Mario Götze

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Mario Götze
Mario Götze, Germany national football team (07).jpg
Mario Götze trong màu áo đội tuyển Đức
Thông tin cá nhân
Ngày sinh 3 tháng 6, 1992 (22 tuổi)
Nơi sinh Memmingen, Đức
Chiều cao 1,76 m (5 ft 9 12 in)
Vị trí Tiền vệ công
Thông tin về CLB
CLB hiện nay Bayern München
Số áo 19
CLB trẻ
1997–1998 SC Ronsberg
1998–2001 FC Eintracht Hombruch
2001–2009 Borussia Dortmund
CLB chuyên nghiệp*
Năm CLB ST (BT)
2009–2013 Borussia Dortmund 83 (22)
2013- Bayern München 27 (10)
Đội tuyển quốc gia
2007 U-15 Đức 2 (0)
2007–2008 U-16 Đức 8 (3)
2008–2009 U-17 Đức 13 (5)
2010– U-21 Đức 2 (0)
2010– Đức 35 (11)
* Chỉ tính số trận và số bàn thắng được ghi ở giải Vô địch quốc gia cập nhật lúc 3 tháng 5, 2014.

† Số trận khoác áo (số bàn thắng).

‡ Thống kê về thành tích tại ĐTQG được cập nhật lúc 14 tháng 7, 2014 (UTC)

Mario Götze (sinh ngày 3 tháng 6, 1992 tại Memmingen, Đức) là cầu thủ bóng đá người Đức hiện đang thi đấu ở vị trí tiền vệ công cho câu lạc bộ Bayern München tại BundesligaĐội tuyển bóng đá quốc gia Đức. Anh là một cầu thủ trẻ nổi tiếng với kỹ thuật cá nhân tốt, tốc độ di chuyển và xử lý bóng nhanh cùng khả năng kiến tạo bàn thắng.

Giám đốc thể thao của Liên đoàn bóng đá Đức Mathias Sammer từng khẳng định rằng "Goetze là một trong những cầu thủ tài năng nhất chúng ta từng có[1]", còn huyền thoại Franz Beckenbauer đã so sánh anh với Lionel Messi.[2]

Götze khoác áo Borussia Dortmund từ năm 2001 đến 2013, hai lần vô địch Bundesliga và một lần vô địch DFB-Pokal. Anh đã cùng Dortmund vào đến Chung kết UEFA Champions League 2013, tuy nhiên anh đã bị chấn thương và không thể tham gia trận đấu này. Götze chuyển đến Bayern München trong kì chuyển nhượng mùa hè năm 2013.

Anh khoác áo đội tuyển Đức lần đầu tiên vào tháng 11 năm 2010 trong trận gặp Thụy Điển và đã trở thành cầu thủ trẻ nhất sau 56 năm khoác áo tuyển Đức. Götze là người ghi bàn thắng duy nhất trong trận chung kết World Cup 2014, đem về danh hiệu vô địch World Cup lần thứ tư trong lịch sử của bóng đá Đức.

Thời thơ ấu và gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Mario Götze sinh năm 1992 tại Memmingen, Bayern, Đức, là con của Jürgen Götze. 1998 gia đình anh dọn lên Dortmund, bởi vì cha anh nhận được chức vụ giáo sư đại học về ngành Công nghệ thông tin tại TU Dortmund.[3]

Götze có 2 anh em trai cũng là dân đá banh. Fabian chơi cho đội SpVgg Unterhaching còn Felix đội U-14 của Borussia Dortmund.

Bạn gái của Götze tên Ann-Kathrin Brömmel, với biệt hiệu Ann-Kathrin Vida là một người mẫu.[4]

Sự nghiệp câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Borussia Dortmund[sửa | sửa mã nguồn]

Götze bắt đầu sự nghiệp bóng đá tại câu lạc bộ SC Ronsberg ở Ostallgäu. Năm 6 tuổi, anh cùng gia đình chuyển đến Dortmund. Sau đó anh có ba năm tại FC Eintracht Hombruch trước khi chuyển đến đội trẻ của Borussia Dortmund năm 2001.

