Menandros I
|
||||||||||||||||||||||||
Menandros I Soter “Vua cứu độ” (còn được biết đến như Milinda trong sử sách Ấn Độ, được dịch là Mi Lan Đà hay Di Lan Đà) là vua của Vương quốc Ấn-Hy Lạp ở Pakistan ngày nay từ khoảng 165 hay 155 trước Công Nguyên (ngày đầu tiên mà Osmund Opearachchi và R C Senior, Opearachchi khác đưa ra).[1] Ông được xem là một trong những vị vua vĩ đại của Vương quốc Ấn-Hy Lạp. Ông còn là một nhà chinh phạt lớn, đồng thời là trong những người phương Tây đầu tiên theo đạo Phật cùng với Demetrios I của Bactria và Agathocles của Bactria.
Mục lục |
Sự bất đồng [sửa]
Giữa các học giả có sự bất đồng đáng kể về triều vua Menandros.[2] Theo Smith thì ông sống vào giữa thế kỷ II trước Công Nguyên. H. C. Raychaudhuri thì đặt ông vào thế kỷ I TCN. Trong cuốn Milinda-panha thì nói rằng Parinibbanato pancavassasate atikkante, có nghĩa là vua Milinda đã xuất hiện 500 năm sau khi đức Phật nhập diệt (parinirvana). Do đó, nói ông cai trị vào thế kỉ I TCN có lẽ hợp lý, và điều này cũng được nhiều sự kiện khác nhau hậu thuẫn.[2]
Tiểu sử [sửa]
Menandros sinh năm 183 TCN ở “Alasandra” (mà ngày nay được biết là Alexandria của Caucasus hay Alexandria bên sông Oxus), vốn là thủ đô của Kapisa của vùng Gandhara cổ đã được Alexandros Đại đế đổi tên năm 329 TCN, cách 150 km phía bắc Kabul, thủ đô nước Afghanistan ngày nay; vào theo bộ kinh "Di Lan Đà vấn đạo" thì cách Xá Kiệt 200 yojangas, và trưởng thành ở thung lũng Kabul. Có thuyết nói ông là cháu của vua Demetrios II; trở thành một tướng lĩnh anh dũng của Bactria, đã giúp vua Demetrios II đánh đuổi quân Parthia ở phía tây và uy hiếp thành Pataliputra, thủ đô Ấn Độ ở phía đông.[3]
Lên ngôi vua [sửa]
Năm 169 TCN, vua Demetrios tử trận trên đường về thủ đô đánh kẻ cướp ngôi Eucratides I. Em của Demetrios là Apollodots I là lên nối ngôi, nhưng không được bao lâu thì bại vong trong tay Eucratides năm 165 TCN. Bản thân Eucratides I bị giết năm 150 TCN.
Vua Menandros I (còn được viết là Menander) lên kế vị. Vị tân vương liền dời đô về Xá Kiệt (Sagala) và ngưng cuộc vây hãm Pataliputra do vua Demetrios khởi xướng trước kia. Khi rút về Sagala, ông có lý tưởng cai trị theo Chánh Pháp của A-dục vương. Nhờ vậy, Phật pháp được truyền bá mạnh tới cố đô Taxila, vùng Trung Á và còn xa hơn nữa.
Menandros trị vì lâu dài (35 năm) và thành đạt. Ông được thần dân ngưỡng mộ vì có tư cách đạo đức, có tài điều binh khiển tướng, cai trị công minh, không phân biệt đối xử giữa các dân tộc Hy Lạp, Phật giáo, Ấn Độ, Ấn Độ giáo và Bái Hỏa giáo (Zoroastrianism), làm cho dân giàu nước mạnh. Khi về già, nhà vua thường hay thảo luận về triết học và thần học. Ông hay tranh biện với những nhà tư tưởng của nhiều đạo phái khác nhau làm cho họ phải sững sờ trước sự hiểu biết thâm thúy của ông. Trong một cuộc tranh biện với tỳ kheo Nàgasena, ông đã giác ngộ và xin quy y đạo Phật. Vua Menandros đã cho xây một tăng viện lớn ở thủ đô Sagala dành cho Nagasena, gọi là Milindavihara. Ngoài ra, ông cũng nhiệt huyết hỗ trợ cho Phật giáo.[3]
Lãnh thổ của ông bao gồm các vùng đất tự trị của đế quốc Hy Lạp bị chia cắt của Bactria (từ các vùng đất Panjshir và Kapisa) và kéo dài tới các tỉnh Pakistan hiện đại ở NWFP, Punjab và nhiều phần đất của Himmachal Pradesh và miền đất Jammu.
