M4 Sherman

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
M4 Sherman
M4A1. Note the A1's round-edged, fully cast upper hull; also note the 75 mm gun used on most Shermans.
Một chiếc Sherman phiên bản M4A3E8 được trang bị pháo chính 76 mm
Loại Xe tăng hạng trung
Nguồn gốc  Hoa Kỳ
Lược sử hoạt động
Trang bị 1942 - 1955 (phục vụ cho quân đội Mỹ)
Quốc gia sử dụng xem trong bài
Sử dụng trong Thế chiến II

Nội chiến Hy Lạp
Chiến tranh Ả Rập - Do Thái
Chiến tranh Hàn Quốc
Chiến tranh Ấn Độ -Pakistan
Chiến tranh Sáu ngày
Chiến tranh Yom Kippur

Lược sử chế tạo
Năm thiết kế 1940
Thông số kỹ chiến thuật
Khối lượng 30.3 tấn (66.800 lb)
Chiều dài 5.84 m (19 ft 2 in)
Chiều rộng 2.62 m (8 ft 7 in)
Chiều cao 2.74 m (9 ft)
Kíp chiến đấu 5

Bọc giáp 19 - 91 mm
Vũ khí chính Súng 75 mm M3 L/40

90 viên

Vũ khí phụ 1 súng máy.50 cal Browning M2HB
300 viên.50
2 súng máy.30-06 Browning M1919A4 4.750 viên.30-06
Động cơ Continental R975 C1 gasoline
400 hp (298 kW)-tạo ra 2400 vòng xoắn
350 hp (253 kW)-tạo ra 2400 vòng xoắn
Công suất/trọng lượng 14 hp/tấn
Hệ thống treo Hệ thống treo vòng xoắn dây cót dọc(VVSS)
Tầm hoạt động 120 miles @ 175 US gal (145 imp. gal) / 80 octane
193 km @ 660 l / 80 octane
Tốc độ 38.5 km/h (24 mi/h) (khi nhẹ)

M4 Sherman là xe tăng của quân đội Hoa Kỳ sử dụng trong Thế chiến thứ hai, xuất hiên lần đầu tiên trong chiến dịch Miền Tây 1942. Sherman là loại xe tăng nổi tiếng nhất của Mỹ trong thế chiến thứ hai. Sở hữu hỏa lực mạnh, tốc độ nhanh và độ tin cậy cao, M4 Sherman có thể ngang hàng với hầu hết các loại vũ khí của quân đội Đức[cần dẫn nguồn]. Phù hợp với nhiều loại súng và động cơ nhưng M4 không phải lúc nào cũng là loại xe tăng mạnh nhất. Mặc dù được sản xuất trong thời gian ngắn với chi phí thấp, Sherman vẫn áp đảo quân thù mỗi lần xuất trận. Được sản xuất hàng loạt hơn 50000 chiếc, ngoài ra dàn sườn của xe này được dùng để tạo các loại xe quân sự bọc thép khác như xe chống tăng, xe kéo hoặc chở pháo, dễ sử dụng, sử dụng động cơ Wright R-975 Whirlwind 9 xylanh bố trí hình tròn làm mát bằng không khí, xe có vỏ làm bằng sắt mỏng nên có thể bị bắn thủng bằng đạn súng chống tăng và xe cũng rất dễ nổ khi gặp lửa. Tên lóng Sherman là do quân đội Anh đặt cho xe M4 (lấy tên của tướng William Tecumseh Sherman thời Nội chiến Mỹ). Sau Thế chiến thứ hai, xe Sherman được sử dụng trong Chiến tranh Triều Tiên. Nhiều quân đội các nước dùng xe Sherman để thao diễn quân sự cho đến cuối thế kỷ 20.