Ngày 21 tháng 11 năm 2009, Götze có trận đấu đầu tiên tại Bundesliga trong trận hòa 0–0 với 1. FSV Mainz 05, vào sân thay Jakub Błaszczykowski ở phút thứ 88.[5] Cà mùa giải 2009-10, anh chỉ 5 lần ra sân từ băng ghế dự bị ở cuối trận. Ngày 29 tháng 8 năm 2010, anh có bàn thắng đầu tiên tại Bundesliga khi ghi bàn mở tỉ số trong chiến thắng 3-1 trước VfB Stuttgart.[6] Götze có trận đấu đầu tiên ở đấu trường Châu Âu vào ngày 19 tháng 8 năm 2010 gặp FK Qarabağ[7], sau đó gần 1 tháng anh lập cú đúp trong chiến thắng 4-3 trước Karpaty Lviv của Ukraina tại vòng bảng UEFA Europa League 2010-11.[8]

Trong mùa giải 2010–11, huấn luyện viên Jürgen Klopp đưa Götze vào đội hình chính thức sau khi tiền vệ Kagawa Shinji bị chấn thương và không thể thi đấu trong nửa còn lại của mùa giải. Ngày 1 tháng 11 năm 2010, Götze đã ghi một bàn và kiến tạo một bàn khác giúp Dortmund thắng 1. FSV Mainz 05 2-0 và đoạt luôn ngôi đầu bảng của đội này.[9] Ngày 2 tháng 4 năm 2011, anh có một pha đi bóng ngoạn mục từ giữa sân, qua ba hậu vệ Hannover 96 trước khi đánh bại thủ môn Florian Fromlowitz gỡ hòa 1-1 trong chiến thắng 4-1 của Dortmund.[10] Tại Bundesliga 2010-11, anh đã có 33 trận đấu, 6 bàn thắng và 15 đường chuyền thành bàn, góp công giúp Borussia Dortmund giành chức vô địch Bundesliga đầu tiên sau chín năm.[11]

Ngay trong trận đấu đầu tiên của Bundesliga 2011-12, Götze đã ghi một bàn thắng và có một đường chuyền thành bàn cho Kevin Großkreutz trong chiến thắng 3-1 trước Hamburger SV.[12] Ngày 27 tháng 3 năm 2012, Götze ký hợp đồng mới với Borussia Dortmund theo đó anh sẽ gắn bó với câu lạc bộ đến năm 2016, tuy nhiên hợp đồng có điều khoản giải phóng với số tiền số tiền cố định là tối thiểu 37 triệu €.[13]

Bayern München[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 23 tháng 4 năm 2013, trước khi trận Chung kết UEFA Champions League 2013 diễn ra, trang chủ câu lạc bộ Bayern München thông báo đã đạt được thỏa thuận với Götze về chuyển nhượng anh với mức phí 37 triệu €, mức phí kích hoạt điều khoản giải phóng hợp đồng của anh với Dortmund.[14] Vụ chuyển nhượng giúp anh trở thành cầu thủ đắt giá nhất nước Đức lúc bấy giờ. Sau đó kỉ lục này đã bị phá vỡ khi Mesut Özil đến Arsenal với mức phí 50 triệu € vào tháng 9 năm 2013.[15][16] Thông tin về vụ chuyển nhượng Götze được chính thức xác nhận khi Dortmund đang chuẩn bị cho trận đấu quan trọng với Real Madrid ở bán kết lượt về UEFA Champions League.[17]

