McDonnell Douglas F-15 Eagle

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
F-15 Eagle
Green Flag West 11-08.jpg
Máy bay F-15 Strike Eagle sơn xanh thuộc Không quân Hoa Kỳ đang bay trên bầu trời.
Kiểu Máy bay tiêm kích khống chế không phận
Hãng sản xuất McDonnell Douglas/Boeing IDS
Chuyến bay đầu tiên 27 tháng 7-1972
Được giới thiệu 9 tháng 1-1974
Tình trạng Đang hoạt động chính thức.
Số lượng được sản xuất 1198 chiếc (F-15A/B/C/D)
Chi phí máy bay Phiên bản cũ:
27,9 triệu USD (F-15A/B); 29,9 triệu USD (F-15C/D) thời giá năm 1998
Phiên bản mới:
F-15K: 100 triệu USD (thời giá 2006)[1]
F-15SE: 100 triệu USD (thời giá 2009)[2]
F-15E: 108 triệu USD (thời giá 2005)[3]
Chi phí vận hành: 41.921 USD/1 giờ bay (thời giá 2013[4])

F-15 Eagle (Đại bàng) của hãng McDonnell Douglas (đã sáp nhập vào Boeing) là một kiểu máy bay tiêm kích chiến thuật 2 động cơ phản lực hoạt động trong mọi thời tiết, được thiết kế để chiếm lĩnh và duy trì ưu thế trên không trong chiến đấu. Nó được phát triển cho Không quân Hoa Kỳ và bay lần đầu tiên vào ngày 27 tháng 7-1972. Phiên bản cải tiến F-15E Strike Eagle (Đại bàng tấn công) là kiểu máy bay tiêm kích kết hợp cường kích hoạt động trong mọi điều kiện thời tiết được đưa vào hoạt động từ năm 1989. F-15 dự định sẽ được phục vụ trong Không Quân Hoa Kỳ đến năm 2025.

Lịch sử phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

Trong chiến tranh Triều Tiên, kiểu máy bay cánh xiên F-86 Sabre là máy bay tiêm kích của Mỹ đã thách thức MiG-15 của Liên Xô. Đến năm 1965, giới chuyên môn rất ngạc nhiên khi chiếc MiG-17 thời hậu chiến tranh Triều Tiên lại bắn rơi kiểu máy bay hiện đại tốc độ Mach 2 F-105 Thunderchief (Thần sấm) trong phi vụ ném bom tại Việt Nam. Tình báo Không lực Hoa Kỳ sau đó càng bất ngờ [5] khi phát hiện ra Liên Xô đang chế tạo một chiếc máy bay tiêm kích lớn hơn có tên gọi là MiG-25 Foxbat. Lúc bấy giờ Phương Tây chưa biết rằng MiG-25 chỉ được thiết kế như một máy bay tiêm kích đánh chặn tốc độ cao, chứ không phải là loại tiêm kích chiếm ưu thế trên không; và do đó, dành ưu tiên cho tốc độ hơn là độ cơ động. Cánh đuôi và cánh ổn định ngang to của MiG-25 được hiểu như là một kiểu máy bay rất cơ động, và làm dấy lên nỗi lo ngại trong Không lực Hoa Kỳ rằng tính năng của nó sẽ vượt hơn kiểu tương đương của Mỹ. Trong thực tế, cánh đuôi và cánh ổn định to của MiG-25 nhằm giúp cho nó tránh bị mất ổn định quán tính khi bay cao ở tốc độ cao.

F-4 Phantom II của Không quânHải quân Hoa Kỳ là chiếc máy bay tiêm kích duy nhất có đủ lực đẩy, tầm bay và độ cơ động để đảm nhận vai trò chính đối phó lại nguy cơ từ máy bay tiêm kích Xô Viết khi tham chiến ở tầm nhìn thấy. Vì chính sách chung cho Phantom không được phép tấn công nếu không nhìn thấy được mục tiêu, nó không thể tấn công mục tiêu tầm xa như thiết kế ban đầu. Tên lửa đối không tầm trung AIM-7 Sparrow và ngay cả AIM-9 Sidewinder tầm ngắn ở một mức độ nào đó đều kém tin cậy và ít hiệu quả ở tầm ngắn, nơi mà pháo là vũ khí có hiệu quả duy nhất.

Ban đầu Phantom không được trang bị pháo vì có chủ định rằng sẽ dùng tên lửa đối không để chống lại máy bay ném bom chậm chạp và ít cơ động của Khối Vac-sa-va, và máy bay tiêm kích ở tầm xa. Khi kinh nghiệm từ Việt Nam cho thấy điều ngược lại, những cố gắng sử dụng pháo gắn ngoài cánh đã cho ra kết quả thất vọng: tăng độ cản, rung động nhiều khiến cho khó nhắm bắn trúng. Sau này một khẩu pháo 20 mm M61 Vulcan được gắn trong thân Phantom.