Thiết kế của người Mỹ[sửa | sửa mã nguồn]

Bộ quốc phòng Mỹ dự tính thiết kế M4 nhằm thay thế M3 Lee và tăng hạng trung Grant.Loại M3 chỉ thay thế phần khung tăng, còn vũ khí thì giữ nguyên như tăng M2(được thiết kế năm 1939).Ngoài ra M3 được thiết kế để làm biện pháp tạm thời thay thế cho M2.Trong khi đó, lực lượng thiết giáp Đức đã sở hữu những kiểu tăng rất mạnh như Panzer-II và Panzer III.Pháo chính 37 mn của M3 không thể nào xuyên thủng được giáp mặt trước của Panzer-III.Một giải pháp mới về một loại tăng có pháo chính 75 mm, hệ thống treo động lực xoáy trôn ốc, tháp pháo tròn và có lớp giáp bọc dày 63 mm được đặt ra.Và tên bản thiết kế là M4, về sau nó được thêm chữ Sherman vào sau.

Những chi tiết kĩ thuật của M4 được chính thức xem xét vào ngày 31/8/1940.Tuy nhiên việc thiết kế một mẫu thử nghiệm M4 bị đình trệ do M3 đã được thiết kế xong và được nhân rộng sản xuất.Vào ngày 18/4/1941, bộ quốc phòng Mỹ đã chọn bản thiết kế T-6 có cấu tạo đơn giản, lắp ráp trên khung tăng-bệ máy M3, một loại tháp pháo ụ tròn mới với pháo chính của tăng Lee.Sau nhiều đợt thử nghiệm và xem xét, mẫu T-6 được chọn làm bản thiết kế cho M4 Sherman.

M4 Sherman tập hợp những tính năng đặc biệt nhất từ các loại tăng vào những năm 1930, trong số đó có hệ thống treo vòng xoắn dây cót dọc, xích tăng có vỏ bọc cao su, động cơ hướng tâm bố trí đằng sau và đĩa răng kéo đằng trước.Theo như dự định ban đầu thì M4 phải là một loại tăng có thời gian sản xuất nhanh, có độ linh-hoả lực cao, có tính năng hỗ trợ bộ binh và quan trọng nhất là M4 phải hạ được các loại tăng hạng trung của Đức Quốc Xã cũng như các nước thuộc khối Trục.Cho dù về sau Đức Quốc Xã có nhiều loại tăng hạng trung và nặng mạnh hơn M4 rất nhiều nhưng nó vẫn là loại tăng chủ lực của quân đội Mỹ đến tận cuối cuộc chiến.

Mẫu T-6 được hoàn thành vào ngày 2/9/1941.Khác với M4, thân tăng của T-6 hơi cong và có lối đi vào ở hai bên, nhưng về sau hai chi tiết này đã bị loại bỏ trong quá trình sản xuất.T-6 chính thức được đưa vào chương trình sản xuất Sherman vào tháng 10.

Lược sử sản xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Việc sản xuất được bắt đầu lần đầu tiên tại nhà máy Lima Locomotive khi nhà máy đang sản xuất xe tăng cho lực lượng quân đội Anh.M4 được sản xuất cho quân đội Anh và Mỹ.Michael Dewar chính là người đầu tiên qua Mỹ đặt hàng cho quân Anh, và hiện tại vẫn còn một chiếc Sherman tại bảo tàng thiết giáp Bovington.

Trong thế chiến II, quân đội Mỹ có tổng cộng 16 sư đoàn thiết giáp và 70 tiểu đoàn tăng hoạt động độc lập.Một trong ba sư đoàn và 6 tiểu đoàn thiết giáp lính thuỷ đánh bộ được gửi đến mặt trận Thái Bình Dương.Vào tháng 9/1942, tổng thống Franklin D. Roosevelt đã chỉ thị cho các nhà máy phải sản xuất ít nhất được 120.000 chiếc xe tăng nhằm thành lập 61 sư đoàn thiết giáp để hỗ trợ cho lực lượng Đồng Minh tại Châu Âu.Mặc dù các nhà máy tại Mỹ không bị lực lượng không quân địch đánh bom nhưng phân nửa số nguyên liệu sản xuất xe tăng phải chuyển cho lượng lực hải quân khiến cho quá trình sản xuất diễn ra khá lâu và số lượng xe tăng xuất xưởng không được nhiều.Theo như tính toán thì số nguyên liệu(sắt, thép,...) chuyển cho các xưởng đóng tàu có thể sản xuất được hơn 67.000 chiếc xe tăng, nhưng thực tế chỉ có khoảng 53.500 chiếc được sản xuất từ năm 1942-1943.

