Majo no Takkyūbin

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Majo no Takkyūbin
Majo no Takkyūbin DVD cover.jpg
魔女の宅急便
(Majo no takkyūbin)
Thể loại Phép thuật, phiêu lưu, drama
Phim anime
Đạo diễn Miyazaki Hayao
Sản xuất
Kịch bản Miyazaki Hayao
Âm nhạc Hisaishi Joe
Lồng tiếng chính
Chỉ đạo hình ảnh Sugimura Shigeo
Biên tập Seyama Takeshi
Hãng phim Studio Ghibli
Cấp phép
  • Cờ của Nhật Bản Studio Ghibli
  • Cờ của Hồng Kông Intercontinental Video Limited
  • Quốc tế: Disney
Công chiếu Ngày 22 tháng 7 năm 1989
Thời lượng 102 phút
Quốc gia  Nhật Bản
Ngôn ngữ Tiếng Nhật
Kinh phí ¥800.000.000
Doanh thu phòng vé ¥2.170.000.000
Biểu tượng chủ đề Chủ đề Anime và Manga

Majo no Takkyūbin (魔女の宅急便, tạm dịch:Dịch vụ chuyển phát nhanh của phù thủy) là một phim anime do hãng Studio Ghibli thực hiện với sự đạo diễn của Miyazaki Hayao. Bộ phim được chuyển thể từ bộ tiểu thuyết cùng tên của Kadono Eiko. Phim được công chiếu lần đầu vào ngày 22 tháng 7 năm 1989.

Bộ phim xoay quanh cô gái phù thủy tập sự vừa bước sang tuổi 13 là Kiki, cô lên thành phố để gặp người bạn thân của mình là Jiji cùng với con mèo của mình bằng cây chổi bay. Kiki đã ở lại thành phố cảng này để luyện tập kỹ năng bay của mình bằng việc mở một cửa hàng thực hiện việc đi giao hàng cũng như với tính cách tốt bụng của mình cô cũng làm những việc có thể để giúp đỡ mọi người trong thành phố trong cuộc sống hằng ngày. Theo Miyazaki thì bộ phim nói về vách ngăn giữa sự tự lập và sự lệ thuộc của các cô bé tuổi thiếu niên tại Nhật Bản. Đi sâu vào chủ đề thời gian và cuộc sống, thực hiện các công việc với sự sáng tạo và tài năng, những sự việc khó khăn và vượt qua trong cuộc sống mà mọi người phải đối mặt để trở thành chính mình dù là bằng sự may mắn, sự nỗ lực hay sự tự tin.

Bộ phim cũng đã tham gia vào các liên hoan phim quốc tế và giành được các giải thưởng cũng như được dịch ra thành nhiều thứ tiếng để phân phối ở các nước khác nhau.

Sơ lược cốt truyện[sửa | sửa mã nguồn]

Kiki là một nữ phù thuỷ nhỏ lên 13 tuổi đã đến tuổi bắt đầu cuộc sống tự lập theo truyền thống của phù thuỷ. Cô mang theo mình chú mèo đen Jiji thân thiết ra đi trong đêm và sau đó trú chân tại thành phố cảng Koriko. Sau vài khởi đầu không thuận lợi, cuối cùng Kiki đã có thể kết bạn và tìm được một nơi để ở. Tuy nhiên, cô bé khám phá ra khả năng duy nhất song vẫn chưa hoàn thiện của mình là bay bằng chổi. Để kiếm sống, Kiki phụ trách việc vận chuyển ở tiệm bánh mì Gütiokipänja mà chủ tiệm là Osono và chồng bà, Fukuo.

Khoảng thời gian ở Koriko cũng là thời gian Kiki đối mặt với những cảm xúc và lo lắng tuổi mới lớn. Kiki lúc này đã kết bạn với Tombo, một cậu bé say mê máy bay, và cậu còn dắt Kiki gặp bạn mình. Tuy vậy, trong số bạn của Tombo có người Kiki đã gặp trước đó và có trải nghiệm không vui; chuyện này khiến Kiki lại trở nên bất an và rơi vào trạng thái trầm cảm. Vì vậy, Kiki mất khả năng dùng chổi phép thuật và nói chuyện với Jiji. Ursula, một trong những người bạn mới của cô bé, đã mời Kiki đến túp lều trong rừng của mình và nhắn nhủ Kiki rằng, cuộc sống tự lập mới đã khiến Kiki mất sự lạc quan và quyền năng của mình; dù vậy, nếu tìm được mục tiêu mới, Kiki sẽ lấy lại được những gì đã mất. Phấn chấn trở lại, Kiki vào thành phố. Trong khi đang thăm một khách hàng, cô bé chứng kiến vụ tai nạn khinh khí cầu trên truyền hình. Một cơn gió rất mạnh bất chợt thổi và Tombo bị nhấc bổng lên không trung, treo lủng lẳng từ khinh khí cầu. Kiki cố hết sức lấy lại sức mạnh của mình và dùng một cây chổi quét phố để vừa kịp lúc cứu được Tombo đang rơi.