F-15C của Không lực Mỹ trên đường lăn chuẩn bị cất cánh

Rõ ràng cần có một kiểu máy bay tiêm kích mới vượt qua được những giới hạn tầm gần của Phantom trong khi vẫn duy trì được ưu thế trên không tầm xa. Sau khi từ chối chương trình VFX của Hải quân Mỹ (hình thành chiếc F-14 Tomcat) vì không đáp ứng yêu cầu đặt ra, Không lực Mỹ đề ra nhu cầu của riêng họ bằng chương trình FX (Fighter Experimental), tiêu chuẩn kỹ thuật cho một máy bay tiêm kích ưu thế trên không tương đối nhẹ cân. Ba hãng đã đưa ra các đề xuất của họ: Fairchild Republic, North American Rockwell, và McDonnell Douglas. Không lực Mỹ thông báo sự lựa chọn hãng trúng thầu là McDonnell Douglas vào ngày 23 tháng 12-1969. Thiết kế trúng thầu có dạng cánh đuôi kép giống F-14 nhưng với cánh cố định. Nó không nhỏ hơn hay nhẹ hơn đáng kể so với F-4 mà nó sẽ thay thế.

Phiên bản thiết kế ban đầu F-15A một chỗ ngồi và F-15B hai chỗ ngồi được gắn kiểu động cơ mới Pratt & Whitney F100 để đạt được chỉ số lực đẩy / khối lượng lớn hơn 1. Một đề xuất trang bị pháo 25 mm Ford-Philco GAU-7 với đạn không vỏ bị loại bỏ vì những lý do phát triển để trang bị pháo tiêu chuẩn M61 Vulcan. F-15 giữ lại kiểu mang 4 tên lửa đối không Sparrow tương tự như Phantom. Cánh cố định được gắn vào thân phẳng và rộng để có một diện tích nâng hiệu quả. Một số người nghi ngờ khả năng gia tốc của F-15 cùng với tên lửa đối không Sparrow có đủ để chống chọi chiếc MiG-25 Foxbat bay cao hay không ? Khả năng thực sự chỉ được trình diễn trong chiến đấu mà thôi.

Chiếc F-15 được trang bị kiểu radar hướng xuống có thể phân biệt các vật thể chuyển động ở độ cao thấp khỏi địa hình mặt đất. Nó dùng kỹ thuật máy tính với các màn hình hiển thị và điều khiển mới để giảm nhẹ công việc của phi công; và chỉ yêu cầu đội bay một người để giảm trọng lượng. Không giống F-14 hay F-4, F-15 có kính buồng lái một tấm với tầm nhìn thoáng phía trước. Không lực Hoa Kỳ đã giới thiệu chiếc F-15 như là "chiếc máy bay tiêm kích chiếm ưu thế trên không đầu tiên của Không lực kể từ thời F-86 Sabre."[6]

F-15 được sự quan tâm của những khách hàng như Không quân IsraelKhông quân Phòng vệ Nhật Bản, và việc phát triển chiếc F-15E Strike Eagle sẽ tạo ra một kiểu máy bay tiêm kích tấn công thay thế cho chiếc F-111. Tuy nhiên, phê phán từ nhóm "Tài phiệt Chiến đấu" cho rằng F-15 quá to để là một chiếc máy bay chiến đấu thực sự, và quá đắt để có thể sản xuất số lượng nhiều đủ thay thế cho F-4 và A-7, đã dẫn đến chương trình LWF (Light Weight Fighter - máy bay tiêm kích hạng nhẹ) để ra đời F-16 Fighting Falcon của Không quân Mỹ và máy bay hạng trung F/A-18 Hornet của Hải quân Mỹ.

Thiết kế[sửa | sửa mã nguồn]

Cất cánh F-15.
Hai chiếc F-15 Eagles bay đội hình.
Giá súng M61 Vulcan phía phải cửa hút gió động cơ.

Khả năng thao diễn của F-15 có được nhờ chất tải cánh (tỷ lệ trọng lượng trên diện tích cánh nhỏ) nhỏ và tỷ lệ lực đẩy trên trọng lượng lớn cho phép nó quay vòng hẹp mà không mất tốc độ. F-15 có thể lên tới độ cao 30.000 feet (10.000 m) trong khoảng 60 giây. Lực đẩy từ hai động cơ lớn hơn trọng lượng của máy bay, vì thế cho phép nó tăng tốc trong khi đang bay dốc đứng lên. Các hệ thống vũ khí và điều khiển bay được thiết kế để chỉ cần một người có thể thực hiện tốt nhiệm vụ chiến đấu trên không.

Một hệ thống điện tử đa nhiệm gồm một hệ thống hiển thị mũ bay (HUD), radar tân tiến, hệ thống dẫn đường quán tính (INS), các công cụ bay, liên lạc tần số cực cao (UHF), và những bộ tiếp nhập Hoa tiêu Chiến thuật trên không (TACAN) và Hệ thống Công cụ Hạ cánh (ILS). Nó cũng có một hệ thống chiến tranh điện tử chiến thuật lắp trong, hệ thống "định dạng bạn thù", bộ phản công điện tử và một máy tính số trung tâm.

Hệ thống hiển thị mũ bay cung cấp, thông qua một máy kết hợp, tất cả các thông tin bay quan trọng do các hệ thống điện tử thu thập được. Màn hình hiển thị này luôn thấy được ở mọi điều kiện ánh sáng, cung cấp cho phi công thông tin quan trọng để theo dõi và tiêu diệt máy bay địch mà không cần nhìn xuống các công cụ trong buồng lái.