Bộ quốc phòng Mỹ có tổng cộng 7 loại biến thể của M4 có thể đưa vào sản xuất:M4, M4A1, M4A2, M4A3, M4A4, M4A5, và M4A6.Mặc dù có nhiều biến thể như vậy nhưng chất lượng các phiên bản khác nhau của M4 thì cũng như nhau.Ví dụ điển hình nhất chính là phiên bản biến thể A4 và A3, A4 không có gì hơn A3.M4A1 có hơi khác M4 về phần động cơ, thân tăng của M4A1 hơi cong.Phiên bản M4A4 có hệ thống động cơ dài hơn khiến cho thân tăng của phiên bản này khá dài và có khá nhiều bộ guốc phanh xích.M4A5 được thiết kế cho quân đội Canada.M4A6 có bệ máy giãn dài và chỉ có dưới 100 chiếc được sản xuất.

M4A1 với thân tăng bằng sắt và có cấu tạo cong

Đa số các phiên bản Sherman đều sử dụng động cơ chạy bằng xăng thì có hai phiên bản Sherman là M4A2 và M4A6 lại sử dụng động cơ diesel.M4A2 được lắp ráp sáu động cơ GMC 6-71 theo cặp sắp xếp theo kiểu thẳng hàng.M4A6 lại sử dụng động cơ Caterpillar RD1820 bố trí toả tròn.M4A4 sử dụng động cơ Chrysler A57 multibank(thường được gửi đến các nước Đồng Minh và Liên Xô thông qua chương trình Lend-Lease).Các phiên bản M4 thường được trang bị động cơ toả tròn Continental.Các biến thể đời sau của nó cũng không thay đổi nhiều mà chỉ chú trọng thay thế hệ thống treo, ngăn chứa đạn mạ thiếc, gia cố lại lớp giáp bọc.Như phiên bản M4 Composite, nó được lắp ráp thân tăng cong và phần thân tăng-phía sau được hàn dính với nhau qua một lớp sắt.Quân Anh có cách sắp xếp và bố trí máy khác với quân Mỹ.

M4 được trang bị một hệ thống điện có công suất 24 vôn.

Bản cắt thể hiện các chi tiết kĩ thuật của phiên bản M4A4
Phiên bản Sherman M4A4 này có lớp đĩa xích được bọc thêm giáp

Những phiên bản Sherman đời đầu được trang bị pháo chính 75 mm.Mặc dù bộ quốc phòng Mỹ thiết kế ra tăng đời mới T20 để thay thế M4, nhưng các bộ phận của Sherman(bao gồm các phiên bản M4A1-M4A2-M4A3) vẫn được thay thế bớt như pháo chính 75 mm được thay bằng pháo chính 76 mm M1-sử dụng đạn HE và đạn khói(được trang bị cho tăng hạng trung mới T23), lớp giáp trước được gia cố lại, … nhằm duy trì được dòng tăng có tiềm lực này.Pháo loại mới của T23 có thể mang được khá nhiều đạn pháo với sức xuyên giáp mạnh hơn pháo 75 mm hiện tại của Sherman.Về sau, các mẫu M4 và M4A3 được trang bị pháo mới có cỡ nòng lên đến 105 mm, thêm một tấm khiên đỡ đạn phía trước.Phiên bản đầu tiên được trang bị pháo chính 76 mm là M4A1.Vào tháng 1/1944, bộ quốc phòng Mỹ chấp thuận sự thay đổi này.Một tháng sau, bộ quốc phòng tiếp tục chấp thuận cho sự thay đổi cỡ nòng pháo chính lên 105 mm và thêm một tấm khiên.