Ngày 11 tháng 8 năm 2013, Götze có trận đấu đầu tiên cho Bayern München trong chiến thắng 4-1 tại trận đấu giao hữu với đội bóng Hungary Gyori ETO. Anh đã lập cú đúp trong trận này.[18] Götze ra sân lần đầu tại Bundesliga trong màu áo Bayern München là trận thắng 2-0 trước 1. FC Nürnberg ngày 24 tháng 8. Ngày 19 tháng 10 năm 2013, Götze vào sân từ băng ghế dự bị đã có hai đường chuyền kiến tạo giúp cho Bayern giành chiến thắng 4–1 trước Mainz 05 từ chỗ bị dẫn trước.[19] Bốn ngày sau đó, Götze có bàn thắng đầu tiên cho Bayern tại UEFA Champions League trong chiến thắng 5-0 trước Viktoria Plzeň tại Allianz Arena.[20] Ngày 26 tháng 10 năm 2013, Götze vào sân thay người cho Toni Kroos ở phút 25 và ghi bàn thắng đầu tiên tại Bundesliga cho Bayern Munich với quả đánh đầu trong chiến thắng 3–2 trước Hertha BSC.[21]

Ngày 23 tháng 11 năm 2013, Götze ghi bàn mở tỉ số vào lưới đội bóng cũ Borussia Dortmund trong chiến thắng 3-0.[22] Tại Champions League, anh tiếp tục lập công trong chiến thắng 3-1 trước CSKA Moscow.[23] Ngày 7 tháng 12 năm 2013, Götze ghi bàn đồng thời chuyền cho Thomas Müller lập công trong chiến thắng hủy diệt 7-0 trước Werder Bremen.[24] Tại bán kết Giải vô địch bóng đá thế giới các câu lạc bộ 2013, Götze có pha sút xa ghi bàn trong chiến thắng 3-0 trước đại diện châu Á Guangzhou Evergrande[25] và Bayern đã vô địch giải đấu này sau khi đánh bại Raja Casablanca trong trận chung kết.

Sự nghiệp đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Götze từng là thành viên của đội tuyển U-15, U-16 Đức. Năm 2009, anh là đội trưởng đội tuyển U-17 Đức tham dự Giải vô địch bóng đá U-17 Châu Âu.[26] U-17 Đức đã giành chức vô địch, trong đó Götze ghi được 1 bàn thắng trong chiến thắng 4-0 trước U-17 Anh.[27] Cũng trong năm này, anh lại cùng U-17 Đức tham dự Giải vô địch U-17 thế giới ở Nigeria. Đội tuyển U-17 Đức bị loại ở vòng 1/16 bởi U-17 Thụy Sĩ, riêng Götze có mặt trong cả 4 trận và ghi được 3 bàn.[28]

Đầu tháng 9 năm 2010, Götze được triệu tập vào đội tuyển U-21 Đức tham dự hai trận đấu vòng loại Giải vô địch U-21 Châu Âu 2011 với U-21 Cộng hòa Séc và U-21 Bắc Ireland.[29] Đầu tháng 11 năm 2010, anh được huấn luyện viên trưởng đội tuyển Đức Joachim Löw triệu tập vào tuyển Đức cho trận giao hữu gặp Thụy Điển vào ngày 17 tháng 11.[30] Götze và André Schürrle, cầu thủ được triệu tập cùng đợt với anh, là những cầu thủ đội tuyển Đức đầu tiên ra đời sau khi hai miền nước Đức đã thống nhất.[31][32] Anh được vào sân trong trận gặp Thụy Điển ở phút 78 thay cho Kevin Großkreutz[33] và đã trở thành cầu thủ trẻ nhất sau 56 năm khoác áo tuyển Đức kể từ sau khi Uwe Seeler ra mắt tuyển quốc gia ngày 16 tháng 10 năm 1954.[34]

Bàn thắng đầu tiên của Götze cho đội tuyển Đức đến vào ngày 10 tháng 8 năm 2011 trong trận giao hữu thắng Brasil 3-2.[35] Bàn thắng này cũng giúp cho anh trở thành cầu thủ trẻ nhất ghi bàn cho đội tuyển quốc gia Đức giai đoạn sau chiến tranh (19 tuổi, 68 ngày) cùng với Klaus Stürmer, người đã ghi bàn vào lưới đội tuyển Pháp ngày 16 tháng 10 năm 1954.[36]

