MGH (xe tăng)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
MGH 7C

MGH hay Magach (tiếng Hebrew: מגח, phiên âm La Tinh: MGH) là một loại xe tăng của Israel. Đây thực ra là tên của các phiên bản nâng cấp và cải tiến của M48 Patton (Magach 1,2,3,5) và M60 Patton (Magach 6,7) hoạt động trong quân đội Israel.

MGH/Magach 7 dễ bị nhầm với xe tăng Sabra, đây cũng là một phiên bản nâng cấp M60 do Israel thực hiện nhằm cung cấp cho quân đội Thổ Nhĩ Kỳ. Nhìn chung thì MGH 7 và Sabra có nhiều điểm giống nhau, nhưng đặc điểm khác biệt quan trọng nhất đó là MGH sử dụng pháo tăng 105 ly trong khi Sabra sử dụng pháo tăng 120 ly MG251 giống như Merkava 3.[1]

Nguồn gốc tên gọi[sửa | sửa mã nguồn]

MGH 6M
MGH 7

Chuyển tự La Tinh của tên Do Thái là MGH, tuy nhiên đây không phải là một cụm từ viết tắt mà là một từ trong tiếng Hebrew có nghĩa là "nện"[2], mặc dù từ này ít khi được sử dụng và ít được biết ngay cả với người biết tiếng Hebrew.

Một số giả thuyết khác của cái tên MGH hay Magach là:

  • Viết tắt của Merkevet Giborei Hayil (tiếng Hebrew: מרכבת גיבורי חיל‎) có nghĩa là "Chiến xa của các anh hùng".
  • Một cách gọi khác của cái tên M48A3 viết theo hệ thống Gematria, với 40 là chữ "mem" (מ, "m"), 8 là "chet" (ג, "ch") và 3 là "gimel" (ח, "g")). Ý kiến khác cho rằng chữ "G" là viết tắt của "Germany", có nghĩa là nước Đức, quốc gia cung cấp những chiếc M48 đầu tiên cho Israel. Một ý kiến cho rằng nếu thay thế các số trong tên M48A3 theo hệ thống Gematria (4 trở thành A, 8 trở thành G, vv) thì trở thành MAgAch.
  • Trong quân đội Israel, người ta hay đùa là MGH là viết tắt của "Movil Gviyot Charukhot", nghĩa là "xe chở xác người bị cháy đen", hàm ý mỉa mai thiệt hại nặng nề của M48 trong chiến tranh Yom Kippur và loại dung dịch thủy lực dễ cháy mà xe này sử dụng.[3]
  • MGH cũng có thể là viết tắt của "Meshupa Gahon" (bụng dốc) hay "Mechonat Giluach Hashmalit" (máy cạo râu chạy điện).

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Nguyên mẫu của các phiên bản MGH là xe tăng M48 và M60 được Tây Đức và sau đó là Hoa Kỳ bán cho Lực lượng phòng vệ Israel (IDF) trong các thập niên 1960 và 70. Sau cuộc Chiến tranh Sáu Ngày (1967), Israel còn bắt dược vài chục xe tăng M48 của Jordan và bổ sung nó vào biên chế (lúc đó đã có khoảng 150 xe tăng M48). Trong thời gian này, các xe tăng M48 và M60 của Israel vẫn là dạng nguyên mẫu giống như trong quân đội Hoa Kỳ.

Việc cải tiến và hiện đại hóa M48A3 được Israel tiến hành sau cuộc chiến tranh Sáu Ngày, kết quả là phiên bản MGH 3 ra đời. Phiên bản này bao hàm việc thay khẩu pháo tăng 90 ly nguyên thủy bằng khẩu Royal Ordnance L7 105 ly của Anh, giảm chiều cao của tháp chỉ huy, nâng cấp hệ thống liên lạc, thay động cơ xăng (vốn yếu và dễ cháy) bằng một động cơ diesel 750 mã lực.

Các xe tăng M48A3 (sử dụng pháo 105 ly) và M60A1 của Israel đã chịu những thiệt hại rất nặng nề trong cuộc Chiến tranh Yom Kippur, đầu chiến tranh họ có 540 xe nhưng đến hết cuộc chiến họ chỉ còn khoảng 200 xe, phần lớn chúng bị bắn cháy bởi tên lửa 9K11 Malyutka của các binh sĩ Ai Cập nấp trong các hầm hào tại mặt trận Sinai. Việc đặt các luồng chất lỏng thủy lực dễ cháy ngay phía trước xe được xác định là khiến cho các xe tăng này dễ bị tổn thương do đạn pháo. Các xe tăng bị mất trong chiến tranh đã dần dần được thay thế bởi các phiên bản MGH 5 (M48A5) và MGH 6 (M60) trong thập niên 1970.[4][5]

Trước khi cuộc Chiến tranh Liban 1982 xảy ra, MGH 6 đã được lắp đặt thêm giáp phản ứng nổ (ERA). Các cải tiến sâu hơn đã được tích hợp cho MGH tỉ như vỏ giáp thế hệ mới, hệ thống bánh xích thiết kế dựa trên xe tăng Merkava, hệ thống điều khiển bắn mới, bộ phận cách nhiệt cho nòng súng, ống xả khói mù. Kết quả là phiên bản MGH 7 ra đời.[6]