Lược sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Mẫu Sherman đầu tiên của lực lượng Mỹ trong cuộc đổ bộ lên Sicilia

Chuyển giao cho quân đội các nước khác[sửa | sửa mã nguồn]

Trong Thế chiến thứ hai, gần 19.247 chiếc Sherman đã được chuyển giao cho lục quân Mỹ và khoảng 1.114 chiếc được chuyển cho lực lượng lính thủy đánh bộ Mỹ.[1] Tuy nhiên ngoài hai con số trên, lực lượng Mỹ còn chuyển giao cho quân Anh 17.184 chiếc, 4.102 chiếc cho Liên Xô[2], và có thể 812 chiếc được chuyển cho Trung Quốc.[3] Số tăng được chuyển đi theo như hiệp ước trao đổi giữa khối Đồng Minh chống phát xít.

Lực lượng lính thủy đánh bộ Mỹ sử dụng phiên bản Sherman M4A2 (sử dụng động cơ diesel) và M4A3 (sử dụng động cơ gas) tại mặt trận Thái Bình Dương. Tuy nhiên ngay sau đó bộ quốc phòng Mỹ không cho phép lực lượng quân đội trong nước sử dụng các phiên bản tăng có động cơ đốt bằng nguyên liệu diesel, mà chỉ được dùng trong thử nghiệm và tập trận. Sau đó M4A2 và M4A4 trở thành hai loại tăng được xuất qua các nước khác nhiều nhất thông qua chương trình Lend-Lease.

Phiên bản M4A4 Sherman-được xuất qua các nước Đồng Minh nhiều nhất trong thời gian Thế chiến thứ hai

Tham chiến lần đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Sherman được thiết kế ra chủ yếu nhằm tiếp tế cho lực lượng quân Anh tại chiến trường Bắc Phi, tình hình càng trở nên nguy cấp khi Rommel đã chiếm được Tobruk, kênh đào SuezAi Cập.Bộ quốc phòng Mỹ quyết định tập hợp toàn bộ số Sherman lại với nhau và điều vào sư đoàn thiết giáp số hai của Patton nhằm đánh bật quân Đức ra khỏi Ai Cập.Nhưng việc chuyển giao Sherman từ Anh qua Châu Phi và có khoảng 300 chiếc đến Bắc Phi vào tháng 9/1942.

Một chiếc Sherman M4A3R3 của lực lượng thủy quân lục chiến Hoa Kỳ đang sử dụng nòng phóng lửa trong trận Iwo Jima

Phiên bản M4A1[4] lần đầu tiên tham chiến trong trận El Alamein lần thứ hai vào tháng 10/1942 cùng với sư đoàn quân số 8 của lực lượng Anh.Chiếc Sherman đầu tiên của lực lượng Mỹ là phiên bản M4A1 được thấy tham chiến lần đầu tiên trong chiến dịch Torch.Khi đối đầu với lực lượng thiết giáp Đức, Sherman hoàn toàn có khả năng xuyên thủng được giáp trước và sườn của các loại xe tăng như Panzer III với pháo chính 50 mm L/60, Panzer IV với pháo chính ngắn hơn 75 mm L/24.Số M4 và M4A1 được cử đến mặt trận Bắc Phi nhằm thay thế kiểu tăng hiện tại của các sư đoàn lục quân Mỹ là M3 Lee.M4 và M4A1 là hai kiểu Sherman chính mà quân đội Mỹ sử dụng trong gần như suốt cuộc chiến.Đến năm 1944, bộ quốc phòng Mỹ chính thức thay thế M4 và M4A1 bằng kiểu Sherman mới là M4A3 với động cơ có công suất 500 mã lực(370 kW).Một vài chiếc được tận dụng đến tận cuối cuộc chiến.

