong dầu mỏ được giả định rằng là nguồn năng lượng của Mặt Trời được chuyển đổi từ xa xưa trong quá trình quang hợp và phản ứng hóa sinh của sinh vật cổ.

[sửa] Mặt Trời và tác hại đến mắt

Ánh sáng Mặt Trời rất sáng, và nhìn trực tiếp vào Mặt Trời rất có hại cho mắt. Nhìn trực tiếp vào Mặt Trời vào lúc trưa nắng sẽ làm cho các sắc tố quang hình trong con ngươi mất màu tạm thời, có thể tạo ra hiện tượng đom đóm mắt và mù tạm thời. Nhìn thẳng vào Mặt Trời bằng mắt trần sẽ nhận khoảng 4 miliwatt ánh sáng vào con ngươi và làm nóng lên đủ để có thể gây tác hại. Nhìn thoáng qua Mặt Trời có thể gây cảm giác khó chịu nhưng không gây hại nhiều.

Phân tích ánh sáng mặt trời khi đến Trái Đất

Nhìn Mặt Trời thông qua các thấu kính như song kính rất có hại nếu không có màn hấp thụ làm mờ tia sáng. Các màng làm mờ có bán tại các cửa hàng cung cấp sản phẩm hànmáy chụp ảnh. Sử dụng đồ lọc thích hợp rất quan trọng như làm giảm độ sáng và cản các tia hồng ngoạicực tím có thể làm hại cho mắt. Nhìn thẳng vào thấu kính để nhìn Mặt Trời có thể nhận khoảng 2 watt năng lượng trực tiếp vào mắt, gấp 300 lần hơn so với nhìn bằng mắt thường. Chỉ thoáng nhìn qua thấu kính mà không có đầu lọc có thể gây ra mù vĩnh viễn.

Trong hiện tượng nhật thực, điều kiện nguy hiểm có thể xảy ra đối với mắt bởi phản ứng của mắt với ánh sáng. Đồng tử được điều khiển bằng tổng ánh sáng của môi trường, không bằng ánh sáng của vật sáng nhất trong môi trường. Trong hiện tượng nhật thực, phần lớn ánh sáng bị cản lại bằng Mặt Trăng, nhưng phần ánh sáng không bị che khuất có lượng ánh sáng bằng một ngày bình thường. Trong ánh sáng mờ, đồng tử có hiện tượng giản nở từ 2 mm đến 6 mm, tăng điện tích tiếp nhận ánh sáng gấp 10 lần. Các phần tử trên con ngươi nhận trực tiếp từ ánh sáng Mặt Trời vì thế gấp 10 lần bình thường, hay lúc không nhật thực. Nhìn trực tiếp nhật thực bằng mắt thường có thể gây ra sự hủy hoại từng phần trên võng mạc, gây ra hiện tượng mù từng đốm trên mắt. Điều này đặc biệt ảnh hưởng với trẻ em và những người không có kinh nghiệm.

Trong lúc Mặt Trời mọc hay lặn, ánh sáng bị hấp thụ một phần do khoảng đường xa tới tầng khí quyển Trái Đất, ngoài ra ánh sáng còn bị làm mờ do bụi trong không khí, sương mù và độ ẩm trong không khí góp một phần trong sự hấp thu này nên không làm cho mắt khó chịu.

[sửa] Lịch sử và tương lai

Mặt Trời

Mặt Trời của chúng ta không có khối lượng đủ lớn để kết thúc vòng đời bằng một vụ nổ tung như siêu tân tinh. Ngược lại, trong vòng 4-5 tỷ năm tới nó sẽ đi tới trạng thái sao khổng lồ đỏ của mình, diễn ra khi nguồn hiđrô trong lõi cạn kiệt. Sau đó nó bắt đầu phun trào hêli và nhiệt độ phần lõi sẽ tăng lên đến 3×108K. Khi đó có thể do sự giãn nở của lớp ngoài cùng của Mặt Trời sẽ đạt đến vị trí hiện tại của quỹ đạo Trái Đất, các nghiên cứu gần đây cho rằng sự mất khối lượng của Mặt Trời trong giai đoạn đỏ khổng lồ trước đó sẽ làm quỹ đạo Trái Đất dịch ra xa hơn về phía bên ngoài, ngăn không cho nó bị nhấn chìm. Sau giai đoạn đỏ khổng lồ, các xung nhiệt khổng lồ sẽ làm cho Mặt Trời phun ra các lớp bên ngoài của nó để tạo ra tinh vân. Mặt Trời sau đó sẽ trở thành sao lùn trắng, nguội dần đi vĩnh viễn.

