Mariah Carey (album)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Mariah Carey
Album phòng thu của Mariah Carey
Phát hành 12 tháng 6, 1990 (Mỹ)
17 tháng 7, 1990 (Liên Hiệp Anh)
Thu âm Tháng 2, 1990
Thể loại Pop, R&B
Thời lượng 46:45
Hãng đĩa Columbia
CK-45202
Sản xuất Mariah Carey, Rhett Lawrence, Ric Wake, Narada Michael Walden, Ben Margulies, Walter Afanasieff, Tommy Mottola (executive)
Đánh giá chuyên môn
Thứ tự album của Mariah Carey
Mariah Carey
(1990)
Emotions
(1991)
Đĩa đơn từ Mariah Carey
  1. "Vision of Love"
    Phát hành: 15 tháng 5, 1990
  2. "Love Takes Time"
    Phát hành: 9 tháng 9, 1990
  3. "Someday"
    Phát hành: 21 tháng 12, 1990
  4. "I Don't Wanna Cry"
    Phát hành: 25 tháng 4, 1991
  5. "There's Got to Be a Way (Chỉ tại Liên Hiệp Anh)"
    Phát hành: 1991

Mariah Carey là album đầu tay cùng tên của nữ ca sĩ người Mỹ Mariah Carey, phát hành tại Mỹ vào ngày 12 tháng 6 năm 1990 (xem Âm nhạc 1990) bởi hãng Columbia Records. Mặc dù doanh số khởi đầu hơi chậm, nhưng nó đưa Mariah Carey trở thành ngôi sao trên thị trường quê nhà và mang lại 4 đĩa đơn quán quân Billboard Hot 100, với riêng album đã đưng nhất 11 tuần trên Billboard 200. RIAA đã chứng nhận Mariah Carey đạt đĩa vàng vào ngày 7 tháng 8 năm 1990 & 9 lần bạch kim vào ngày 15 tháng 12 năm 1999, 9 triệu đĩa lưu hành tại Mỹ. Theo số liệu của SoundScan, tính từ năm 1991 tới nay, đã có 4.845.000 đĩa được tiêu thụ.[1] Đây là album bán chạy thứ 3 của Carey ở Mỹ sau Daydream (1995) và Music Box (1993). Album cán đích ở vị trí thứ 6 trên ARIA Charts top 50 album của năm 1991[2].

Sáng tác và thu âm[sửa | sửa mã nguồn]

Tommy Mottola và một vài quan chức của Sony/Columbia tin rằng Carey rất có tiềm năng để trở thành một ngôi sao lớn, vì thế album đầu tay của cô được hợp tác cẩn thận với một nhóm các lãnh đạo trong công ty, và dĩ nhiên Carey và Margulies được cho là không phù hợp với việc sản xuất. Mottola và ban quản trị muốn một album đầu tay với những âm thanh đương đại (giống album đầu của Whitney Houston: Whitney Houston năm 1985, trong đó một vài ý kiến cho là Carey khó có thể làm được điều tương tự) khi mà rồi chúng sẽ vượt qua và lôi cuốn cả thị trường R&B và thị trường âm nhạc chính.

Ban quản trị đã tập hợp các nhà sản xuất danh tiếng nhất thời đó lại để sản xuất các ca khúc của Margulies và Carey viết, cũng như sản xuất và đồng sáng tác với cô chất liệu mới. Họ bao gồm Rhett Lawrence, Ric Wake, Narada Michael Walden, và chỉ có 6 trên tổng số gần 20 bài hát của Carey và Margulies sáng tác được đưa vào album.

Sự đón nhận[sửa | sửa mã nguồn]

Để tạo dựng hình ảnh của mình trước khi phát hành album, Carey đã biểu diễn 3 bài hát trước những khách mời trong buổi dạ hội thân mật. Và có buổi truyền hình đầu tiên trên The Arsenio Hall Show, Columbia Records đã sắp xếp để cô trình diễn "America the Beautiful" tại NBA National basketball finals. Carey luôn được hỏi cho tour diễn, nhưng cô đã từ chối vì bị chứng sợ sân khấu trong thời gian này.

Mariah Carey xuất hiện trên Billboard 200 ở vị trí 80 và lọt vào top 20 sau 4 tuần. Album đạt quán quân sau 43 tuần, trụ vững trong 11 tuần liên tiếp, là album quán quân lâu nhất trong sự nghiệp của Carey. Và trở lại top 20 sau 65 tuần, tính ra album có 113 tuần trong bảng xếp hạng này, được RIAA chứng nhận 9 lần bạch kim vào ngày 15 tháng 12 năm 1999. Đây là một trong những album bán chạy nhất ở Mỹ và cũng trong năm 1990, tháng 3 năm 2006 đã có 9 triệu bản được tiêu thụ tại đây.[3]