Menandros và Phật giáo [sửa]
Dưới triều Menandros, Phật giáo có một địa vị rất quan trọng. Một đoạn trong bộ Mahavamsa của xứ Tích Lan đã ghi:[3]
| “ |
Nhân có lễ đặt đá cho việc xây Đại Tháp tại Anuradhapura ở Sri-Lanka, một phái đoàn tăng già Hy-lạp (tiếng Pali: Yona) gồm 30 ngàn người dẫn đầu bời đại sư Mahadhammarakkhita (Sanskrit: Mahadharmaraksita) đã đến từ Alasandra |
” |
|
—Mahavamsa - XXIX |
||
Bộ kinh Di Lan Đà vấn đạo [sửa]
Người ta cho rằng bộ kinh "Di Lan Đà vấn đạo" (Milinda Panha) đã được khẩu tập ít lâu sau khi quốc vương Menandros I qua đời. Thời gian ấy các vua kế vị là nữ hoàng Agathocleia rồi vua Strabo I Soter ở ngôi khoảng 40 năm nữa, trước khi xứ Bactria bị chia cắt thành nhiều vương quốc.[3]
Nội dung của bộ kinh này nói về những câu đối đáp giữa vua Menandros I và tỳ kheo Nàgasena. Sau đó, bộ "Di Lan Đà vấn đạo" đã được kết tập ở vùng Bắc Ấn vào khoảng giữa thế kỷ I.[3]
Đặc điểm của bộ kinh này là được xem như một cuộc giao lưu đầu tiên giữa người Âu-Á, cũng như cuộc học đạo giữa một người phương Tây (vua Menandros) với văn hóa Hy Lạp muốn học hỏi giáo pháp uyên áo của đạo Phật phương Đông qua sự giải đáp của một vị tăng (tỳ kheo Nàgasena) ở thung lũng sông Ấn. Qua đó Phật pháp được trình bày một cách thuyết phục và dễ nhớ.[3]
Vốn là người dòng dõi Hy Lạp, quốc vương Menandros đã hỏi khá nhiều câu hỏi mà người phương Tây thường thắc mắc về những đề tài rất cấp thiết đại loại như “Nếu không có linh hồn thì cái gì sẽ tái sanh?”, hoặc là “Nếu không có cái ta thì ai đang trò chuyện với ngài”, cho nên đối với những người Âu muốn tìm hiểu Phật pháp, bộ kinh "Di Lin Đà vấn đạo" rất gần gũi.[3]
Các đồng tiền của Menandros I [sửa]
Bộ sưu tập cổ vật của Mir Zakah gồm 521 đồng tiền dưới triều Menandros đã được công bố gần đây cho thấy nội thương phát triển thịnh vượng trong triều đại lâu dài của Menandros.[3] Nhiều đồng tiền đã được khai quật ở Afghanistan đến Trung Ấn đều có khắc hình Menandros qua nhiều thời kì, từ lúc trẻ đến già cùng với bánh xe pháp. Những đồng tiền khắc chân dung của ông mang dòng chữ “Vua cứu độ Menandros” bằng chữ Hy Lạp Basileos Sothros Menandroy ở một mặt, còn mặt kia thì mang dòng chữ “Maharajasa Dharmika Menandrasa” (Đức vua vĩ đại Menandros truyền bá Phật giáo) bằng chữ Prakrit và Kharoshthi.[3]
Qua đời [sửa]
Theo văn học truyền thống của Phật giáo thì sau khi hỏi đạo với ngài Na-tiên, ông đã truyền ngôi cho con và lui về ẩn ở tăng viện, hay nói cách khác xuất gia, tu học và chứng thánh quả của A-la-hán.[4]
Tuy nhiên, theo sử gia Plutarch thì Menandros qua đời ở một lều nhỏ trên chiến trường, trong một cuộc viễn chinh tái chiếm Bactria bất thành vào khoảng năm 130 TCN. Plutarch xem ông là ví dụ về một vị quốc vương được lòng dân, khác với tên bạo chúa đáng ghét Dionysius. Cụ thể hơn, Plutarch (Praec. reip. ger. 28, 6) đã viết về vua Menandros như sau:[3]
| “ |
Ông là một vị vua nổi danh rất chính trực và được lòng dân đến độ khi ông mất trên trận tiền, nhiều thành phố đã tranh nhau tro cốt của ông; sau cùng đã đồng ý chia đều để mang về tôn thờ ở các ngôi tháp lớn. |
” |
|
—Plutarch |
||