Hệ thống radar xung Doppler đa tác dụng APG-63/70 của F-15 có thể tìm kiếm các mục tiêu bay với tốc độ cao ở trên và tốc độ thấp ở dưới không nhầm lẫn chúng với các mục tiêu dưới mặt đất. Nó có thể dò tìm và truy theo máy bay cùng các mục tiêu tốc độ thấp nhỏ ở khoảng cách ngoài tầm nhìn (tối đa lên tới 120 hải lý), và ở độ cao tới các ngọn cây. Radar cung cấp thông tin mục tiêu tới máy tính trung tâm để sử dụng vũ khí tối ưu. Khả năng khóa các mục tiêu lên tới 50 hải lý với một tên lửa AIM-120 AMRAAM cho phép chiến đấu với các mục tiêu ngoài tầm nhìn. Khi chiến đấu hỗn loạn ở cự ly gần, radar tự động tìm kiếm máy bay địch, và thông tin này được chiếu lên màn hình hiển thị trên mũ. Hệ thống chiến tranh điện tử của F-15 vừa có chức năng cảnh báo vừa có chức năng phản công chống lại các mối đe dọa được lựa chọn.

F-15 có thể mang theo nhiều loại vũ khí không đối không. Một hệ thống vũ khí tự động cho phép phi công thực hiện công tác chiến đấu trên không an toàn và hiệu quả, sử dụng hệ thống hiển thị trên mũ bay và các hệ thống điện tử cùng hệ thống kiểm soát vũ khí nằm trên thanh điều khiển. Khi phi công thay đổi từ hệ thống vũ khí này sang hệ thống khác, thông tin hướng dẫn cho loại vũ khí đó sẽ tự động hiển thị trên mũ bay.

Eagle có thể được trang bị tổng hợp bốn loại vũ khí không đối không khác nhau: tên lửa AIM-7F/M Sparrow hay AIM-120 AMRAAM các tên lửa không đối không tầm trung hiện đại ở góc thấp dưới thân, tên lửa AIM-9L/M Sidewinder hay tên lửa AIM-120 trên hai mấu cứng dưới cánh, một pháo Gatling 20 mm cạnh gốc cánh.

Các bình nhiên liệu phụ thích ứng (CFT) sức cản thấp đã được phát triển cho những chiếc F-15C và D. Chúng có thể được gắn bên cạnh các cửa hút gió động cơ dưới mỗi cánh và được thiết kế để có cùng các giới hạn tải trọng và tốc độ bay của máy bay. Tuy nhiên, chúng vẫn làm giảm khả năng thao diễn của máy bay khi giới hạn G-force tối đa. Chúng cũng không vứt bỏ được trong khi bay (không giống các thùng nhiên liệu phụ quy ước gắn ngoài). Không quân Mỹ chỉ lắp CFT cho những chiếc F-15E, nhưng những thùng CTF của Mỹ đã được cung cấp cho Israel để sử dụng cho toàn bộ phi đội F-15 của họ. Mỗi bình nhiên liệu phụ có khoảng 114 foot khối (3.200 L) dung tích hữu dụng. Những chiếc bình này giúp máy bay không cần phải tiếp dầu trên không trong những phi vụ tầm xa và những trận đánh có thời gian dài. Tất cả các mấu cứng treo vũ khí ngoài đều sử dụng được khi có dùng thùng dầu phụ. Hơn nữa, các tên lửa Sparrow hay AMRAAM có thể được lắp tại các góc của thùng dầu phụ.

Biến thể F-15E Strike Eagle là một máy bay chiến đấu hai chỗ ngồi, hoàn toàn thích hợp hoạt động trong mọi thời tiết, với cả các nhiệm vụ không đối không và can thiệp trên không. Buồng lái phía sau được cải tiến để lắp thêm bốn màn hình hiển thị đa dụng CRT cho các hệ thống máy bay và quản lý vũ khí. Hệ thống kiểm soát bay số Lear Siegler cho phép tự động giám sát địa hình, được tăng cường thêm bởi một hệ thống dẫn đường quán tính dùng con quay laser.

Để có khả năng thâm nhập tầm thấp ở tốc độ cao nhằm tấn công các mục tiêu chiến thuật vào buổi đêm và trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt, F-15E mang theo một radar APG-70 và thiết bị LANTIRN để thu ảnh nhiệt.

Radar Quét mạng điện tử chủ động (AESA) APG-63(V)2 đã được trang bị thêm cho một số lượng giới hạn máy bay F-15C của Không lực Hoa Kỳ. Sự cải tiến này gồm hầu hết các phần cứng mới từ APG-63(V)1, nhưng việc lắp thêm radar quét mạng điện tử chủ động giúp phi công nắm bắt tình hình nhanh hơn. Radar AESA có chùm tia nhanh đặc biệt, hầu như có khả năng truy dấu và cung cấp thông tin đồng thời. APG-63(V)2 tương thích với các loại vũ khí trang bị hiện tại của F-15C và cho phép phi công sử dụng toàn bộ lợi thế của tên lửa AIM-120 AMRAAM, đồng thời dẫn đường cho nhiều tên lửa tới nhiều mục tiêu ở các góc, độ cao và khoảng cách lớn.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc gia sử dụng loại F-15 lớn nhất là Không lực Hoa Kỳ. Chuyến bay đầu tiên của chiếc F-15A diễn ra tháng 7 năm 1972, và chuyến bay đầu tiên của chiếc F-15B hai chỗ ngồi (tên chính thức TF-15A) diễn ra tháng 7 năm 1973. Chiếc Eagle (F-15B) đầu tiên được chuyển giao tháng 11 năm 1974. Tháng 1 năm 1976, chiếc Eagle được dự định cho một phi đội chiến đấu được chuyển giao. Những chiếc máy bay đầu tiên mang radar APG-63 của hãng Hughes Aircraft (hiện nay là Raytheon).