[sửa] Xem thêm

[sửa] Ghi chú

  1. ^ Trong thiên văn học, thuật ngữ nguyên tố nặng (hay kim loại) để chỉ mọi nguyên tố ngoại trừ hydro và heli.
  2. ^ Năng lượng từ một cây nến tiêu biểu trong khoảng từ 10 đến 100 watt.[45]
  3. ^ Khí quyển trái đất gần mặt biển có mật độ vào khoảng 2×1025 m−3.

[sửa] Tham khảo

  1. ^ a b c d e f g NASA "Sun Fact Sheet"
  2. ^ Montalban, Miglio, Noels, Grevesse, DiMauro. “Solar model with CNO revised abundances”. Truy cập 30-11, 2007.
  3. ^ National Aeronautics and Space Administration. “Eclipse 99 - Frequently Asked Questions”. Truy cập 16-10, 2007.
  4. ^ a b Seidelmann, P. K.; V. K. Abalakin; M. Bursa; M. E. Davies; C. de Bergh; J. H. Lieske; J. Oberst; J. L. Simon; E. M. Standish; P. Stooke; P. C. Thomas (2000). “Report Of The IAU/IAG Working Group On Cartographic Coordinates And Rotational Elements Of The Planets And Satellites: 2000”. Truy cập 22-3-2006.
  5. ^ “The Sun's Vital Statistics”. Stanford Solar Center. Truy cập 29 tháng 7 năm 2008., citing
    Eddy, John (1979). A New Sun: The Solar Results From Skylab, trang 37, Washington, D.C: NASA SP-402.
  6. ^ Woolfson, M. (2000). “The origin and evolution of the solar system”. Astronomy & Geophysics 41: 1.12. doi:10.1046/j.1468-4004.2000.00012.x. 
  7. ^ “Equinoxes, Solstices, Perihelion, and Aphelion, 2000-2020”. U.S. Naval Observatory (USNO) (31 tháng 1 năm 2008). Truy cập 17 tháng 7 năm 2009.
  8. ^ Simon, A. (2001). The real science behind the X-files : microbes, meteorites, and mutants, trang 25–27, Simon & Schuster. ISBN 0684856182.
  9. ^ a b Basu, S.; Antia, H.M. (2008). “Helioseismology and Solar Abundances”. Physics Reports 457 (5–6): 217. doi:10.1016/j.physrep.2007.12.002. arΧiv:0711.4590. 
  10. ^ “Why is the sky blue?”. Science Made Simple (1997). Truy cập 24 tháng 9 năm 2008.
  11. ^ Than, K.. “Astronomers Had it Wrong: Most Stars are Single”, Space.com. Truy cập 1 tháng 8 năm 2007.
  12. ^ Lada, C.J. (2006). “Stellar multiplicity and the initial mass function: Most stars are single”. Astrophysical Journal 640 (1): L63–L66. doi:10.1086/503158. Bibcode2006ApJ...640L..63L. 
  13. ^ A Star with two North Poles, April 22, 2003, Science @ NASA
  14. ^ Riley, Pete; Linker, J. A.; Mikić, Z., "Modeling the heliospheric current sheet: Solar cycle variations", (2002) Journal of Geophysical Research (Space Physics), Volume 107, Issue A7, pp. SSH 8-1, CiteID 1136, DOI 10.1029/2001JA000299. (Full text)
  15. ^ Adams, F.; Laughlin, G.; Graves, G.J. M. (2004). “Red Dwarfs and the End of the Main Sequence”. RevMexAA 22: 46–49. 
  16. ^ Zeilik, M. (2001). Astronomy: The Evolving Universe, 282, Nhà in Đại học Cambridge. ISBN 9780521800907.
  17. ^ “Stellar parameters”. Space Science Reviews 43 (3–4): 244-250. 1986. doi:10.1007/BF00190626. 