Tại vòng loại Euro 2012, Götze có được một bàn thắng trong trận thắng đội tuyển Áo 6-2.[37] Ngày 29 tháng 5 năm 2012, anh chính thức có tên trong danh sách 23 cầu thủ Đức tham dự Euro 2012 tại Ba LanUkraine.[38] Tại giải đấu này, anh chỉ được ra sân duy nhất một trận, trong chiến thắng 4-2 trước Hy Lạp từ băng ghế dự bị.[39]

World Cup 2014[sửa | sửa mã nguồn]

Götze ghi được bốn bàn thắng tại vòng loại World Cup 2014 và vào tháng 6 năm 2014, anh được triệu tập vào đội tuyển Đức tham dự World Cup 2014 tại Brasil.[40] Anh được ra sân chính thức trong trận đấu đầu tiên của đội tuyển Đức tại bảng đấu với Bồ Đào Nha và đã mang về quả phạt đền giúp cho Thomas Müller mở tỉ số cho đội tuyển Đức. Chung cuộc Đức giành chiến thắng 4-0.[41] Đến trận đấu thứ hai hòa Ghana, chính anh là người đã ghi bàn thắng mở tỉ số cho đội tuyển Đức.[42] Dù chỉ góp mặt 69 phút trên sân, anh vẫn được FIFA bầu chọn là Cầu thủ xuất sắc nhất trận.[43] Tại giải đấu này, anh ra sân 6/7 trận của đội tuyển Đức nhưng chỉ duy nhất trận mở màn gặp Bồ Đào Nha là anh được chơi trọn 90 phút, phần còn lại, Goetze hoặc phải vào sân từ ghế dự bị, hoặc bị thay ra nửa chừng.[44]

Trong trận chung kết World Cup 2014, Götze được vào sân thay cho Miroslav Klose ở phút thứ 88 của trận đấu. Đến phút 113, sau khi nhận đường chuyền bên cánh của André Schürrle, anh đã có pha hứng bóng bằng ngực rồi tung cú dứt điểm hạ gục thủ môn Sergio Romero ghi bàn thắng duy nhất của trận đấu, đem về danh hiệu vô địch World Cup thứ tư cho đội tuyển Đức sau 24 năm chờ đợi, đồng thời Đức đã trở thành đội châu Âu đầu tiên giành cúp tại Nam Mỹ.[45][46]

Thống kê sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Cập nhật: 21 tháng 8, 2011[47]

Câu lạc bộ Mùa bóng Giải vô địch Cúp quốc gia Cúp Châu Âu Tổng cộng
Số trận Bàn thắng Kiến thiết Số trận Bàn thắng Kiến thiết Số trận Bàn thắng Kiến thiết Số trận Bàn thắng Kiến thiết
Borussia Dortmund 2009–10 5 0 0 0 0 0 ––– 5 0 0
2010–11 33 6 15 2 0 0 6 2 0 41 8 15
2011–12 3 1 2 1 0 0 0 0 0 3 1 2
Tổng cộng sự nghiệp 40 7 17 3 0 0 6 2 0 49 9 17

Bàn thắng đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

# Ngày Địa điểm Đối thủ Bàn thắng Kết quả Giải đấu
1. 10 tháng 8, 2011 Mercedes-Benz Arena, Stuttgart, Đức  Brasil 2–0 3–2 Giao hữu
2. 2 tháng 9, 2011 Veltins-Arena, Gelsenkirchen, Đức  Áo 6–2 6-2 Vòng loại Euro 2012
3. 7 tháng 9, 2012 AWD-Arena, Hanover, Đức  Quần đảo Faroe 1–0 3–0 Vòng loại World Cup 2014
4. 22 tháng 3, 2013 Astana Arena, Astana, Kazakhstan  Kazakhstan 2–0 3–0 Vòng loại World Cup 2014
5. 26 tháng 3, 2013 Frankenstadion, Nuremberg, Đức  Kazakhstan 2–0 4–1 Vòng loại World Cup 2014
6. 15 tháng 10, 2013 Friends Arena, Solna, Thụy Điển  Thụy Điển 2–2 5–3 Vòng loại World Cup 2014
7. 5 tháng 3, 2014 Mercedes-Benz Arena, Stuttgart, Đức  Chile 1–0 1–0 Giao hữu
8. 6 tháng 6, 2014 Coface Arena, Mainz, Đức  Armenia 5–1 6–1 Giao hữu
9. 6–1
10. 21 tháng 6, 2014 Castelão, Fortaleza, Brasil  Ghana 1–0 2–2 World Cup 2014
11. 13 tháng 7, 2014 Estádio do Maracanã, Rio de Janeiro, Brasil  Argentina 1–0 1–0 World Cup 2014