F-15D thuộc Phi đội Chiến đấu 325 có căn cứ tại Tyndall AFB, đang thả pháo sáng

Phiên bản một chỗ ngồi F-15C và hai chỗ ngồi F-15D bắt đầu được biên chế vào Không quân năm 1979. Các phiên bản mới này đều có cấu hình cải tiến của Gói Sản xuất Eagle (PEP 2000), gồm thêm 2.000 lb (900 kg) nhiên liệu trong, mấu cứng có sẵn để lắp đặt các bình nhiên liệu ngoài, trọng lượng cất cánh tối đa tăng tới 68.000 lb (30.700 kg).

Chương trình Nâng cấp Nhiều giai đoạn F-15 được đưa ra tháng 2 năm 1983, phiên bản sản xuất đầu tiên F-15C được chế tạo năm 1985. Những cải tiến gồm: nâng cấp máy tính trung tâm; một Bộ Kiểm soát Vũ Khí Lập trình được (Programmable Armament Control Set), cho phép sử dụng các phiên bản tên lửa AIM-7, AIM-9, và AIM-120A hiện đại hơn; một Hệ thống Chiến tranh Điện tử Chiến thuật cho phép cải tiến các thiết bị thu tín hiệu cảnh báo radar ALR-56C và bộ phản công điện tử ALQ-135. 43 chiếc cuối cùng được trang bị radar Hughes APG-70 cải tiến đã được chuyển đổi trở thành loại F-15E. Những chiếc MSIP F-15C ban đầu với APG-63 sau này được nâng cấp lên thành APG-63(V)1, với nhiều nâng cấp đáng kể về độ tin cậy và khả năng bảo dưỡng trong khi vẫn có tính năng hoạt động tương đương với APG-70. Một số lượng hạn chế những chiếc F-15C cũng đã được trang bị radar AESA APG-63(V)2.

Các phiên bản F-15A và B đã được Israel sử dụng trong chiến dịch Thung lũng Bekaa.

Các phiên bản F-15C, D, và E đã được triển khai tại Vịnh Péc-xích năm 1991 hỗ trợ cho Chiến dịch Bão táp Sa mạc, tại đây chúng đã giành được tổng cộng 36 tới 39 chiến công trong không chiến. Những chiếc F-15E chủ yếu hoạt động ban đêm để săn lùng các bệ phóng tên lửa SCUD và các trận địa pháo bằng hệ thống LANTIRN.

Từ đó chúng đã được triển khai để hỗ trợ Chiến dịch Giám sát phía Nam, tuần tra Vùng cấm bay ở phía nam Iraq; Chiến dịch Provide Comfort tại Thổ Nhĩ Kỳ; hỗ trợ cho các chiến dịch của NATO tại Bosnia, và những cuộc triển khai lực lượng viễn chinh của không quân gần đây.

Thành tích[sửa | sửa mã nguồn]

Tới năm 2005, F-15 thuộc mọi lực lượng không quân đã có thành tích tiêu diệt 104 máy bay trong các trận không chiến (được tuyên bố bởi các bên sử dụng nó,[cần dẫn nguồn], ngoại trừ trường hợp một chiếc F-15J của Nhật Bản bắn rơi một chiếc F-15J khác năm 1995 vì một tên lửa AIM-9 Sidewinder hoạt động không chuẩn xác trong một cuộc huấn luyện không chiến sử dụng đạn thật).[7][8] Tới thời điểm 2005, các phiên bản giành ưu thế trên không của F-15 (các phiên bản F-15A/B/C/D) của Hoa Kỳ và Israel được họ tuyên bố chưa từng bị đối thủ nào bắn hạ. Tuy nhiên, theo tuyên bố của các đối thủ của Mỹ và Israel thì đã có một số chiếc F-15 bị bắn hạ. Không quân Syria tuyên bố có 3 chiếc F-15 của Israel đã bị MiG-23 của họ bắn hạ và thêm 2 chiếc khác bị MiG-21 bắn hạ vào năm 1982. Không quân Israel thì xác nhận có ít nhất 1 chiếc F-15 bị hư hại do trúng tên lửa từ MiG-21 vào ngày 9/6/1982, quả tên lửa đã phá tan một động cơ của chiếc F-15 nhưng nó vẫn cố hạ cánh về sân bay bằng động cơ còn lại trước khi bị ngọn lửa bao trùm.[9] Không quân Syria cũng tuyên bố đã hạ 1 chiếc F-15 khác bằng MiG-25 của họ vào ngày 29/7/1981[10]

Hơn một nửa những chiến công của F-15 thuộc các phi công Không quân Israel. Chiến công đầu tiên của F-15 thuộc phi công xuất sắc người Israel Moshe Melnik năm 1979. [cần dẫn nguồn] Năm 1979–81, trong những cuộc tranh chấp biên giới giữa Israel và Liban, Israel tuyên bố những chiếc F-15A của họ đã bắn hạ 13 chiếc MiG-21 "Fishbeds" và 2 chiếc MiG-25 "Foxbats" của Syria, hai chiếc sau là đối thủ thiết kế của F-15. Trong cuộc Chiến tranh Liban năm 1982, những chiếc F-15 của Israel được tuyên bố đã bắn hạ 40 chiếc máy bay phản lực của Syria (23 MiG-21 "Fishbeds" và 17 MiG-23 "Floggers") và một máy bay trực thăng Gazelle SA.342L của Syria.

