M24 Chaffee

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Xe tăng hạng nhẹ M24
M24-Chaffee-latrun-1.jpg
Loại Xe tăng hạng nhẹ
Nguồn gốc  Hoa Kỳ
Lược sử hoạt động
Quốc gia sử dụng Xem phần tương ứng trong bài
Sử dụng trong Thế Chiến II, Chiến tranh Triều Tiên, Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, Chiến tranh Algeria, Chiến tranh Indo-Pakistani vào năm 1971
Lược sử chế tạo
Giai đoạn sản xuất 1944-tháng 8/1945
Thông số kỹ chiến thuật
Khối lượng 18.4 tấn (40,500 lb)
Chiều dài 5.56 m (18.24 ft) (kể cả pháo chính)
5.03 m (16.5 ft) (không có pháo chính)
Chiều rộng 3 m (9.84 ft)
Chiều cao 2.77 m (9.08 ft)
Kíp chiến đấu 5

Bọc giáp 9.5–25 mm (0.37–1.49 in)
Vũ khí chính 1 × 75 mm Gun M6 L / 39
48 viên
Vũ khí phụ 1 × .50 cal Browning M2HB
440 viên
2 × .30-06 Browning M1919A4
3,750 viên
Động cơ 2 × Cadillac dòng 44T24, 8 xi-lanh
300/220 hp (220/164 kW)
Công suất/trọng lượng 16.09 hp/tấn
Hệ thống treo Thanh xoắn
Tầm hoạt động 161 km (100 mi)
Tốc độ 56 km/h (35 mi/h) (trên đường)
40 km/h (25 mi/h) (việt dã)

M24 Chaffee là loại xe tăng hạng nhẹ do Mỹ chế tạo năm 1943 và được đưa vào sử dụng trong Thế chiến thứ hai. Tuy chỉ được sản xuất trong một thời gian ngắn, nhưng nó lại được sử dụng khá phổ biến. Loại xe tăng này từng được trang bị cho Quân đội Pháp trong Chiến tranh Đông DươngQuân lực Việt Nam Cộng hòa trong Chiến tranh Việt Nam, hiện nay vẫn còn được cải tiến và dùng cho quân đội của một số quốc gia.

M24 chaffee của Pháp đang được triển khai trong trận Điện Biên Phủ.

Thiết kế và sản xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Việc thiết kế M24 xuất phát từ việc các mẫu tăng M3/M5 có lớp giáp bọc và vũ khí quá yếu, mẫu tăng M7 tuy mạnh hơn nhưng lại có trình diễn rất tệ. Tháng 3 năm 1943, Bộ Quốc phòng Mỹ đặt ra vấn đề thiết kế một loại tăng hạng nhẹ mới, có thiết kế kĩ thuật và khung tăng giống như M5A1 nhưng thay thế pháo chính bằng pháo 75 mm.

M24 chafee ở Detroit.

Chỉ một tháng sau khi yêu cầu được đưa ra, General Motors đã giới thiệu mẫu thiết kế một loại tăng mới có tên kĩ thuật là T24 với nhiều chi tiết của M5A1 được giản lược nhằm giữ trọng lượng ở dưới mức 20 tấn. Mẫu thiết kế có lớp giáp mỏng, phần dày nhất ở phía trước chỉ dày có 25 mm (nghiêng 60 độ nhìn theo hướng xiên). Một pháo chính hạng nhẹ mới với cỡ nòng 75 mm, thiết kế lại từ pháo phụ phòng không trên máy bay B-25H Mitchell được trang bị cho xe. Loại pháo này có tính năng chiến đấu giống như loại pháo trang bị trên M3 nhưng có vách nòng pháo mỏng hơn và cơ cấu giảm chấn hơi khác, do đó giảm đi trọng lượng pháo cũng như tăng tốc độ bắn. Mẫu thiết kế mới cũng được trang bị bản xích tăng rộng hơn (16 inch) và hệ thống thanh xoắn giảm xóc. Mẫu có hình chiếu khá thấp và kíp lái tháp pháo gồm 3 người. T24 nhanh chóng được thông qua và đưa vào sản xuất với tên gọi chính thức M24.

Ngày 15 tháng 10 năm 1943, việc sản xuất M24 chính thức triển khai. Nó được sản xuất tại hai cơ sở khác nhau, bởi tập đoàn Cadillac (từ tháng 4 năm 1944) và bởi tập đoàn Massey-Harris (từ tháng 7 năm 1944). Vào thời điểm ngừng sản xuất (tháng 8 năm 1945), đã có khoảng 4.731 chiếc M24 được chuyển đi bằng đường hàng không. Một vài trong số chúng được chuyển cho Quân đội Anh. Người Anh đã đặt cho nó cái tên Chaffee, theo tên của Thiếu tướng Lục quân Hoa Kỳ Adna R. Chaffee, Jr., người được mệnh danh là "Cha đẻ của lực lượng thiết giáp Hoa Kỳ", vừa mới qua đời trước đó vài năm.