Khi đối đầu với đối thủ thiết giáp mới từ Đức là Tiger I, Sherman tỏ ra thua kém hơn về lớp giáp bọc và vũ khí chính.Pháo chính 88 mm L/56 có sức xuyên giáp mạnh hơn Sherman khá nhiều, lớp giáp bọc đến gần 120 mm của nó rất khó bị xuyên thủng bởi pháo chính 75 mm của Sherman.Tuy nhiên, với kíp chiến đấu dày dặn kinh nghiệm và độ linh động của mình, Sherman vẫn có thể hạ gục được Tiger-I nhưng với một mức thiệt hại cao.Về đối thủ Panzer-IV, pháo chính của Panzer-IV đã được nâng cấp thành pháo 75 mm L/48, lớp giáp bọc dày 80 mm của nó cũng khiến cho pháo chính của Sherman dần trở nên kém hiệu quả.Sau khi Đức tung ra Tiger và Panther, pháo chính 75 mm của Sherman càng trở nên "lạc hậu" hơn nữa.Vào tháng 7/1944, phiên bản Sherman mới với pháo chính 76 mm chính là M4A1, tiếp sau đó là M4A3.Từ sau năm 1944 đến cuối cuộc chiến, hơn nửa số Sherman mà Mỹ huy động tham chiến đều có pháo chính 76 mm.Chiếc Sherman HVSS đầu tiên tham chiến chính là chiếc Sherman M4A3E8(76)W, nó hoạt động vào tháng 12/1944.

Lính Mỹ được yểm trợ bởi M4 Sherman trong chiến dịch Bougainville.Số lính này đang được huy đông để quét sạch lực lượng Nhật ra khỏi cánh rừng-lính Nhật đã tìm cách phá vỡ phòng tuyến của quân Mỹ vào đêm hôm trước;tháng 3/1944

Mặt trận Châu Âu và Châu Á-Thái Bình Dương[sửa | sửa mã nguồn]

Một chiếc Sherman bị kẹt tại bãi biển Normandy

Ở mặt trận Châu Âu - nơi phải tham chiến với Đức Quốc Xã, Mỹ bắt buộc phải huy động lực lượng Sherman với chất lượng tốt nhất, ngoài mặt trận Châu Âu, mặt trận Thái Bình Dương cũng là một trong những nơi tham chiến quan trọng, tuy nhiên việc sử dụng tăng ở đây là không phù hợp nên chỉ có một số lượng nhỏ Sherman được điều đến mặt trận Thái Bình Dương (nhằm tiếp tế cho cả lực lượng Đồng Minh tại đây). Trong số hơn 16 sư đoàn thiết giáp và 70 tiểu đoàn tăng độc lập, chỉ có khoảng 3 tiểu đoàn tăng được gửi đến hoạt động tại Thái Bình Dương.[5] Giống như quân Mỹ, giới quân sự Nhật chỉ điều duy nhất mỗi sư đoàn thiết giáp số hai hoạt động trong toàn bộ cuộc chiến.[6] Vì địa hình ở các đảo Châu Á - Thái Bình Dương chủ yếu là rừng già, cao nguyên, núi cao hiểm trở với khí hậu ẩm ướt và chỉ thích hợp để bộ binh chiến đấu với nhau nên việc sử dụng xe tăng tại đây rất khó khăn. Xe tăng Sherman được sử dụng như các loại xe vận chuyển bộ binh, diễn tập và yểm trợ bộ binh trong một số chiến dịch tấn công cơ động có lô-cốt.[7]