Các phi công F-15C của Không quân Hoàng gia Ả Rập Saudi đã bắn hạ hai chiếc F-4E Phantom II thuộc Không quân Iran trong cuộc tranh chấp biên giới tháng 6 năm 1984, và bắn hạ hai chiếc Mirage F1 của Iraq trong Chiến tranh Vùng Vịnh.[cần dẫn nguồn] Phía Iraq tuyên bố 1 chiếc F-15 của Ả Rập Saudi đã bị bắn hạ bởi MiG-25 của họ[11].

Theo Không quân Mỹ tuyên bố, những chếc F-15C của họ đã có 34 chiến thắng được xác nhận trước những chiếc máy bay của Iraq trong cuộc Chiến tranh Vùng Vịnh năm 1991, chủ yếu bằng tên lửa: 5 chiếc MiG-29 "Fulcrums," 2 chiếc MiG-25 "Foxbats," 8 chiếc MiG-23 "Floggers," 2 chiếc MiG-21 "Fishbeds," 2 chiếc Su-25 "Frogfoots", 4 chiếc Su-22 "Fitters", 1 chiếc Su-7, 6 chiếc Mirage F1, 1 chiếc máy bay vận tải Il-76, 1 chiếc Pilatus PC-9 huấn luyện, và 2 chiếc trực thăng Mi-8. Sau khi đã giành được ưu thế trên không sau ba ngày đầu chiến đấu, nhiều chiến công sau này diễn ra trước những chiếc máy bay được cho là đang bỏ chạy sang Iran, chứ không phải cất cánh để tham chiến với các máy bay Mỹ. Chiếc F-15C một chỗ ngồi đã được dùng để giành ưu thế trên không, còn chiếc F-15E được sử dụng nhiều vào những cuộc tấn công không đối đất. Một chiếc F-15E đã bắn hạ một máy bay trực thăng Mi-8 của Iraq đang sử dụng một quả bom dẫn đường laser. F-15E hai lần bị bắn hạ vì hỏa lực mặt đất trong Chiến tranh Vùng Vịnh năm 1991.[12]

Năm 1994, hai chiếc UH-60 Black Hawk của Quân đội Mỹ đã bị những chiếc F-15C của Không quân bắn hạ tại vùng cấm bay ở Iraq trong một vụ bắn nhầm.[13]

Những chiếc F-15C của Không quân Mỹ cũng đã bắn hạ 4 chiếc MiG-29 của Nam Tư trong Chiến dịch Lực lượng Đồng minh can thiệp vào Kosovo của NATO năm 1999.[12]

Diệt vệ tinh[sửa | sửa mã nguồn]

Thử nghiệm phóng ASM-135.

Từ tháng 1 năm 1984 tới tháng 9 năm 1986, một chiếc F-15A đã được dùng làm bệ phóng cho năm tên lửa ASM-135 ASAT. Chiếc F-15A đạt tốc độ Mach 1.22, 3.8 g góc lên 65° và phóng tên lửa ASAT ở độ cao 38.100 feet (11.6 km). Máy tính của F-15A được nâng cấp để điều khiển vọt lên và phóng tên lửa. Chuyến bay thử nghiệm thứ ba có mục tiêu là một vệ tinh viễn thông đã ngừng hoạt động ở quỹ đạo 345 dặm (555 km), và đã tiêu diệt thành công bằng năng lượng động lực vuông góc. Viên phi công, Thiếu tá Wilbert D. "Doug" Pearson thuộc Không lực Hoa Kỳ, đã trở thành phi công duy nhất tiêu diệt một vệ tinh.[14][15]

Tên lửa ASAT được thiết kế để trở thành một vũ khí chống vệ tinh tầm xa, và F-15A là phương tiện thực hiện giai đoạn đầu tiên. Liên Xô có thể xác định một vụ phóng tên lửa của Hoa Kỳ khi mất một vệ tinh do thám, nhưng một chiếc F-15 mang theo một tên lửa ASAT có thể lẫn mất trong hàng trăm những cuộc xuất kích khác của F-15.

Lỗi cấu trúc thân[sửa | sửa mã nguồn]

Tất cả các máy bay F-15 trong Không Quân Mỹ đều bị ngưng bay sau khi một chiếc F-15C của đội Không quân Phòng vệ quốc gia bang Missouri bị vỡ đôi và rơi ngày 2 tháng 11 năm 2007. Báo cáo điều tra tai nạn của Không quân Mỹ ngày 28 tháng 11 năm 2007 cho biết hệ thống sóng dọc liên kết thân máy bay với buồng lái, ống hút gió là nguyên nhân gây vỡ thân máy bay. Các máy bay F-15 từ phiên bản A-D đều bị ngừng bay để kiểm tra. Việc này gây sức ép không nhỏ đến hoạt động tuần tra trên không. Một số bang phải dùng tới các máy bay chiến đấu khác và toàn vùng Alaska phải nhờ hỗ trợ từ Không Quân Canada. Ngày 8 tháng 1 năm 2008, Bộ tư lệnh Không quân Tác chiến (ACC) đã dỡ bỏ lệnh ngừng bay và vẫn áp dụng 1 số hạn chế bay vì có 9 trường hợp gặp vấn đề về sóng dọc tương tự nên các máy bay F-15 cần được kiểm tra kỹ và sửa chữa khắc phục. Lúc này Tướng John D.W.Corley nói rằng "Tương lai của F-15 đang được nghi vấn". Tuy nhiên, đến 15 tháng 2 năm 2008, việc cấm bay và kiểm tra được dỡ bỏ hoàn toàn, F-15A/B/C/D được hoàn toàn cất cánh bay trở lại.

