Marina Ivanovna Tsvetaeva

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Marina Tsvetaeva
Sinh 26 tháng 9 năm 1892
Moskva, Nga
Mất 31 tháng 8 năm 1941
Elabug, Nga
Công việc Nhà văn, nhà thơ
Quốc gia Nga

Marina Ivanovna Tsvetaeva (tiếng Nga: Мари́на Ива́новна Цвета́ева; 26 tháng 9 năm 1892 – 31 tháng 8 năm 1941) là một nhà thơ, nhà văn Nga, một trong những nhà thơ xuất sắc nhất của Nga thế kỉ 20.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Marina Tsvetaeva sinh ở Moskva trong một gia đình có truyền thống văn hóa. Mẹ bà là nữ nghệ sĩ piano tài danh, còn bố là giáo sư, nhà ngôn ngữ Vladimirovich Tsvetaev và là người sáng lập bảo tàng mỹ thuật Pushkin. Từ nhỏ Marina được hưởng nền giáo dục hàn lâm, tiếp cận với các kiến thức cơ bản của nghệ thuật, văn hóa cổ điển Nga và nước ngoài.[1]

Lên 6 tuổi, Marina đã biết làm thơ bằng tiếng Nga, tiếng Pháptiếng Đức. Bà học phổ thông ở Moskva, Thụy SĩĐức. Năm 1910 bà in tập thơ đầu tiên Вечерний альбом (Album chiều) gây được sự chú ý của các nhà thơ nổi tiếng thời đó như Valery Yakovlevich Bryusov, Maximilian Alexandrovich Voloshin, Nikolai Stepanovich Gumilyov. Năm 1912 bà lấy chồng là Sergei Yakovlevich Efron – là người thời kỳ nội chiến tham gia bạch vệ nên sau Cách mạng tháng Mười Nga phải ra sống ở nước ngoài. Tuy chồng ra nước ngoài nhưng Marina lại không theo đi mà ở lại nước Nga, điều đó làm giới ngoại kiều Nga không ưa bà.[1]

Tháng 5 năm 1922, Marina cùng con được phép ra nước ngoài để đoàn tụ với Sergei Yakovlevich Efron. Đầu tiên sống ở Berlin rồi Praha, Paris. Ban đầu, giới ngoại kiều Nga hoan hỉ đón chào bà như một con bài chính trị. Nhưng dù phải xa quê hương, Marina vẫn một nỗi nhớ đau đáu quê nhà và viết "bằng ngôn ngữ bình đẳng". Chính vì thế, bà bị xa lánh, bị bài xích trong cộng đồng Nga ở nước ngoài.[1]

Trong hoàn cảnh như vậy, Marina quyết định trở về Liên Xô. Tháng 6 năm 1939, Marina cùng chồng con trở lại Moskva. Nhưng với Liên Xô lúc đó, những ai từng sống lưu vong thì phải đứng bên lề xã hội.[1] Gia đình bà liên tiếp gặp chuyện dữ: em gái bà là Anatasia bị bắt, chồng bà ốm nặng, sau đó bị xử bắn; con gái bị bắt vào trại giam.

Thế chiến II bùng nổ, bà cùng con trai sơ tán về thành phố nhỏ Elabug. Người con trai duy nhất của bà ra mặt trận. Marina sống hết sức nghèo khó và bị xa lánh; ngay cả khi bà viết đơn xin làm người rửa xoong nồi trong nhà ăn dành cho các nhà văn cũng không được chấp nhận.[1]

Tuyệt vọng và cô đơn, đau buồn cho số phận của những người thân và cảnh chiến tranh của đất nước, ngày 31 tháng 8 năm 1941 bà đã treo cổ tự tử, để lại bức thư tuyệt mệnh cho con trai nhưng người con này 3 năm sau cũng chết vì đạn của chiến tranh.

Nhà thơ Yevgeny Aleksandrovich Yevtushenko viết về cái chết của bà: "Không ai treo cổ, xử bắn bà. Nhưng người ta đã bắn bà bằng sự ghẻ lạnh, thờ ơ và không in ấn thơ của bà".[1]

Thơ của Marina Tsvetaeva một thời gian dài bị cấm ở Liên Xô, còn hiện tại bà là một trong những tác giả được yêu thích nhất. Thơ của bà được dịch ra rất nhiều thứ tiếng của thế giới, tiếng Việt có bản dịch "100 bài thơ Marina Tsvetaeva" của Nguyễn Viết Thắng.