Xe tăng Sherman trong trận Okinawa

Trong những giai đoạn đầu của cuộc chiến, đặc biệt là trong Chiến dịch Guadalcanal, quân Mỹ thường sử dụng tăng hạng nhẹ M2A4 để đối đầu với xe tăng hạng nhẹ Ha-Go Kiểu 95 của quân Nhật; cả hai đều được trang bị pháo 37 mm, nhưng M2 (sản xuất năm 1940) vẫn mạnh hơn 95 Ha-Go do sản xuất sau đến 5 năm.[8] Đến năm 1943, quân Nhật vẫn sử dụng hai kiểu tăng hạng nhẹ chủ yếu của họ là Ha-Go và Chi-Ha Kiểu 97, trong khi đó quân Mỹ đã thay thế M2A4 bằng M4 (có pháo chính 75 mm).[9] Lực lượng Trung Quốc tại Ấn Độ nhận được khoảng 100 chiếc M4 và dùng chúng trong những chiến dịch phản công rất có hiệu quả vào những năm 1943-1944.

Từ sau năm 1943, lực lượng đế quốc Nhật Bản bắt đầu thay thế các loại tăng hạng nhẹ của họ bằng loại tăng hạng trung mới Chi-Nu Kiểu 3 (với pháo chính 75 mm), loại tăng này được thiết kế ra nhằm bảo vệ các công trình quân sự trên đảo, yểm trợ bộ binh và phòng thủ các hòn đảo gần Nhật. Lực lượng Đồng Minh cũng đáp trả lại bằng cách đưa M4 vào chiến trường, pháo chính của M4 sử dụng đạn trái phá (HE), ống ngắm vật lí có tầm bắn xa và chính xác. Với các tính năng trên M4 có thể dễ dàng hạ gục được các loại tăng hạng trung và nhẹ của Nhật. Mặc dù các loại pháo tự hành(chống tăng) cũng được đưa vào nhằm hủy diệt các lô-cốt và boong-ke địch, nhưng M4 vẫn được trang bị thêm nòng phóng lửa nhằm tiêu diệt lính Nhật ngụy trang trong rừng già và hang động.[10][11]

Hoạt động sau thế chiến II[sửa | sửa mã nguồn]

Mẫu Sherman cuối cùng M4A3E8, nó đang bắn từ bệ đá với vai trò như một lựu pháo

Sau thế chiến II, quân Mỹ vẫn sử dụng tăng Sherman phiên bản M4A3E8 Easy Eight(được trang bị pháo chính 76 mm hoặc 105 mm).Số Sherman còn lại sau thế chiến II chủ yếu được sử dụng trong chiến tranh Triều Tiên.Mặc dù không còn đảm nhận vai trò là loại tăng chính trong các cuộc chiến, nhưng Sherman vẫn được phân vào các sư đoàn hoặc tiểu đoàn tăng thiết giáp cùng với tăng hạng nặng M26 Pershing và tăng hạng trung M46 Patton.Trong chiến tranh Triều Tiên, M4A3E8 là thế hệ tăng M4 duy nhất có thể loại tăng T-34/85 ra khỏi vòng chiến.Cả M4 và T-34 đều có thể hạ gục đối thủ trong lần bắn đầu tiên hoặc trúng viên đạn đầu tiên, tuy nhiên do hệ thống ống ngắm tốt và pháo có độ chính xác hơn nên M4 có thể xuyên giáp T-34 nhanh hơn.Trong những năm 1950, M4 dần trở nên lạc hậu và bị thay thế toàn bộ bởi dòng tăng Patton.Mỹ đã tìm cách chuyển toàn bộ số Sherman cho quân Đồng Minh và các nước khác, M4 được sử dụng rất rộng rãi sau thế chiến bởi khá nhiều lực lượng.