Tương lai[sửa | sửa mã nguồn]

Phiên bản F-15C/D trong Không quân Mỹ đang dần được thay thế bằng loại F-22 Raptor. Tuy nhiên chiếc F-15E vẫn sẽ còn hoạt động trong nhiều năm tới bởi vai trò không đối đất riêng biệt cũng như thời gian bay của thân máy bay còn thấp. 18 chiếc F-15C của Không quân Hoa Kỳ đã được trang bị radar Quét Mạng Điện tử Chủ động (AESA) AN/APG-63(V)2 và được dự định hoạt động tiếp trong Không quân Mỹ tới sau năm 2020. Không quân Hoàng gia Ả Rập Saudi đã mua nhiều phi đội F-15S tầm xa, Hàn Quốc đang mua những chiếc F-15K phiên bản cải tiến, và Singapore đang mua biến thể F-15SG.

Đang có cuộc tranh luận tại Hoa Kỳ liên quan tới việc có nên hiện đại hoá F-15 hay cho nghỉ hưu. Điều này một phần vì chi phí F-22 Raptor thay thế cho F-15 với tỷ lệ 1/1 sẽ là quá lớn (có lẽ chỉ ở tỷ lệ 1/3). Vì thế F-15 có thể được giữ lại với vai trò hỗ trợ để Không quân Mỹ không gặp nhiều bất lợi trong những cuộc xung đột trong tương lai. Những cải tiến như vậy có thể sẽ gồm radar AESA, Hệ thống xử lý tín hiệu trên mũ bay (JHMCS), các cải tiến giảm phản hồi radar, hay thay động cơ điều chỉnh hướng phụt.

Ngày 26 tháng 9 năm 2006, tại cuộc Triển lãm Air Force Association's Air & Space Conference and Technology Exposition tại Washington D.C., Không quân Mỹ đã thông báo kế hoạch nâng cấp 178 chiếc F-15C của họ với radar AESA AN/APG-63(V)3. Ngoài ra, Không quân cũng dự định nâng cấp những chiếc F-15 với JHMCS.[16] Không quân sẽ giữ 178 chiếc F-15C cùng 224 chiếc F-15E cho tới năm 2025.[17]

Ả Rập Saudi cũng đặt mua F-15 Silent Eagle do Tập đoàn Boeing chế tạo với trị giá 30 tỷ USD. Quốc gia này cũng đã tuyên bố kế hoạch mua vũ khí, phương tiện kỹ thuật quân sự của Mỹ với tổng trị giá lên tới 60 tỷ USD.

Biến thể[sửa | sửa mã nguồn]

Các mẫu căn bản[sửa | sửa mã nguồn]

F-15A
Phiên bản máy bay chiến đấu giành ưu thế trên không, một chỗ ngồi, mọi thời tiết.
F-15B
Phiên bản huấn luyện hai chỗ ngồi. Tên định danh chính thức TF-15A.
F-15C
Phiển bản máy bay chiến đấu giành ưu thế trên không, một chỗ ngồi, mọi thời tiết cải tiến.
F-15D
Phiên bản huấn luyện hai chỗ ngồi.
F-15J
Phiên bản máy bay chiến đấu giành ưu thế trên không, một chỗ ngồi, mọi thời tiết cho Lực lượng Phòng không Nhật Bản chế tạo theo giấy phép tại Nhật bởi Mitsubishi.
F-15DJ
Phiên bản huấn luyện hai chỗ ngồi cho Lực lượng Phòng không Nhật Bản. Được chế tạo theo giấy phép ở Nhật bởi Mitsubishi.
F-15N Seagle
Biến thể đề xuất hoạt động trên tàu sân bay; được xem xét thay thế cho F-14 Tomcat trong Hải quân Mỹ.
Góc nhìn buồng lái chiếc F-15E từ máy bay tiếp dầu trên không.

F-15E và liên quan[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: F-15E Strike Eagle
F-15E Strike Eagle
Phiên bản tấn công tầm xa và tấn công mặt đất mọi thời tiết, hai chỗ ngồi cho Không quân Mỹ.
F-15F Strike Eagle
Phiên bản một chỗ ngồi đề xuất của F-15E.
F-15H Strike Eagle
Phiên bản xuất khẩu của F-15E Strike Eagle cho Không quân Hy Lạp.
F-15I Ra'am (Thunder)
Phiên bản cải tiến của F-15E Strike Eagle cho Không quân Israel.
F-15K Slam Eagle
Phiên bản cải tiến của F-15E Strike Eagle cho Không quân Hàn Quốc.
F-15S Strike Eagle
Phiên bản xuất khẩu của F-15E Strike Eagle cho Không quân Hoàng gia Ả Rập Saudi.
F-15SG Strike Eagle
Phiên bản cải tiến của F-15E Strike Eagle cho Không quân Cộng hòa Singapore. Biến thể trước kia được đặt tên F-15T.