  18. ^ Bessell, M. S.; Castelli, F.; Plez, B. (1998). “Model atmospheres broad-band colors, bolometric corrections and temperature calibrations for O - M stars”. Astronomy and Astrophysics 333: 231–250. http://adsabs.harvard.edu/full/1998A&A...333..231B. 
  19. ^ a b Croswell, K. (2008). “Milky Way keeps tight grip on its neighbor”. New Scientist (2669): 8. http://space.newscientist.com/article/mg19926693.900-milky-way-keeps-tight-grip-on-its-neighbour.html. 
  20. ^ Kerr, F.J.; Lynden-Bell, D. (1986). “Review of galactic constants”. Monthly Notices of the Royal Astronomical Society 221: 1023–1038. Bibcode1986MNRAS.221.1023K. http://articles.adsabs.harvard.edu/cgi-bin/nph-iarticle_query?1986MNRAS.221.1023K&data_type=PDF_HIGH&type=PRINTER&filetype=.pdf. 
  21. ^ Kogut, A.; et al. (1993). “Dipole Anisotropy in the COBE Differential Microwave Radiometers First-Year Sky Maps”. Astrophysical Journal 419: 1. doi:10.1086/173453. Bibcode1993ApJ...419....1K. 
  22. ^ Reid, M.J. (1993). “The distance to the center of the Galaxy”. Annual Review of Astronomy and Astrophysics 31: 345–372. doi:10.1146/annurev.aa.31.090193.002021. Bibcode1993ARA&A..31..345R. 
  23. ^ Eisenhauer, F.; et al. (2003). “A Geometric Determination of the Distance to the Galactic Center”. Astrophysical Journal 597 (2): L121–L124. doi:10.1086/380188. Bibcode2003ApJ...597L.121E. 
  24. ^ Horrobin, M.; et al. (2004). “First results from SPIFFI. I: The Galactic Center”. Astronomische Nachrichten 325 (2): 120–123. doi:10.1002/asna.200310181. http://www.mpe.mpg.de/SPIFFI/preprints/first_result_an1.pdf. 
  25. ^ Eisenhauer, F.; et al. (2005). “SINFONI in the Galactic Center: Young Stars and Infrared Flares in the Central Light-Month”. Astrophysical Journal 628 (1): 246–259. doi:10.1086/430667. Bibcode2005ApJ...628..246E. 
  26. ^ Beletsky, Y. (2007). “The Milky Way Near the Southern Cross”. Astronomy Picture of the Day. NASA. Truy cập 26 tháng 5 năm 2009.
  27. ^ Gillman, M.; Erenler, H. (2008). “The galactic cycle of extinction”. International Journal of Astrobiology 386: 155. doi:10.1017/S1473550408004047. http://journals.cambridge.org/action/displayAbstract?aid=1804088. 
  28. ^ Leong, S. (2002). “Period of the Sun's Orbit around the Galaxy (Cosmic Year)”. The Physics Factbook. Truy cập 10 tháng 5 năm 2007.
  29. ^ Garlick, M.A. (2002). The Story of the Solar System, 46, Nhà in Đại học Cambridge. ISBN 0521803365.
  30. ^ Godier, S.; Rozelot, J.-P. (2000). “The solar oblateness and its relationship with the structure of the tachocline and of the Sun's subsurface”. Astronomy and Astrophysics 355: 365–374. Bibcode2000A&A...355..365G. http://aa.springer.de/papers/0355001/2300365.pdf. 
  31. ^ Phillips, 1995, pp. 78–79
  32. ^ Schutz, Bernard F. (2003). Gravity from the ground up, trang 98–99, Nhà in Đại học Cambridge. ISBN 9780521455060.