Vũ khí[sửa | sửa mã nguồn]

Mẫu Sherman được trang bị pháo chính 105 mm

Ban đầu, M4 được lắp ráp pháo chính ngắn 75 mm M3.Khi tham chiến lần đầu tại mặt trận Bắc Phi, Sherman có thể hạ gục được cả hai đối thủ thiết giáp từ Đức là Panzer III và Panzer-IV.Bộ quốc phòng Mỹ đã phán đoán được là quân đội Đức Quốc Xã sẽ tung ra hai loại tăng mới là TigerPanther, nhưng chỉ với một số lượng nhỏ.Trái lại, quân Đức đã sản xuất được hơn 6000 chiếc Panther từ năm 1943-cuối cuộc chiến, chiếm phần lớn trong các sư đoàn thiết giáp, khiến cho quân Mỹ thực sự bất ngờ.Đến năm 1944, các sư đoàn tăng của Đức Quốc Xã đều có số tăng Panther làm chủ lực, Tiger và Panzer-IV hoạt động nhằm bổ trợ cho Panther và yểm trợ bộ binh.

Xe tăng lội nước Sherman DD, năm 1944

Như đã nói, pháo chính 75 mm của Sherman không thể nào xuyên được giáp của Tiger và Panther.Vào năm 1943, bộ quốc phòng Mỹ đã đưa ra hai mẫu pháo cải tiến gồm một mẫu có cỡ nòng 90 mm và một mẫu có tác dụng chống tăng có cỡ nòng 76 mm.Từ sau năm 1943, các loại pháo tự hành chống tăng và tăng của Đức Quốc Xã như Panzer IV;StuG III;Marder III đều được trang bị pháo chính 7.5 cm KwK 40.Tất cả các loại này đều không thể địch lại các loại tăng mới của Liên Xô như T-34;KV-1...nhưng vẫn có thể hạ gục được Sherman từ một khoảng cách nhất định.Việc pháo chính của Sherman thua kém pháo chính của lực lượng thiết giáp Đức đã dẫn đến việc sản xuất mẫu tăng Sherman mới có pháo chính 76 mm M4 vào tháng 4/1944.Sau khi cải chế xong, pháo 76 mm M4 có thể được xem là khá ngang bằng với pháo 7.5 cm KwK 40, lực lượng pháo tự hành chống tăng Đức chỉ toàn sử dụng loại này khi phòng thủ tại Pháp.

Pháo tự hành 155 mm M40

Các biến thể[sửa | sửa mã nguồn]

  • 3in Gun Motor Carriage M10-pháo tự hành chống tăng
  • 90 mm Gun Motor Carriage M36-pháo tự hành chống tăng
  • 105 mm Howitzer Motor Carriage M7-pháo tự hành
  • 155 mm Gun Motor Carriage M12-pháo tự hành được lắp trên xe Cargo Carrier M30
  • 155/203/250 mm Motor Carriages-pháo tự hành được lắp ráp trên xe tăng M4A3
  • Xe tăng phun lửa-bao gồm M4A3R3 Zippo, M4 Crocodile
  • Hệ thống phóng tên lửa-bao gồm T34 Calliope, T40 Whizbang
  • Xe tăng lội nước-bao gồm Duplex Drive (DD)
  • Xe dò mìn và sửa chữa-bao gồm D-8, M1, M1A1 Dozers, M4 Doozit, các hệ thống cầu di động và Aunt Jemima
  • Xe sửa chữa-bao gồm M32 và M74 TRV
  • Xe kéo pháo-bao gồm M34 và M35

Các nước sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Ngoài nước Mỹ, các nước Đồng Minh cũng được cung ứng một số lượng lớn M4 Sherman.Anh Quốc chiếm 80% trên tổng số Sherman được xuất qua.Từ năm 1942-1945, Liên Xô nhận được hơn 3664 tăng Sherman kiểu M4A2 với động cơ diesel, một vài trong số chúng hoạt động sau thế chiến.Trong chiến tranh Triều Tiên, Sherman được quân đội Mỹ trang bị cho quân đội Hàn Quốc và các nước Đồng Minh.