Sự thành công của Mariah Carey bên ngoài thị trường Bắc Mỹ vẫn còn bị giới hạn. Album được đón nhận tại Canada, đạt quán quân trong 1 tuần và 7 lần đĩa bạch kim, #6 tại AnhAustralia; ở những nước quen thuộc đĩa nhạc cũng nằm trong top 75 suốt 36 tuần lễ liên tiếp, được chứng nhận 5 lần bạch kim. Sự thành công đã lan tới Brasil nhưng vẫn còn bị hạn chế ở châu Âu. Tháng 11 năm 2005, ước tính đã có 13.5 triệu bản tiêu thụ trên toàn thế giới.[4]

Các đĩa đơn trích ra từ album chỉ thành công tương đối ở đa số các thị trường âm nhạc nhưng lại rất phổ biến tại Mỹ, biến cô trở thành một ngôi sao tại đây. "Vision of Love" khởi đầu cho một loạt những ca khúc quán quân Hot 100 của Carey, dẫn đầu các bảng xếp hạng tại nhiều nơi như Canada, Brasil, New Zealand. "Love Takes Time" mặc dù đứng thứ nhất cả ở Mỹ lẫn Canada, nhưng lại không được nổi bật trên thế giới, như ở Anh, ca khúc đã thất bại. "Someday" là đĩa đơn quán quân tiếp theo ở Mỹ nhưng chỉ đứng thứ 5 tại Canada và không được quan tâm ở những nơi khác. "I Don't Wanna Cry" đã kết nối Carey với The Jackson 5 khi cùng có đĩa đơn thứ tư quán quân tại Mỹ, tại các thị trường khác ca khúc chỉ đạt được thành công rất nhỏ (ngoại trừ Canada) khi lọt ra ngoài top ten. "There's Got to Be a Way" phát hành tại một số nước châu Âu như Anh, cũng lọt vào top 40. Đĩa đơn thứ năm "Prisoner", dự định tung ra tại Mỹ sau "I Don't Wanna Cry", nhưng do kế hoạch chuẩn bị cho album thứ hai sắp tới Emotions nên đã không được phát hành.

Mariah Carey được đề cử trong Giải Grammy năm 1991 cho “Album của năm" trong khi "Vision of Love" nhận được đề cử cho hạng mục "Bài hát của năm", "Ghi âm của năm" và " Trình diễn giọng nữ pop xuất sắc nhất". Carey đã chiến thắng với giải " Trình diễn giọng nữ pop xuất sắc nhất " đồng thời " Nghệ sĩ mới xuất sắc nhất". Các giải còn lại như: "Album của năm" thuộc về Back on the Block sản xuất bởi Quincy Jones, "Bài hát của năm" được trao cho "From a Distance" của Julie Gold sản xuất bởi Bette Midler, và Phil Collins nhận được "Ghi âm của năm" với "Another Day in Paradise".

Syesha Mercado trong American Idol (mùa 7) đã hát lại ca khúc "Vanishing".

Danh sách bài hát[sửa | sửa mã nguồn]

Tất cả bài hát đều được viết bởi Carey và Ben Margulies trừ những bài nổi tiếng.

  1. "Vision Of Love" – 3:30
  2. "There's Got To Be A Way" (Carey, Ric Wake) – 4:54
  3. "I Don't Wanna Cry" (Carey, Narada Michael Walden) – 4:49
  4. "Someday" – 4:08
  5. "Vanishing" – 4:12
  6. "All In Your Mind" – 4:46
  7. "Alone in Love" – 4:12
  8. "You Need Me" (Carey, Rhett Lawrence) – 3:52
  9. "Sent From Up Above" (Carey, Lawrence) – 4:05
  10. "Prisoner" – 4:25
  11. "Love Takes Time" – 3:49

Xếp hạng[sửa | sửa mã nguồn]

Bảng xếp hạng Vị trí cao nhất Chứng nhận
(ngưỡng doanh số)
Australian Albums Chart[5] 6 2x Bạch kim[6]
Canadian Albums Chart[7] 1 7x Bạch kim[8]
Dutch Albums Chart[9] 5 Bạch kim[10]
Finnish Albums Chart[11] 13
French Albums Chart[12] 17
German Albums Chart[13] 24
Hungarian Albums Chart[14] 35
Italian Albums Chart[15] 24 Vàng[16]
Japanese Albums Chart[17] 13 Triệu[18]
New Zealand Albums Chart[19] 4 4x Bạch kim[20]
Norwegian Albums Chart[21] 4
Spanish Albums Chart[22] 35
Swedish Albums Chart[23] 8 Bạch kim[24]
Swiss Albums Chart[25] 15 Vàng[26]
UK Albums Chart[27] 6 Bạch kim[28]
U.S. Billboard 200[29] 1 9x Bạch kim[30]
  • Hầu hết các chứng nhận đều lấy theo tiêu chuẩn cũ (Doanh số có thể cao hơn so với xếp hạng trong bảng).

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]