Nhờ sự kiện này mà Kiki trở thành người nổi tiếng trong thành phố và bay cùng với Tombo trên chiếc máy bay được kéo bằng xe đạp của cậu. Sau đó, cô bé gửi thư đến cha mẹ mình kể về những khó khăn đã giúp cô trưởng thành hơn và quyết định chọn Koriko làm nơi ở mới của mình.

Sản xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Việc thực hiện Majo no Takkyūbin được tiến hành vào mùa xuân năm 1987 khi công ty Group Fudosha hỏi nhà xuất bản các sách của Kadono Eiko là họ có thể chuyển thể cuốn sách thành phim hoạt hình do Miyazaki Hayao hay Takahata Isao tại Studio Ghibli đạo diễn không. Nhưng do đang bận với dự án lớn là Hàng xóm của tôi là TotoroMộ đom đóm nên cả Miyazaki và Takahata đều không thể đạo diễn cho bộ phim trong thời gian đó.

Miyazaki đã đảm nhận vai trò là nhà sản xuất của bộ phim trong khi vị trí đạo diễn thì vẫn được chừa ra. Thời điểm bắt đầu thực sự của dự án cũng là lúc phim Totoro bắt đầu hoàn tất nên Studio Ghibli bắt đầu chuyển các nhân viên sang cho dự án. Kondo Katsuya người cùng làm việc với Miyazaki trong phim Totoro được giao vai trò thiết kế nhân vật. Ohno Hiroshi người đã từng tham gia vào các dự án như Jin-Roh được thuê với vai trò đạo diễn nghệ thuật, một phần do Oga Kazuo người làm việc chung với Miyazaki trong dự án Totoro đề nghị.

Mặc dù nhiều vị trí đã được giao nhưng vị trí đạo diễn vẫn trống. Miyazaki vẫn bận với Totoro nhưng vẫn cố tìm đạo diễn cho bộ phim khi ông không thấy ai thích hợp cho bộ phim. Cuối cùng ông đã tìm ra Katabuchi Sunao người cùng làm việc với ông trong dự án Meitantei Holmes cho vị trí đó. Isshiki Nobuyuki được thuê để viết bản thảo cho bộ phim nhưng Miyazaki đã không hài lòng ngay từ bản thảo đầu vì thấy nó quá khô và khác biệt so với cách nhìn của ông với bộ phim. Vì thế bản thảo này không được dùng để làm phim khi Miyazaki lên tiếng không chấp nhận.

Cuối cùng sau khi Hàng xóm của tôi là Totoro hoàn tất Miyazaki bắt đầu xem kỹ hơn Majo no Takkyūbin và tự mình viết cốt truyện cho phim. Vì phim lấy bối cảnh tại chấu Âu nên nhóm làm phim phải đi thực địa để tìm các chi tiết phù hợp cho phim. Những nơi chính được dùng là StockholmGotland. Miyazaki đã đảm nhận vai trò đạo diễn chính sau khi Katabuchi rời khỏi dự án.

Thực hiện[sửa | sửa mã nguồn]

Miyazaki nói rằng thị trấn Visby tại Gotland, Thụy Điển đã làm mẫu chính để xây dựng lên hình ảnh thành phố trong phim. Để có ý tưởng kiến trúc của các ngôi nhà trong thành phố ông đã đến Stockholm hay các thành phố cổ của châu Âu.

Bộ phim lấy bối cảnh tại một nước Bắc Âu vào đầu những năm 1960 nơi lý tưởng hóa mọi thứ và không hề vướng bận việc gì, một trong những ấn tượng mạnh của bộ phim là có thể mô tả các hình ảnh không tưởng theo hướng thực tế và chi tiết nhất mà trong trường hợp này này là một thành phố tuyệt đẹp nằm ở sát biển. Tên của thành phố này không được nhắc đến trong phim ngoại trừ việc nó được ghi trên xe buýt của thành phố. Thời gian mà bộ phim được đặc vào là chủ đề thảo luận của những người yêu thích bộ phim như Kiki có một chiếc radio bán dẫn của thập niên 60, một số người trong phim có truyền hình trắng đen nhưng những chiếc xe hơi và máy bay trong phim mang dáng dấp của thời trước đó. Và các tranh cãi được trả lời khi Miyazaki nói rằng bộ phim lấy bối cảnh trong một thế giới khác, cũng những năm 1960 nhưng các cuộc chiến tranh thế giới chưa bao giờ diễn ra.

Khi trở về Nhật Bản Miyazaki và nhóm làm phim bắt tay vào phát thảo cảnh vật và thiết kế nhân vật. Miyazaki đã bắt đầu thay đổi đáng kể cốt chuyện, tạo ra những ý tưởng mới và thay đổi những cái hiện có. Majo no Takkyūbin là tiểu thuyết dành cho thiếu nhi nên khi phim được hoàn thành nó khác khá nhiều so với bộ tiểu thuyết. Bộ tiểu thuyết của Kadono thì có nhiều chương với nhiều câu chuyện nhỏ về con người và các vấn đề khác nhau mà Kiki gặp phải khi thực hiện việc giao hàng. Có nhiều cảnh trong phim tăng yếu tố kịch tính như việc Kiki bị mất quyền năng hay tại nạn khinh khí cầu không hề có trong tiểu thuyết. Miyazaki đã thực hiện những thay đổi này để làm cho cốt truyện phim được sắc hơn khi nói về những khó khăn mà Kiki phải đối mặt để trưởng thành, ông nhấn mạnh là "Phim luôn luôn tạo ra một cảm giác thực tế, Kiki sẽ phải đương đầu với các thất bại và sự cô đơn nhiều hơn trong cốt truyện gốc".