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

Marina viết nhiều tác phẩm gồm có 17 trường ca, 8 kịch thơ, tự truyện, hồi ký văn học, tiểu luận, phê bình triết học, truyện, bút ký... Dấu ấn lớn nhất của Marina là bà đã kết hợp tài tình hai chủ nghĩa đối lập nhau là Chủ nghĩa tượng trưng và Chủ nghĩa đỉnh cao (Acmeism) để cách tân ngôn ngữ thi ca Nga.[1] Các tác phẩm tiêu biểu là:

  • Вечерний альбом (Album chiều, 1910), thơ
  • Вёрсты (Versty, 1921), thơ
  • Лебединый стан (Hình dáng thiên nga), thơ
  • Ремесло (Nghề thủ công, 1923), thơ
  • Психея (Psykheya, 1923), thơ
  • Молодец (Tay cừ khôi, 1924), thơ
  • После России (Sau nước Nga, 1928), thơ
  • Поэма Конца (Trường ca kết thúc, 1926), thơ
  • Мой Пушкин (Pushkin của tôi, 1937), văn xuôi
  • Искусство при свете совести (Nghệ thuật dưới ánh sáng của lương tâm), văn xuôi
  • Поэт и время (Nhà thơ và thời gian), văn xuôi
  • Hồi ký về các nhà thơ: Valery Bryusov, Maximilian Voloshin, Osip Mandelstam, Boris Pasternak, Rainer Maria Rilke

Một số bài thơ[sửa | sửa mã nguồn]

Мне нравится, что Вы больны не мной
 
Мне нравится, что Вы больны не мной,
Мне нравится, что я больна не Вами,
Что никогда тяжелый шар земной
Не уплывет под нашими ногами.
Мне нравится, что можно быть смешной
Распущенной-и не играть словами,
И не краснеть удушливой волной,
Слегка соприкоснувшись рукавами.
 
Мне нравится еще, что Вы при мне
Спокойно обнимаете другую,
Не прочите мне в адовом огне
Гореть за то, что я не Вас целую.
Что имя нежное мое, мой нежный, не
Упоминаете ни днем ни ночью -- всуе...
Что никогда в церковной тишине
Не пропоют над нами: аллилуйя!
 
Спасибо Вам и сердцем и рукой
За то, что Вы меня -- не зная сами! --
Так любите: за мой ночной покой,
За редкость встреч закатными часами,
За наши не-гулянья под луной,
За солнце не у нас на головами,
За то, что Вы больны -- увы! -- не мной,
За то, что я больна -- увы! -- не Вами.
 
 
Выстрел -- в самую душу
 
Выстрел -- в самую душу,
Как только что по врагам.
Богоборцем разрушен
Сегодня последний храм.
 
Еще раз не осекся,
И, в точку попав -- усоп.
Было стало быть сердце,
Коль выстрелу следом -- стоп.
 
(Зарубежье, встречаясь:
"Ну, казус! Каков фугас!
Значит -- тоже сердца есть?
И с той же, что и у нас?")
 
Выстрел -- в самую точку,
Как в ярмарочную цель.
(Часто -- левую мочку
Отбривши -- с женой в постель.)
 
Молодец! Не прошибся!
А женщины ради -- что ж!
И Елену паршивкой
-- Подумавши -- назовешь.
 
Лишь одним, зато знатно,
Нас лефовец удивил:
Только вправо и знавший
Палить-то, а тут -- словил.
 
Кабы в правую -- свeрк бы
Ланцетик -- и здрав ваш шеф.
Выстрел в левую створку:
Ну в самый-те Центропев!
 
Много храмов разрушил,
А этот -- ценней всего.
Упокой, Господи, душу усопшего врага твоего.
 
 
 * * *
Мировое началось во мгле кочевье:
Это бродят по ночной земле – деревья,
Это бродят золотым вином – грозди,
Это странствуют из дома в дом – звезды,
Это реки начинают путь – вспять!
И мне хочется к тебе на грудь – спать.
Tôi thích rằng anh đau chẳng vì tôi
 
Tôi thích rằng anh đau chẳng vì tôi
Và chẳng phải vì anh tôi đau đớn
Rằng chưa bao giờ Trái Đất tròn nặng
Từng bơi đi dưới chân của hai người.
Tôi thích một điều có thể nực cười
Rằng đổ đốn mà không cần chơi chữ
Không đỏ mặt, không bồi hồi, ngạt thở
Khi nhẹ nhàng ta khẽ chạm tay thôi.
 
Tôi còn thích rằng khi có mặt tôi
Anh bình thản ôm người con gái khác
Không biết được rằng tôi trong lửa ngục
Cháy lên vì tôi chẳng phải hôn anh.
Rằng cái tên của tôi dịu dàng, anh không
Nhắc đến ngày cũng như đêm – uổng phí…
Rằng không bao giờ trong nhà thờ lặng lẽ
Vang lên lời cầu nguyện: hãy yêu thương!
 
cảm ơn anh bằng bàn tay, tấm lòng
Vì một điều – tôi đây anh không nhận!
Hãy yêu: vì đêm của tôi thanh vắng
Vì hiếm khi ta gặp gỡ hoàng hôn
Vì ta không từng dạo bước dưới trăng
Vì mặt trời trên đầu không toả sáng, –
Vì không phải bằng anh, tôi đau đớn
Và anh đau không phải bởi vì tôi.
Bản dịch của Nguyễn Viết Thắng.
 