Lược sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

M24 Chaffee được thiết kế ra nhằm thay thế tăng hạng nhẹ M5 đang được dùng để hỗ trợ bộ binh. Ba mươi tư chiếc M24 đầu tiên được vận chuyển đến Châu Âu vào tháng 11 năm 1944 đã được giao cho Trung đoàn Kỵ binh cơ giới số 2 tại Pháp. Nó được biên chế vào các Đại đội F của Tiểu đoàn kỵ binh trinh sát số 2 và số 42. Trong trận Bulge vào tháng 12 năm 1944, những đơn vị này được chuyển đến khu vực Nam, hai chiếc M24 được phối thuộc trong Tiểu đoàn tăng 740, thuộc Tập đoàn quân số 1, Hoa Kỳ.

Tuy bắt đầu tham chiến trên diện rộng vào tháng 12 năm 1944, tuy nhiên do hạn chế bởi việc vận chuyển, nên mãi đến gần cuối chiến tranh, M24 mới tiếp cận được chiến tuyến, vì vậy không đóng góp nhiều vào chiến thắng tại Châu Âu. Cho đến lúc đó, rất nhiều đơn vị thiết giáp vẫn phải sử dụng tăng M5 cùng với loại M4 Sherman. Một số còn không nhận được số M24 trang bị cho đến hết chiến tranh.

Dù vậy, những bản báo cáo sử dụng cho thấy M24 được đánh giá khá tốt như bản xích rộng giúp cho xe có độ ổn định cao, hình chiếu thấp giúp cho xe có khả năng ẩn nấp tốt, và đặc biệt với pháo chính 75 mm mang lại hiệu suất cao hơn pháo 37 mm. Với pháo này, tuy M24 không thể đối đầu trực diện với đa phần tăng của Đức Quốc Xã, nhưng chúng vẫn có làm vô hiệu hóa khả năng tăng Đức nếu như bắn chính xác vào các điểm yếu. Dù vậy, lớp giáp quá mỏng vẫn bị đánh giá thấp, bởi chúng dễ dàng bị xuyên thủng bởi đa phần các loại pháo tự hành chống tăng, mìn chống tăng và tăng của Đức Quốc Xã.

Kíp chiến đấu của tăng M24 tại mặt trận sông Naktong(chiến tranh Triều Tiên);dưới đất là Pfc. Rudolph Dotts, ngồi phía bên trên là binh nhì Maynard Linaweaver và ngồi trên cùng(điều khiển súng máy) là Pfc. Hugh Goodwin.Tất cả số lính và tăng này đều thuộc sư đoàn do thám số 24.

Trong cuộc chiến tranh Triều Tiên, M24 được quân đội Mỹ sử dụng để đối đầu với tăng T-34-85 của quân đội Liên Xô tiếp tế cho Triều Tiên. Tuy nhiên, trong vai trò này, M24 biểu diễn khá tệ hại khi phải đối đầu với những loại tăng có hỏa lực mạnh, lớp giáp bọc kĩ như T-34. Do đó, chúng được chuyển sang vai trò là tăng do thám và đã thực hiện công việc này rất tốt. Ngoài ra, chúng còn được phân nhiệm vụ bổ trợ các loại tăng khác như M4, M26 và M46.

Xe tăng M24 của quân Pháp trong trận Điện Biên Phủ

Như những mẫu tăng thành công khác trong Thế chiến II, M24 được chuyển đến rất nhiều nước trên thế giới và được sử dụng bởi khá nhiều quân đội, cho đến khi được thay thế dần bởi loại tăng M41 Walker Bulldog. Quân Pháp từng sử dụng M24 trong các chiến dịch càn quét tại Đông Dương và cho kết quả rất tốt. Vào tháng 12 năm 1953, 10 chiếc M24 được huy động tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ. Hầu hết trong số chúng bị phá hủy, một số ít bị Quân đội Nhân dân Việt Nam chiếm làm chiến lợi phẩm sau khi họ giành thắng lợi. Rất nhiều tăng M24 của quân đội Pháp tại Đông Dương được chuyển giao cho Quân đội Quốc gia Việt Nam, về sau được Quân đội Việt Nam Cộng hòa sử dụng cho đến khi được người Mỹ viện trợ cho loại tăng M41 Walker Bulldog thay thế.