  33. ^ Falk, S.W.; Lattmer, J.M.; Margolis, S.H. (1977). “Are supernovae sources of presolar grains?”. Nature 270: 700–701. doi:10.1038/270700a0. http://www.nature.com/nature/journal/v270/n5639/abs/270700a0.html. 
  34. ^ Zirker, 2002, p. 11
  35. ^ Phillips, 1995, p. 73
  36. ^ Phillips, 1995, pp. 58–67
  37. ^ a b García, R.; et al. (2007). “Tracking solar gravity modes: the dynamics of the solar core”. Science 316 (5831): 1591–1593. doi:10.1126/science.1140598. PMID 17478682. 
  38. ^ Basu et al. (2009). “Fresh insights on the structure of the solar core”. The Astrophysical Journal 699 (699): 1403. doi:10.1088/0004-637X/699/2/1403. http://adsabs.harvard.edu/abs/2009ApJ...699.1403B. Truy cập 10 tháng 7 năm 2009. 
  39. ^ a b c d e f “NASA/Marshall Solar Physics”. Solarscience.msfc.nasa.gov (18 tháng 1 năm 2007). Truy cập 11 tháng 7 năm 2009.
  40. ^ Zirker, 2002, pp. 15–34
  41. ^ a b c Phillips, 1995, pp. 47–53
  42. ^ Pickering, Kevin T.; Owen, Lewis A. (1997). An introduction to global environmental issues, 60, Routledge. ISBN 9780415140980.
  43. ^ a b c d e f g “Nasa – Sun”. Nasa.gov (29 tháng 11 năm 2007). Truy cập 11 tháng 7 năm 2009.
  44. ^ Hitchcock, R. Timothy; Patterson, Patterson (1995). Radio-Frequency and ELF Electromagnetic Energies: A Handbook for Health Professionals, 218, John Wiley and Sons. ISBN 9780471284543.
  45. ^ Hamins, Anthony; Bundy, Mathew (2005). “Characterization of Candle Flames” (pdf). Journal of Fire Protection Engeneering 15: 265–285. doi:10.1177/1042391505053163. http://fire.nist.gov/bfrlpubs/fire05/PDF/f05141.pdf. 
  46. ^ Myers, Steven T. (18 tháng 2 năm 1999). “Lecture 11 – Stellar Structure I: Hydrostatic Equilibrium”. Truy cập 15 July 2009.
  47. ^ NASA (2007). “Ancient Sunlight”. Technology Through Time (50). http://sunearthday.nasa.gov/2007/locations/ttt_sunlight.php. Truy cập 24 tháng 6 năm 2009. 
  48. ^ Schlattl, H. (2001). “Three-flavor oscillation solutions for the solar neutrino problem”. Physical Review D 64 (1): 013009. doi:10.1103/PhysRevD.64.013009. 
  49. ^ ed. by Andrew M. Soward ... (2005). “The solar tachocline: Formation, stability and its role in the solar dynamo”, Fluid dynamics and dynamos in astrophysics and geophysics reviews emerging from the Durham Symposium on Astrophysical Fluid Mechanics, July 29 to August 8, 2002, trang 193–235, Boca Raton: CRC Press. ISBN 9780849333552.
  50. ^ Mullan, D.J (2000). “Solar Physics: From the Deep Interior to the Hot Corona”, Page, D., Hirsch, J.G. From the Sun to the Great Attractor, 22, Springer. ISBN 9783540410645.
  51. ^ a b c d e f g h i Abhyankar, K.D. (1977). “A Survey of the Solar Atmospheric Models”. Bull. Astr. Soc. India 5: 40–44. http://prints.iiap.res.in/handle/2248/510. 
  52. ^ Gibson, E.G. (1973). The Quiet Sun, NASA. Bản mẫu:ASIN.
  53. ^ Shu, F.H. (1991). The Physics of Astrophysics, University Science Books. ISBN 0935702644.