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Borussia Dortmund
Bayern München

Đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

U-17 Đức
Đội tuyển Đức

Cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

  • Giải vàng Fritz-Walter-Medal 2009 (lứa tuổi U-17)
  • Giải vàng Fritz-Walter-Medal 2010 (lứa tuổi U-18)
  • Giải thưởng Cậu bé Vàng 2011
  • Cầu thủ hay nhất trận chung kết World Cup 2014
  • Cầu thủ hay nhất trận đấu: Đức - Ghana World Cup 2014

Hoạt động xã hội[sửa | sửa mã nguồn]

Mario Götze cùng với cha tham dự vào tổ chức xã hội dân sự Weitblick hoạt động giúp đỡ để cho trẻ em không phân biệt giàu nghèo trên thế giới có cơ hội học hỏi như nhau.[48]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Matthias Sammer Praises Borussia Dortmund's German Wunderkind Mario Goetze”. goal.com. 13 tháng 8 năm 2010. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2011. 
  2. ^ “Mario Goetze: "Messi của nước Đức"”. Thể thao & Văn hóa. 12 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2011. 
  3. ^ Mario Götze: Bayern-Fan wird Bayern-Spieler. In: Spiegel Online, 22. April 2013.
  4. ^ tz.de: Götze-Freundin Ann-Kathrin: Ihre sexy Model-Fotos, truy cập ngày 25 tháng 3 2014
  5. ^ “Mario Goetze - Thần tài của Dortmund”. Bongdatoday.vn. 5 tháng 4 năm 2011. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2011. 
  6. ^ Götze & Co. nehmen die Einladungen an, kicker.de
  7. ^ Thông tin về Mario Götze trên trang web của UEFA Europa League
  8. ^ “Dortmund's late rally denies brave Karpaty”. UEFA.com. 16 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2011. 
  9. ^ “"Cậu nhóc" Goetze đưa Dortmund lên đầu bảng”. Tuổi Trẻ Online. 1 tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2011. 
  10. ^ “Dortmund giải cứu Bayern”. Thể thao & Văn hóa. 3 tháng 4 năm 2011. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2011. 
  11. ^ “Bundesliga mùa 2011-2012: Chuyện của Mario Goetze”. Thể thao & Văn hóa. 18 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2011. 
  12. ^ “Thắng Hamburg 3-1, ĐKVĐ Dortmund khởi đầu thuận lợi”. Thể thao & Văn hóa. 6 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2011. 
  13. ^ “Trotz Ausstiegsklausel: Götze bleibt mindestens bis 2014 in Dortmund” (bằng Tiếng Đức). fussballtransfers.com. 1 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2014. 
  14. ^ “Bayern đã có Mario Goetze: Từ bá chủ Bundesliga đến bá chủ châu Âu”. Thể thao & Văn hóa. 25 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2013. 
  15. ^ “Nhờ Ozil, nhiều CLB "trúng đậm"”. Báo Thể thao Việt Nam. 5 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2013. 
  16. ^ “Transfer-Hammer: Özil wechselt zu Arsenal”. Österreich (bằng Tiếng Đức). 2 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2013. 
  17. ^ “CHÍNH THỨC: Pep đã đưa được "Messi nước Đức" về Bayern”. Bongda.com.vn. 23 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2013. 
  18. ^ “Mario Gotze scores twice on debut”. ESPN FC. 11 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2013. 
  19. ^ Schrader, Matthias (19 tháng 10 năm 2013). “Mario Götze inspires Bayern to comeback win; more Bundesliga”. sportsillustrated.cnn.com. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2014. 
  20. ^ “Remorseless Bayern brush Plzeň aside”. UEFA. 23 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2014. 
  21. ^ “Mandzu and Götze inspire winning fightback”. FC Bayern Munich. 26 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2014. 
  22. ^ Koylu, Enis (23 tháng 11 năm 2013). “The Ghost of Gotze: Super Mario returns to haunt crisis-hit Dortmund”. goal.com. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2014. 