Kadono không vui với việc thay đổi này với ý nghĩ nó sẽ làm tổn hại đến mô hình chung cốt truyện giữa tiểu thuyết và phim. Miyazaki và Suzuki Toshio đã đến nhà và mời bà đến tham quan xưởng làm phim. Sau khi tham quan xong bà đã đồng ý để chương trình làm phim được tiếp tục. Miyazaki đã hoàn thành phát thảo thảo sơ bộ kịch bản vào ngày 18 tháng 6 và trình bày sau đó vào ngày 08 tháng 7 năm 1988. Đó cũng là lúc ông quyết định đảm nhận vai trò đạo diễn chính của phim vì ông đã tham gia quá nhiều vào việc làm phim. Bộ phim ban đầu chỉ có 60 phút nhưng sau đó đã kéo dài đến 102 phút khi Miyazaki áp dụng kịch bản của mình vào.

Phát hành[sửa | sửa mã nguồn]

Bộ phim được công chiếu lần đầu vào ngày 22 tháng 7 năm 1989. Phim sau đó đã được phát hành và phân phối dưới nhiều dạng khác nhau. Disney đã đăng ký bản quyền phiên bản tiếng Anh của phim anime để phát hành ra thị trường quốc tế và Bắc Mỹ với lần phát hành đầu tiên do chi nhánh Buena Vista Home Entertainment đảm nhiệm. Ngoài ra phim còn được dịch thành nhiều thứ tiếng để phân phối và công chiếu tại nhiều nước khác nhau như Madman Entertainment đăng ký tại Úc, Buena Vista Home Entertainment cũng phát hành phiên bản tiếng Ý, Disney Character Voices International phát hành phiên bản tiếng Pháp, Monolith Films đăng ký tại Ba Lan, Intercontinental Video Limited đăng ký tại Hồng Kông và Deltamac đăng ký tại Đài Loan. Nhiều kênh truyền hình trên thế giới cũng đã phát sóng bộ phim.

Âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Phim có hai bài hát chủ đề, một mở đầu và một kết thúc. Bài hát mở đầu có tên Ryuuju no Dengon (ルージュの伝言), bài hát kết thúc có tên Yasashisa ni Tsutsumareta nara (やさしさに包まれたなら) cả hai bài hát do Arai Yumi trình bày. Hai bài hát đã phát hành trong album chứa các bản nhạc dùng trong phim ngày 25 tháng 8 năm 1989. Album chứa các bài hát do các nhân vật trình bày đã phát hành vào ngày 10 tháng 4 năm 1989. Album chứa các bài hát do các nhân vật trình bày khác đã phát hành vào ngày 25 tháng 11 năm 1989, phiên bản chỉ chứa các bản nhạc nền của các bài hát dùng để hát karaoke đã phát hành vào ngày 25 tháng 6 năm 1990. Album chứa các bài hát trình bày dưới dạng Hi-tech đã phát hành vào ngày 21 tháng 12 năm 1989. Đĩa đơn chứa bài hát do nhân vật trình bày đã phát hành vào ngày 25 tháng 6 năm 1990.

Đón nhận[sửa | sửa mã nguồn]

Bộ phim có doanh thu 2.170.000.000 ¥ trong lần đầu công chiếu vào năm 1989, trở thành một thành công lớn về doanh thu và là bộ phim doanh thu cao nhất tại Nhật Bản trong năm 1989. Phim cũng đã tham gia các liên hoan phim và thắng được các giải thưởng khác nhau như tại Anime Grand Prix lần thứ 12 phim đã đoạt được ba giải là Phim hoạt hình xuất sắc nhất, Nhân vật nữ chính xuất sắc nhấtNhạc chủ đề hay nhất. Tại lễ trao giải phim Mainichi thì phim đã thắng giải Phim hoạt hình xuất sắc nhất, tại lễ trao giải Kinema Junpo phim đã thắng giải Lựa chọn tốt nhất cho khán giả, tại lễ trao giải viện hàn lâm Nhật Bản phim đã giành được Giải đặc biệt và giải Bình chọn. Ngoài ra phim còn được nhắc đến cho các giải ở các liên hoan phim quốc tế khác.

Phim đã nhận được nhiều đánh giá tích cực. Rotten Tomatoes đã đánh giá bộ phim với điểm tuyệt đối 100% với 20 bài đánh giá. Entertainment Weekly đã xếp bộ phim là Phim của năm trong một bài đánh giá vào năm 1998. Siskel and Ebert thì cho bộ phim Hai điểm cộng và đánh giá bộ phim là Phim hoạt hình hay nhất năm 1998.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]