M24 còn được người Pháp sử dụng tại chiến trường Algeria. Lần cuối cùng M24 được thấy tham chiến trong cuộc chiến tranh Ấn Độ - Pakistan năm 1971, trên chiến trường Bangladesh hơn 66 chiếc M24 trấn thủ khu vực và đối đầu với các loại tăng mạnh hơn như T-55, PT-76 và một nhóm lính chống tăng của Quân đội Ấn Độ. Dù sau đó, mặc dù cả Iran và Iraq đều có M24 nhưng không có bằng chứng nào chứng tỏ là từng có sự tham gia của M24 trong cuộc chiến tranh Iran-Iraq.

Hiện tại, M24 vẫn được sử dụng tại quân đội nhiều nước như là tăng trinh sát hạng nhẹ. Thậm chí, Na Uy đã cải tiến thêm bằng cách thay động cơ diesel 6V-53, 2 kì, công suất 153,3 kw (210 cv), lắp pháo 90 mm của Pháp và thiết bị nhìn đêm.

Các biến thể[sửa | sửa mã nguồn]

M19 Twin 40mm Gun Motor Carriage
Pháo tự hành M37 105 mm của quân đội Tây Ban Nha
Pháo tự hành M41 155 mm tại bảo tàng Quân sự Mỹ
  • Xe tăng hạng nhẹ T24-mẫu xe tăng, về sau được đặt tên lại là M24.
  • Xe tăng hạng nhẹ T24E1-mẫu xe tăng được trang bị động cơ Continental R-975-C4 và hệ truyền động biến mômen Spicer.Một mẫu được cải tiến từ mẫu T24 và thử nghiệm vào tháng 10/1944.Mẫu xe tăng này có kết quả "biểu diễn" tốt hơn rất nhiều so với M24, nhưng hơi có vấn đề về bộ truyền động.
  • M19 Gun Motor Carriage-động cơ chính được lắp ráp giữa thân tăng, hai khẩu 40 mm M2 AA được lắp ở đằng sau thân tăng(336 viên đạn).904 chiếc được đặt hàng vào tháng 8/1944, nhưng chỉ có 285 chiếc được xuất xưởng.
  • M37 105 mm Howitzer Motor Carriage-được trang bị pháo chính 105 mm M4(126 viên đạn).Được chế tạo để thay thế pháo tự hành M7 Priest.Có 448 chiếc được đặt hàng, nhưng chỉ có 316 chiếc được xuất xưởng.
  • M41 155 mm Howitzer Motor Carriage (Gorilla)-động cơ được di chuyển ra giữa thân tăng, pháo 155 mm M1 được lắp vào phía sau.Có 250 chiếc được đặt hàng, 60 chiếc được xuất xưởng.
  • T77 Multiple Gun Motor Carriage-được trang bị súng máy 6 0.5 vào tháp pháo mới.
  • T9, T13-xe sửa chữa.
  • T22E1, T23E1, T33-xe chở hàng.
  • T42, T43-xe kéo hàng.
  • T42 được thiết kế dựa trên T33, được lắp ráp bộ truyền động biến mômen từ pháo tự hành diệt tăng M18 Hellcat.M43 là một phiên bản được giảm bớt trọng lượng của T42.
  • T9-được lắp ráp thêm bộ dụng cụ ủi đất.
  • Xe tăng sửa chữa T6E1.
  • NM-116-phiên bản sửa chữa của người Na Uy.
  • M4-xe tăng ủi đất di chuyển trên mặt đất.

Những nước sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Những nước sử dụng M24

Thông số kỹ thuật[sửa | sửa mã nguồn]

  • Kíp xe: 4 người.
  • Khối lượng chiến đấu: 18,37 tấn
  • Dài: 4,59 m (cả pháo quay phía trước 5,028 m)
  • Rộng: 2,95 m
  • Cao: 2,77 m (đến súng 12,7 mm)
  • Khoảng sáng gầm xe: 0,32 m
  • Động cơ: Hai động cơ xăng 4 kì V-8, làm mát bằng nước, công suất 160,6 kw (220 cv)
  • Dung tích hệ thống nhiên liệu: 415 lít

Tính năng[sửa | sửa mã nguồn]

  • Hành trình dự trữ: 281 km
  • Tốc độ lớn nhất: 55 km/h
  • Vượt dốc cao: 31 độ
  • Vượt dốc nghiêng: 25 độ
  • Vượt vách đứng: 0,91 m
  • Vượt hào rộng: 2,44 m
  • Lội nước sâu 1,02 m

Vũ khí[sửa | sửa mã nguồn]

  • Súng chính: 1 pháo rãnh xoắn 75 mm M6,1
  • Súng máy phòng không 12,7 mm
  • Súng chống bộ binh: 2 súng máy 7,62 mm (song song và phía trước)

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Hunnicutt, R. P (1992). A History of the American Light Tank. Novato, California: Presidio Press. ISBN 0-89141-462-2. 
  • J Zaloga, Steven (2003). M24 Chaffee Light Tank 1943–85. Botley, England: Osprey Publishing. ISBN 1-84176-540-6. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]