Từ thập niên 1980 và 1990, MGH dần được thay thế bởi xe tăng Merkava với vai trò là xe tăng chiến đấu chủ lực trên tuyến đầu. Tuy nhiên phần nhiều các đơn vị tăng thiết giáp của Israel vẫn trang bị các xe tăng MGH và loại tăng này vẫn tiếp tục được nâng cấp cho đến cuối thập niên 1990. MGH vẫn được trang bị với vai trò là lực lượng dự bị[7]. Từ năm 2006 trở đi, Merkava đã hoàn toàn thay thế MGH trong các đơn vị quân đội thường trực.[8]

Các phiên bản[sửa | sửa mã nguồn]

MGH 6B tại bảo tàng Yad la-Shiryon, Latrun.
MGH 7C tại bảo tàng Yad la-Shiryon, Latrun.
  • MGH 1: M48A1.[2]
  • MGH 2: M48A2C.[2]
  • MGH 3: Phiên bản hiện đại hóa của M48A1/A2C/A3, tích hợp pháo tăng L7 105 ly của Anh, tháp chỉ huy thấp, nâng cấp hệ thống liên lạc, thay thế động cơ xăng bằng động cơ diesel Continental AVDS-1790-2A 750 mã lực và bộ truyền động CD-850-6. Về sau có thêm giáp phản ứng nổ Blazer.
  • MGH 5: M48A5 cấu hình nguyên bản. Gần giống MGH 3, nhưng sử dụng động cơ AVDS-1790-2D và bộ truyền động CD-850-6A. Cũng sử dụng giáp phản ứng nổ Blazer.
  • MGH 6: Phiên bản hiện đại hóa của M60/M60A1/M60A3. Sử dụng vòm tháp pháo thấp Urdan và giáp phản ứng nổ Blazer.
    • MGH 6A (6 Alef): M60A1 hiện đại hóa. Về sau tất cả chúng đều dần được nâng cấp lên chuẩn 6B.
    • MGH 6B (6 Bet): M60A1 hiện đại hóa với động cơ AVDS-1790-2C RISE (Reliability Improved Selected Equipment).
    • MGH 6B Gal (6 Bet Gal): MGH 6B với hệ thống điều khiển bắn Gal.
    • MGH 6B Gal Batash (6 Bet Gal Batash): MGH 6B Gal sử dụng vỏ giáp thế hệ 4 và động cơ 908 mã lực. Vỏ giáp tháp pháo không phẳng mà thiết kế có góc cạnh. Một số nhỏ 6B Gal Batash được nâng cấp lên từ 6B Gal. Tên không chính thức của nó là MGH 7D hay MGH 8.
    • MGH 6B Baz (6 Bet Baz): MGH 6B với hệ thống điều khiển bắn Baz. Một số nhỏ 6B Baz được nâng cấp lên từ 6B gốc.
    • MGH 6C (6 Gimel): M60A3 hiện đại hóa.
    • MGH 6R (6 Resh): M60 hiện đại hóa với động cơ AVDS-1790-2AG có máy phát điện mạnh hơn AVDS-1790-2A.
    • MGH 6R* (6 Resh*): MGH 6R với các nâng cấp chuẩn bị để hệ thống điều khiển bắn Nachal Oz.
    • MGH 6M (6 Mem): MGH 6R* với hệ thống điều khiển bắn Nachal Oz.
  • MGH 7: M60 với động cơ AVDS-1790-5A 908 mã lực, bổ sung thêm một lớp vỏ giáp, hệ thống điều khiển bắn mới và bộ bánh xích thiết kế theo kiểu xe tăng Merkava.
    • MGH 7A (7 Alef): Vỏ giáp bề mặt phẳng phẳng gắn cố định với các "lỗ châu mai" đặt súng.
    • MGH 7B (7 Bet): Phiên bản trung gian có cấu hình gần giống như MGH 7C. Không được đưa vào sản xuất đại trà.
    • MGH 7C (7 Gimel): Vỏ giáp bề mặt góc cạnh.

Quốc gia sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Sabra M60A3 Main Battle Tank Upgrade”. Army Technology. 15 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2013. 
  2. ^ a ă â Brezner 2008, tr. 23–25
  3. ^ The Yom Kippur War: The Arab-Israeli War of 1973 Simon Dunstan, tr. 88
  4. ^ “Patton Tanks in Israeli service”, Vehicles, Israeli weapons .
  5. ^ “Trade register”, Arms trade, Sipri .
  6. ^ Magach 6/7 M60 series main battle tank
  7. ^ [1] Magach 7 Main battle tank
  8. ^ Armorama:: In-Box Review: Magach 6B Gal Batash

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Brezner, Amiad (tháng 12 năm 2008), “Rammed” (PDF), Shiryon (bằng Hebrew) (30) .

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]