Gửi Maiakovsky
 
Phát súng bắn vào giữa ngực
Như chỉ để bắn kẻ thù thôi.
Người từng đánh vật với Đức Chúa Trời
Ngôi đền cuối cùng hôm nay phá nốt.
 
Lại một lần nữa không bị tắc
Viên đạn xuyên – người ấy lìa trần.
Đã từng có một con tim
Sau phát súng – thế là chấm hết.
 
(Ở nước ngoài người ta đón gặp:
"Quả là thật rắc rối, lung tung
Nghĩa là họ – cũng có tấm lòng?
Như ở bên ta, không khác?")
 
Phát súng vào ngay giữa ngực
Như vào đích của chợ phiên.
(Thường vào thái dương bên trái, vứt
Như với người vợ trên giường.)
 
Anh giỏi lắm! Và đã không nhầm
Quả là chết vì phụ nữ!
Và nàng Elena xấu xa tồi tệ*
Có từng nghĩ – là sẽ gọi tên.
 
Chỉ một điều, nhưng mà rất quí tộc
Người phái tả làm cho ta ngạc nhiên:
Chỉ về phía hữu và đã biết rằng
Thiêu trụi lông, còn ở đây – bắt được.
 
Giá như vào bên phải – thì cần xem lại
Sếp của anh – người ta sẽ kiểm tra.
Còn đây phát súng bắn vào cánh trái
Thì nghĩa là tâm điểm những bài ca!
 
Đã từng phá rất nhiều ngôi đền
Nhưng ngôi đền này – quí hơn tất cả.
Cầu Chúa cho kẻ thù của Người, đã chết được bình yên!
Bản dịch của Nguyễn Viết Thắng.
 
Không đề
Toàn thế giới khởi hành trong bóng tối:
Là lặng lẽ rễ cây bám vào đất vươn xa,
Là rượu quý nồng nàn lên men từ những chùm nho
Là những vì sao rơi lấp lánh đêm khuya,
Là những con sông bắt đầu con đường quay lại,
Và em muốn vùi đầu trên ngực anh ngủ mãi.
Bản dịch của Quỳnh Hương.
Em thích một điều: anh không hề đau đớn vì em
 
Em thích một điều: anh không hề đau đớn vì em
Lòng em cũng chẳng đau vì anh, em rất thích!
Rằng cả tinh cầu nặng nề - Trái Đất
Chẳng bao giờ trôi tuột dưới chân ta
Em thích một điều: được thoải mái nhố nhăng
Chẳng lời ý đẩy đưa, được buông tuồng đôi chút
Không đỏ mặt vì sóng lòng ngơ ngác
Vì mơ hồ thoáng tay áo chạm nhau
 
Em thích cả điều này nữa, lạ lùng sao:
Trước mặt em anh thản nhiên ôm cô nàng khác
Anh không rủa em chết thiêu trên lửa tà hà khắc
Vì em hôn người mà không phải hôn anh
Dịu dàng của em ơi, em rất thích rằng anh
Ngày lẫn đêm không nhắc tên em trìu mến
Rằng chẳng bao giờ đâu trong lặng im bên Chúa
Với đôi mình người chúc phúc "Amen!"!
 
Cảm ơn anh bằng bàn tay và cả trái tim em
Vì anh đã yêu em nhiều mà anh không hề biết
Vì bình yên đêm của em tha thiết
Vì hiếm hoi những buổi hẹn cuối hoàng hôn
Vì ta đã chẳng cùng dạo bước dưới trăng suông
Không cùng chung vầng mặt trời trên cao tỏa sáng
Cảm ơn vì (than ôi!) em chẳng làm anh đau đớn
Và em buồn lòng (hỡi ôi!) cũng chẳng phải vì anh!.
Bản dịch của Nguyễn Thụy Anh

Nhận xét[sửa | sửa mã nguồn]

Đánh giá sự nghiệp của Marina Tsvetaeva, nhà thơ Liên Xô Yevgeny Aleksandrovich Yevtushenko viết:

"Marina cùng với Boris Pasternak, Vladimir Mayakovsky đã cách tân, đưa thơ ca Nga tiến về phía trước hàng nhiều năm. Một nhà thơ tuyệt vời như Anna Akhmatova, người rất khâm phục Tsvetaeva cũng chỉ là người bảo vệ thơ ca truyền thống, chứ không phải là người tái tạo nó. Trong bình diện này, Tsvetaeva cao hơn hẳn Akhmatova".[1]

Thông tin thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Marina Ivanovna Tsvetaeva là nhà thơ cùng thế hệ với Boris Pasternak, Vladimir Mayakovsky. Ba người là bạn của nhau.[2]

Chú giải[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c d đ e Theo bài "Số phận các thủ lĩnh thi ca Nga" của Nhật Minh trên báo thể thao văn hóa cuối tuần số 5-6-7-8 năm 2010, trang 46
  2. ^ Theo bài "Số phận các thủ lĩnh thi ca Nga" của Nhật Minh trên báo thể thao văn hóa cuối tuần số 5-6-7-8 năm 2010, trang 47

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]