  23. ^ Hamley, Chris (27 tháng 11 năm 2013). “Ten straight CL wins for imperious Bayern”. FC Bayern Munich. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2014. 
  24. ^ “Remorseless Munich thrash woeful Werder”. FC Bayern Munich. 7 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2014. 
  25. ^ “Bayern Munich's Franck Ribéry leads rout of Guangzhou Evergrande”. The Guardian. 17 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2014. 
  26. ^ DFB - Deutscher Fußball-Bund e.V.: U 17-Junioren bauen ihre Siegesserie 2009 aus
  27. ^ Wayne Harrison (9 tháng 5 năm 2009). “Four-goal Germany cruise into semi-finals”. UEFA.com. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2011. 
  28. ^ Thông tin về Mario Götze tại World Cup U-17 2009
  29. ^ 12 Borussen zur Nationalmannschaft: Götze für die deutsche U21 nominiert, bvb.de
  30. ^ Đ.K.L. (11 tháng 11 năm 2010). “Tuyển Đức đã trẻ nay còn trẻ hơn”. UEFA.com. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2011. 
  31. ^ “Here we go again”. BBC. 8 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2013. 
  32. ^ “Everything you need to know about Chelsea new boy Schurrle... who was the first man to play for Germany born after reunification and is good pals with Spurs star Holtby”. Mail Online. 14 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2013. 
  33. ^ “Schweden – Deutschland” (bằng Tiếng Đức). Kicker.de. 17 tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2010. 
  34. ^ “Goldene Aussichten: Mit 18 schon Meister und Nationalspieler” (bằng Tiếng Đức). dfb.de. 25 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 8 tháng 6 năm 2011. 
  35. ^ Sơn Tùng (11 tháng 8 năm 2011). “"Goetzinho" tỏa sáng, Đức hạ Brazil 3-2”. Bongdaplus.vn. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2011. 
  36. ^ “Youngest Debutants” (bằng Tiếng Anh). www.schwarzundweiss.co.uk. 10 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2011. 
  37. ^ Thanh Tùng (3 tháng 9 năm 2011). “Đại thắng 6-2, ĐT Đức giành vé đầu tới Euro 2012”. Dân trí. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2012. 
  38. ^ M.H (29 tháng 5 năm 2012). “Đức, Hy Lạp đồng loạt công bố đội hình dự Euro 2012”. Báo Lao Động Điện Tử. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2012. 
  39. ^ “Thông tin về Mario Götze trên trang web chính thức Euro 2012”. Trang web chính thức Euro 2012. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2012. 
  40. ^ “Germany World Cup 2014 squad”. The Telegraph. 2 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2014. 
  41. ^ “Germany 4-0 Portugal”. BBC. 16 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2014. 
  42. ^ “Germany vs Ghana”. BBC. 22 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2014. 
  43. ^ “Thi đấu 69 phút, Goetze vẫn xuất sắc nhất trận”. Tuổi Trẻ Online. 22 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2014. 
  44. ^ “Mario Goetze: Không chỉ là người hùng ở Brazil”. Thể Thao và Văn Hóa. 14 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2014. 
  45. ^ “Đức thắng Argentina, giành ngôi vô địch”. BBC Vietnamese. 14 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2014. 
  46. ^ “Đức 1-0 Argentina: 'Nhát kiếm' của Goetze giúp Đức vô địch thế giới sau 24 năm chờ đợi”. Thể Thao và Văn Hóa. 14 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2014. 
  47. ^ “Season 2010-11 statistics on Bundesliga.de”. Bundesliga.de. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2011. 
  48. ^ Schirmherren. In: weitblicker.org.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]