Nghiên cứu và thử nghiệm[sửa | sửa mã nguồn]

NASA F-15 IFCS đang bay.
F-15 Streak Eagle
Một chiếc F-15A không sơn và dấu hiệu, trình diễn khả năng tăng tốc của máy bay - phá vỡ tám kỷ lục thế giới về tốc độ lên trong khoảng thời gian 16 tháng 11 tháng 2 năm 1975 [1].
F-15S/MTD
Một chiếc TF-15A đã được chuyển đổi làm máy bay thí nghiệm cất hạ cánh đường băng ngắn và kỹ thuật thao diễn.
F-15 ACTIVE
Một chiếc F-15S/MTD đã được chuyển đổi thành máy bay nghiên cứu kỹ thuật điều khiển hiện đại.
F-15 IFCS
Một chiếc F-15 ACTIVE đã được chuyển đổi thành máy bay nghiên cứu các hệ thống điều khiển bay thông minh.
F-15 MANX
Một biến thể không có đuôi của F-15 ACTIVE.

Các quốc gia sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

về các biến thể dựa trên F-15E.
Các bên sử dụng F-15 hiện tại màu xanh nhạt, F-15E màu đỏ, cả hai màu xanh đậm
Hai chiếc F-15J Eagle thuộc Phi đội 202, Không lực Phòng vệ Nhật Bản, cất cánh đội hình trong cuộc tập trận chung Mỹ/Nhật Cope North 85-4, tháng 8 năm 1985.
 Israel
  • Không quân Israel đã sử dụng F-15 từ năm 1977. Những chiếc máy bay này hiện được tổ chức vào hai phi đội F-15A/B và một phi đội F-15C/D. 25 chiếc F-15A/B đầu tiên được Không quân Hoa Kỳ chỉnh sửa và nâng cấp, trang bị cho phi đội 133 của Không quân Israelrd. Gói thứ hai đã tạm thời bị cấm vì cuộc Chiến tranh Liban năm 1982.[18]
 Nhật Bản
  • Không lực Phòng vệ Nhật Bản đã mua 203 chiếc F-15J và 20 chiếc F-15DJ từ năm 1981, trong số đó 2 chiếc F-15J và 12 chiếc F-15DJ được sản xuất tại Hoa Kỳ số còn lại bởi Mitsubishi theo giấy phép. Những chiếc máy bay này hiện thuộc biên chế của 2 Hikotai (liên đội). Kokudan (Phi đội), Căn cứ Không quân Chitose, 1 liên đội gồm 5 Phi đội, Căn cứ không quânNyutabaru, 1 liên đội gồm 6 Phi đội, Căn cứ không quân Komatsu, 2 liên đội gồm 7 Phi đội, Căn cứ không quân Hyakuri và 1 liên đội gồm 8 Phi đội, Căn cứ không quân Tsuiki. Tháng 6 năm 2007, Không lực Phòng vệ Nhật Bản đã quyết định nâng cấp một số chiếc F-15 với radar mở nhân tạo; những chiếc máy bay này sẽ thay thế những chiếc RF-4 hiện đang hoạt động.[19]
 Ả Rập Saudi
  • Không quân Hoàng gia Ả Rập Saudi đã điều hành 4 liên đội F-15C/D (55/19) từ năm 1981. Chúng đóng tại các căn cứ không quân Dhahran, Khamis MushaytTaif. Một quy định trong Thỏa thuận Trại David hạn chế số lượng F-15 của Ả Rập Saudi ở con số 60, phi công của Không quân Hoàng gia Ả Rập Saudi được huấn luyện tại Căn cứ không quân Luke. Quy định giới hạn này sau đó đã được bãi bỏ.
Cờ Hoa Kỳ Hoa Kỳ

Tai nạn[sửa | sửa mã nguồn]

  • Ngày 1 tháng 5 năm 1983, trong một cuộc huấn luyện không chiến của Không quân Israel, một chiếc F-15D đã va chạm với một chiếc A-4 Skyhawk. Phi công Zivi Nadavi và phi công phụ không biết là cánh phải chiếc Eagle đã bị xé rách khoảng 60 cm khỏi thân. Phi công tìm cách duy trì điều khiển máy bay và giữ nó khỏi chòng chành, cuối cùng chiếc máy bay hỏng cũng hạ cánh an toàn. Chiếc F-15 vẫn bay được bởi lực nâng lớn được tạo ra từ bề mặt ngang rộng của máy bay, bánh lái độ cao lớn và hiệu quả của cánh còn lại. Hạ cánh ở tốc độ gấp hai bình thường để vẫn duy trì đủ lực nâng, dù móc đuôi bị giật bay mất trong quá trình hạ cánh, Zivi vẫn xoay xở khiến chiếc F-15 dừng lại hoàn toàn khi chỉ cách mép cuối đường băng 20 feet. Sau này ông đã nói rằng "(Tôi) có lẽ đã phóng ra ngoài nếu tôi biết điều gì đã xảy ra."[21][22]

Thông số kỹ thuật (F-15C Eagle)[sửa | sửa mã nguồn]

F-15 Eagle drawing.svg

Nguồn tham khảo: Jane's All the World's Aircraft[23]

Thông số chung[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đội bay: 1
  • Dài: 19,44 m (63.8 ft)
  • Sải cánh: 13 m (42.8 ft)
  • Cao: 5,6 m (18.5 ft)
  • Diện tích cánh: 56,5 m² (608 ft²)
  • Cánh máy bay: NACA 64A006.6 root, NACA 64A203 tip
  • Trọng lượng không tải: 14.100 kg (31.744 lb)
  • Trọng lượng có tải: 20.200 kg (44.500 lb)
  • Trọng lượng cất cánh tối đa: 30.845 kg (68.000 lb)
  • Động cơ: 2 × động cơ Pratt & Whitney F100-100,-220 hay -229 turbo cánh quạt có tăng áp, lực đẩy 77,62 kN (17.450 lbf); lực đẩy khi có tăng áp: 111.2 kN (25.000 lbf) đối với kiểu động cơ -220, 129.0 kN (29.000 lbf) đối với kiểu động cơ -229