Sau khi vua Menandros qua đời, vương quốc của ông bị chia cắt.[3]
Danh tiếng [sửa]
Ông là một trong số ít vị vua Bactria được các học giả Hy-La đề cập đến, trong số họ có Appollodorus của Artemita. Nhà sử học La Mã Trogus Pompeius đã đề cập đến các vua Appolotus và Menandros I trong bộ sử khá dày của ông ta. Ngoài ra, hai nhà sử học nổi tiếng người Hy Lạp là Strabo và Plutarch cũng viết khá nhiều về công đức của vua Menandros, cho thấy ông không chỉ nổi danh ở Tiểu Á và vùng Tây Bắc Ấn mà còn được đề cập trong thế giới Hy Lạp và La Mã cổ đại.[3]
Theo Strabo (XI. 516), Menandros còn chinh phạt được nhiều bộ lạc hơn cả Alexandros Đại đế trước kia, khi ông vượt dãy Hipanis về phía đông để tiến đến Isamus. Ông còn chiếm xứ Patalene ở đầu lưu vực sông Ấn, đến bờ biển Saraostes, và bành trướng đến Seres (Trung Hoa) và Phryni[3]. Menandros và Demetrios I là hai vị vua Bactria đã mở rộng quyền lực của mình xa nhất tới Ấn Độ.[5]
Địa lý [sửa]
Vào thời hậu cổ đại, từ khoảng trước thế kỷ I, từ “Menander Mons”, hay “các ngọn núi của Menander”, đã trở thành tên gọi của một dãy núi ở miền viễn đông của tiểu lục địa Ấn Độ, tức Các ngọn đồi Naga và Arakan ngày nay, được đề cập trong bản đồ thế giới Ptolemaeus của nhà địa lý học Ptolemaeus ở thế kỉ I.
| Tiền nhiệm: Demetrios II của Ấn Độ |
Vua Ấn-Hy Lạp (Paropamisadae, Arachosia, Gandhara, Punjab) 155/150-130 TCN |
Kế nhiệm: (Ở Paropamisadae, Arachosia:) Zoilos I (Ở Gandhara, Punjab:) Agathokleia |
Ghi chú [sửa]
- ^ Bopearachchi (1989) và (1991), respectively Bopearachchi keeps his earlier date as an alternative.
- ^ a b Tôn giáo & văn minh nhân loại: 2500 Phật giáo
- ^ a b c d e f g h i j k l m Những hộ pháp vương Phật giáo
- ^ Giác Dũng, Đức Phật là bậc Nhất thiết trí - tu viện Quảng Đức
- ^ Strabo, Geography, nguyên văn bằng tiếng Anh: “The Greeks who caused Bactria to revolt grew so powerful on account of the fertility of the country that they became masters, not only of Ariana, but also of India, as Apollodorus of Artemita says: and more tribes were subdued by them than by Alexander-- by Menander in particular (at least if he actually crossed the Hypanis towards the east and advanced as far as Imaüs), for some were subdued by him personally and others by Demetrius I, the son of Euthydemus the king of Bactrians; and they took possession, not only of Patalena, but also, on the rest of the coast, of what is called the kingdom of Saraostus and Sigerdis. In short, Apollodorus says that Bactriana is the ornament of Ariana as a whole; and, more than that, they extended their empire even as far as the Seres and the Phryni.”
Xem thêm [sửa]
Tài liệu tham khảo [sửa]
- "Monnaies Gréco-Bactriennes et Indo-Grecques, Catalogue Raisonné", Osmund Bopearachchi, 1991, Bibliothèque Nationale de France, ISBN 2-7177-1825-7
- Trần Trúc-Lâm-Những hộ pháp vương của Phật-giáo trong lịch sử Ấn-Độ, Nhà xuất bản Phương Đông 2007
- Tôn giáo & văn minh nhân loại: 2500 năm Phật giáo, Gs. P. V. Bapat chủ biên, Người dịch: Nguyễn Đức Tư - Hữu Song. Chương VIX: Một số tín đồ Phật giáo nổi tiếng sau A-dục vương
Liên kết ngoài [sửa]
| Bản mẫu:Chủ đề La Mã và Hy Lạp cổ đại |