  54. ^ Parnel, C.. “Discovery of Helium”. Đại học St Andrews. Truy cập 22 tháng 3 năm 2006.
  55. ^ De Pontieu, B.; et al. (2007). “Chromospheric Alfvénic Waves Strong Enough to Power the Solar Wind”. Science 318 (5856): 1574–77. doi:10.1126/science.1151747. PMID 18063784. http://www.sciencemag.org/cgi/content/full/318/5856/1574. 
  56. ^ Solanki, S.K.; , W. and Ayres, T. (1994). “New Light on the Heart of Darkness of the Solar Chromosphere”. Science 263: 64–66. doi:10.1126/science.263.5143.64. http://www.sciencemag.org/cgi/content/abstract/263/5143/64. 
  57. ^ a b c Hansteen, V.H.; Leer, E. (1997). “The role of helium in the outer solar atmosphere”. The Astrophysical Journal 482: 498–509. doi:10.1086/304111. http://adsabs.harvard.edu/abs/1997ApJ...482..498H. 
  58. ^ Dwivedi, Bhola N. (2006). “Our ultraviolet Sun” (pdf). Current Science 91 (5): 587–595. ISSN 0011-3891. http://www.ias.ac.in/currsci/sep102006/587.pdf. 
  59. ^ a b c d e f Russell, C.T. (2001). “Solar wind and interplanetary magnetic filed: A tutorial”, Space Weather (Geophysical Monograph) (pdf), trang 73–88, American Geophysical Union. ISBN 978-0875909844.
  60. ^ A.G, Emslie (2003). “Particle Acceleration”, Dwivedi, B.N. Dynamic Sun, 275, Nhà in Đại học Cambridge. ISBN 9780521810579.
  61. ^ “The Mean Magnetic Field of the Sun”. Wilcox Solar Observatory (2006). Truy cập 1 tháng 8 năm 2007.
  62. ^ Zirker, 2002, pp. 119–120
  63. ^ Zirker, Jack B. (2002). Journey from the Center of the Sun, trang 120–127, Nhà in Đại học Princeton. ISBN 9780691057811.
  64. ^ Phillips, Kenneth J. H. (1995). Guide to the Sun, trang 14–15, 34–38, Nhà in Đại học Cambridge. ISBN 9780521397889.
  65. ^ “CNN.com - Sci-Tech - Space - Sun flips magnetic field - February 16, 2001”. Archives.cnn.com. Truy cập 11 tháng 7 năm 2009.
  66. ^ “The Sun Does a Flip”. Science.nasa.gov (15 tháng 2 năm 2001). Truy cập 11 tháng 7 năm 2009.
  67. ^ Wang, Y.-M.; Sheeley, N.R. (2003). “Modeling the Sun's Large-Scale Magnetic Field during the Maunder Minimum”. The Astrophysical Journal 591: 1248–56. doi:10.1086/375449. http://adsabs.harvard.edu/abs/2003ApJ...591.1248W. 
  68. ^ a b
  69. ^ Hansen, C.J. (2004). Stellar Interiors: Physical Principles, Structure, and Evolution, 2nd, 19–20, Springer. ISBN 0387200894.
  70. ^ Bản mẫu:Harvtxt
  71. ^ Aller, L.H. (1968). “The chemical composition of the Sun and the solar system”. Proceedings of the Astronomical Society of Australia 1: 133. Bibcode1968PASAu...1..133A. http://articles.adsabs.harvard.edu/cgi-bin/nph-iarticle_query?1968PASAu...1..133A&data_type=PDF_HIGH&whole_paper=YES&type=PRINTER&filetype=.pdf. 
  72. ^ Bản mẫu:Harvtxt
  73. ^ Vệ tinh SOHO đã được "phẫu thuật" Vệ tinh SOHO của châu Âu gặp rắc rối
  74. ^ Tàu Genesis gặp nạn

[sửa] Liên kết ngoài

[sửa] Tiếng Anh

[sửa] Tiếng Việt

Ngôn ngữ khác