Ngoài ra, M4 Sherman còn được người Israel sử dụng.Các biến thể M4 của quân đội Israel là 75 mm M-50 và 105 mm M-51 Super Sherman, điều này đã chứng tỏ độ tin cậy của Sherman mặc dù sau nhiều năm vẫn còn được thiết kế các bản mới và sử dụng.Ngoài chiến tranh Triều Tiên, M4 còn được sử dụng trong cuộc chiến tranh 6 ngày, đối đầu với tăng T-34/85 của quân đội Xô-Viết;chiến tranh Yom Kippur, đối đầu với hai loại tăng mới và mạnh hơn từ Liên Xô là T-54-55.

  • Các nước sử dụng

Tài liệu tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

M4 Sherman tại bảo tàng Overloon(Hà Lan)
  • Berndt, Thomas. Standard Catalog of U.S. Military Vehicles. Iola, WI: Krause Publications, 1993. ISBN 0-87341-223-0.
  • Buckley, John (2006) [2004]. British Armour in the Normandy Campaign 1944. London: Taylor & Francis. ISBN 0-41540-773-7. OCLC 154699922. 
  • Cooper, Belton Y (1998). Death Traps: The Survival of an American Armored Division in World War II. Novato, CA: Presidio. ISBN 0-89141-670-6. 
  • Green, Michael (2005). Panzers at War. City: Zenith Press. ISBN 978-0760321522. 
  • Green, Michael (2007). M4 Sherman at War. City: Zenith Press. ISBN 978-0760327845. 
  • Hart, Stephen Ashley (2007). Sherman Firefly Vs Tiger: Normandy 1944 (Duel): Normandy 1944. Osprey Publishing. ISBN 1-84603-150-8. 
  • Hernandez Cabos, Rodrigo; Prigent, John (2001). M4 Sherman. Osprey. ISBN 1-84176-207-5. 
  • Hunnicutt, R. (1978). Sherman. San Rafeal: Taurus Enterprises. ISBN 9780891410805. 
  • Jentz, Thomas (1997). Germany's Tiger Tanks Tiger I & II: Combat Tactics. Atglen, PA: Schiffer Military History. ISBN 0764302256. 
  • Reid, Brian (2005). No Holding Back. Robin Brass Studio. ISBN 1-896941-40-0. 
  • Schneider, Wolfgang (2004). Tigers in Combat I. Mechanicsburg, PA: Stackpole Books; 2nd edition, originally published 2000 by J.J. Fedorowicz Publishing, Inc. Winnipeg, Canada. ISBN 0811731715. 
  • Wilbeck, Christopher (2004). Sledgehammers. Strengths and Flaws of Tiger Tank Battalions in World War II. The Aberjona Press. ISBN 9780971765023. 
  • Zaloga, Steven (1993). Sherman Medium Tank 1942-1945. City: Osprey Publishing (UK). ISBN 9781855322967. 
  • Zaloga, Steven (1999). M3 & M5 Stuart Light Tank 1940-45. Osprey Publishing (UK). ISBN 978-1-85532-911-9. 
  • Zaloga, Steven (2008). Armored Thunderbolt. Mechanicsburg, PA: Stackpole Books. ISBN 9780811704243. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Zaloga, Armored Thunderbolt, trang 332
  2. ^ Zaloga, Armored Thunderbolt, trang 57
  3. ^ Hunnicutt, trang 166
  4. ^ phiên bản này được quân Mỹ chuyển cho quân Anh
  5. ^ Zaloga (Armored Thunderbolt), trang 301
  6. ^ Zaloga (Japanese Tanks), trang 37
  7. ^ Zaloga, trang 15 & 33
  8. ^ Zaloga, trang 40
  9. ^ Zaloga, trang 34
  10. ^ Zaloga, Armored Thunderbolt, "Bunker Blasters", trang 215-217 & 318.
  11. ^ Zaloga (M3/M5 Stuart) trang 35, "pháo xe tăng không thể xuyên thủng boong-ke"