Đặc tính bay[sửa | sửa mã nguồn]

  • Vận tốc cực đại:
    • Cao độ thấp: Mach 1.2 (900 mph, 1.450 km/h)
    • Cao độ cao: Mach 2.5 (1.875 mph, 3.018 km/h)
  • Tầm bay xa: 5.600 km (3.000 nm, 3.500 mi) với thùng nhiên liệu phụ
  • Trần bay: 20.000 m (65.000 ft)
  • Vận tốc lên cao: 254 m/s (50.000 ft/min)
  • Áp lực cánh: 358 kg/m² (73.1 lb/ft²)
  • Lực đẩy/khối lượng: 1.12 (-220), 1.30 (-229)

Vũ khí[sửa | sửa mã nguồn]

4 đế trên cánh, 4 đế trên thân, 2 đế đầu chót cánh, mang được tối đa 7.300 kg (16.000 lb) bom và vũ khí các loại

  • Pháo: 1× M61 Vulcan 20 mm (0.787 in) Gatling gắn trong thân, 940 quả đạn
  • Tên lửa không đối không:

Thiết bị điện tử[sửa | sửa mã nguồn]

  • Radar:
  • Thiết bị phòng thủ:
    • Bộ phân tích tín hiệu AN/APX-76 IFF
    • Bộ radar cảnh báo AN/ALQ-128
    • Radar cảnh báo tiếp nhận AN/ALR-56
    • Hệ thống phòng thủ bên trong ALQ-135
    • Bộ phát pháo sáng AN/ALE-45

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ "F-15E Eagle." Aerospaceweb.org. Retrieved: 27 February 2012.
  2. ^ Ben-David, Alon. "Boeing unveils Silent Eagle." Jane's Information Group, 18 March 2009. Retrieved: 2 September 2011.
  3. ^ http://www.defense-aerospace.com/dae/articles/communiques/FighterCostFinalJuly06.pdf
  4. ^ http://nation.time.com/2013/04/02/costly-flight-hours/
  5. ^ "In July 1967 at the Domodedovo airfield near Moscow, the Soviet Union unveiled a new generation of combat aircraft.. condenamed [sic] Foxbat by NATO.": Development in Modern Fighting Aircraft, 1983
  6. ^ RAND report, "Return of the Air Superiority Fighter."
  7. ^ F-15J page on globalsecurity.org
  8. ^ F-15 In Service on vectorsite.net
  9. ^ Ilyin 2000, pp. 36-37
  10. ^ Gordon 1997, p. 53.
  11. ^ Cooper, Tom. "Operation Samarrah", October 2010
  12. ^ a ă US Air Force Historical Research Agency.
  13. ^ Patrolling Iraq's Northern Skies.
  14. ^ “Biographies: Major General Wilbert D. "Doug" Pearson Jr.”. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 2 năm 2004.  Đã bỏ qua tham số không rõ |accessyear= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |accessmonthday= (trợ giúp)
  15. ^ The F-15 ASAT story
  16. ^ Air Force Will Get New Bomber, Upgrades To Fighters, Spacewar.com, 5 October 2006.
  17. ^ Making the Best of the Fighter Force, Air Force magazine, March 2007.
  18. ^ Gething 1983
  19. ^ "Lockheed Martin to Upgrade Radar for Reconnaissance Version of Japan's F-15", Lockheed Martin press release, June 19, 2007.
  20. ^ a ă “USAF fact sheets: F-15 Eagle”. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 10 năm 2003. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2006. 
  21. ^ “NO WING F15 - CREW STORIES - USS BENNINGTON”.  Đã bỏ qua tham số không rõ |accessyear= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |accessmonthday= (trợ giúp)
  22. ^ “F-15 flying with one wing by an Israeli pilot”. 
  23. ^ Jane's All the World's Aircraft. 
  • Braybrook, Roy. F-15 Eagle. London: Osprey Aerospace, 1991. ISBN 1-85532-149-1.
  • Crickmore, Paul. McDonnell Douglas F-15 Eagle (Classic Warplanes series). New York: Smithmark Books, 1992. ISBN 0-8317-1408-5.
  • Drendel, Lou. Eagle (Modern Military Aircraft Series). Carrollton, Texas: Squadron/Signal Publications, 1985. ISBN 0-89747-168-1
  • Drendel, Lou and Carson, Don. F-15 Eagle in action. Carrollton, Texas: Squadron/Signal Publications, 1976. ISBN 0-89747-023-0.
  • Fitzsimons, Bernard. Modern Fighting Aircraft, F-15 Eagle. London: Salamander Books Ltd., 1983. ISBN 0-86101-182-1.
  • Gething, Michael J. F-15 Eagle (Modern Fighting Aircraft). New York: Arco, 1983. ISBN 0-668-05902-8.
  • Gething, Michael J. and Crickmore, Paul. F-15 (Combat Aircraft series). New York: Crescent Books, 1992. ISBN 0-517-06734-X.
  • Kinzey, Bert. The F-15 Eagle in Detail & Scale (Part 1, Series II). El Paso, Texas: Detail & Scale, Inc., 1978.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Máy bay có liên quan[sửa | sửa mã nguồn]

Máy bay tương tự[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]