Man Thiện

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Man Thiện (chữ Hán: 謾善; ?-43) là mẹ của Hai Bà Trưng.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Quê bà Man Thiện ở tổng Cam Giá, trấn Sơn Tây[1]. Theo Việt Nam danh nhân tự điển của Nguyễn Huyền Anh thì bà Thiện (cháu ngoại của Vua Hùng) có tên thật là Trần Thị Đoan, vợ của quan lạc tướng Họ Hùng ở Mê Linh.
Sau khi chồng mất, nuôi chí lớn nên bà đã nuôi dạy hai con, đào luyện họ thành người có tài thao lược, yêu nước, trọng đạo nghĩa.
Bà là người tổ chức cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng từ đầu. Khi lực lượng đủ mạnh bà mới giao quyền lãnh đạo lại cho con rể (Thi Sách) và con gái.
Khởi nghĩa thắng lợi mùa xuân năm 40, Hai Bà Trưng đánh tan quân Hán, xưng Vương đóng đô ở Mê Linh, tôn mẹ là Man Hoàng hậu.
Không ở kinh đô, bà về quê làng Nam Nguyễn (nay thuộc Cam Thượng, Ba Vì) lập đồn trấn giữ[1].Khi nghĩa quân bị Mã Viện lấn át, bà đã về An Hát (sau đổi thành Phúc Lộc, huyện Phúc Thọ, Hà Nội ngày nay) để chiêu mộ thêm binh sĩ.Trước sự tấn công dữ dội của quân giặc, để không bị địch bắt, bà trầm mình ở dòng sông Hồng vào ngày 10 tháng 11 năm 43.

Đền thờ và lăng mộ[sửa | sửa mã nguồn]

Mộ và đền thờ bà Man Thiện gần đền Hai Bà Trưng. Đền thờ bà Man Thiện gọi là đền Mẫu. Tuy nhiên truyền thuyết khác thì cho rằng gần núi Ba Vì có mộ Dạ và miếu Mèn chính là mộ và miếu của bà Man Thiện. Dạ và Mèn là hai từ trong Tiếng Việt cổ dùng để tôn xưng người phụ nữ anh hùng, đáng tôn kính[2].

Vinh danh[sửa | sửa mã nguồn]

TP.HCM, tên của bà được đặt cho một con đường[3] ở Phường Hiệp Phú và Phường Tăng Nhơn Phú A,Quận 9.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă “Huyền tích xứ Đoài”. Báo Hà nội mới. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2009. 
  2. ^ “Mẹ Việt”. Báo Bắc Giang. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2009. 
  3. ^ “Lấp suối, gây ngập nước trong khu dân cư”. Báo Sài Gòn Giải Phóng. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2009. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]