Miền Trung Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Bước tới: menu, tìm kiếm

Miền Trung Việt Nam hay Trung Bộ (trước kia còn được gọi bằng các tên khác nhau trong lịch sử là Trung phần (thời Việt Nam Cộng hòa), Trung Kỳ (thời Pháp-thuộc), và An Nam (theo người Pháp) là một trong ba vùng chính của Việt Nam (Bắc Bộ, Trung Bộ, Nam Bộ) và là vùng ở giữa. Tây Nguyên thường được gộp vào Trung Bộ. Đôi khi có tài liệu gọi vùng này bằng tên ghép Miền Trung-Tây Nguyên. Tên gọi Trung Bộ được dùng từ sau khi vua Bảo Đại thành lập cơ quan hành chính cấp vùng cao hơn tỉnh vào năm 1945, thay cho tên gọi Trung Kỳ gợi nhớ thời kỳ bị Pháp đô hộ. Tên gọi này được các tài liệu chính thức của chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sử dụng. Tên gọi này cũng được nhiều người sử dụng cho đến ngày nay.

Ngoài ra còn có một danh xưng khác là Trung phần, phát xuất từ việc vào năm 1949, Quốc trưởng Quốc gia Việt Nam Bảo Đại cho thành lập cơ quan hành chính cấp Phần, với chức năng tương đương cấp Bộ năm 1945. Về sau, chính phủ Việt Nam Cộng hòa cũng thường dùng danh xưng này cho đến tận khi sụp đổ vào năm 1975. Sắc lệnh số 143-A/TTP của Phủ Tổng thống Việt Nam Cộng hòa ngày 23/10/1956 đã quy định gọi Bắc Việt, Trung Việt, Nam Việt tương ứng là Bắc Phần, Trung Phần, Nam Phần. Tây Nguyên được Việt Nam Cộng hòa gọi là Cao nguyên Trung phần (trước đó gọi là Cao nguyên Miền Nam). Theo Sắc lệnh số 147-A/NV của Tổng thống Việt Nam Cộng hòa ngày 24/10/1956 thì Trung Phần gồm Cao nguyên Trung phần và Trung nguyên Trung phần.

Mục lục

[sửa] Vị trí

Theo cách phân chia địa lý kinh tế hiện nay của nhà nước Việt Nam thì Trung Bộ phía bắc giáp các tỉnh Ninh Bình, Hòa BìnhSơn La của vùng Bắc Bộ, phía nam giáp các tỉnh Bình Phước, Đồng NaiBà Rịa-Vũng Tàu của vùng Nam Bộ. Phía Đông là Biển Đông, trải dài hàng ngàn kílô mét; phía Tây giáp CampuchiaLào.

[sửa] Các tiểu vùng

Miền Trung được chia làm 2 tiểu vùng:

Hai vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải Nam Trung Bộ được gọi chung là Duyên hải miền Trung. Khối núi Bạch Mã, nơi có đèo Hải Vân được coi là ranh giới giữa Bắc và Nam Trung Bộ.

Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ có khi được gọi tắt là Nam Trung Bộ, khiến cho nhiều người hiểu là Nam Trung Bộ và Tây Nguyên tách riêng, từ đó một số tài liệu cũng gọi tách ra như vậy.

[sửa] Các đơn vị hành chính

[sửa] Thời nhà Nguyễn

Vua Gia Long đã chia cả nước Việt Nam thành 23 trấn và 4 doanh thì miền Trung có 7 trấn (1808) và 4 doanh:

  • 7 trấn: Thanh Hoá, Nghệ An, Quảng Nghĩa, Bình Định, Phú Yên, Bình Hòa, Bình Thuận. Sau này Quảng Nghĩa do kỵ húy Nguyễn Phúc Toản nên đổi thành Quảng Ngãi.
  • Đất kinh kỳ đặt 4 doanh (dinh): Quảng Đức doanh, Quảng Trị doanh, Quảng Bình doanh, Quảng Nam doanh. Dinh Quảng Nam năm 1808 đổi thành trấn Quảng Nam, dinh Quảng Đức năm 1821 đổi thành phủ Thừa Thiên.

Năm 18311832 vua Minh Mạng bỏ các trấn, đặt ra tỉnh. Miền Trung bao gồm 11 tỉnh và 1 phủ (ngang cấp tỉnh) trong tổng số 30 tỉnh, 1 phủ của cả nước: Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị (5 tỉnh này lập ra năm 1831, các tỉnh còn lại lập ra năm 1832), Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Khánh Hòa, Phú Yên, Bình Thuận. Ngoài ra vẫn tồn tại phủ Thừa Thiên. Thời kỳ 1853-1876, tỉnh Quảng Trị đổi thành đạo Quảng Trị, thuộc phủ Thừa Thiên, sau đó lại khôi phục tỉnh Quảng Trị. Từ ngày 6 tháng 6 năm 1884, miền Trung có 12 tỉnh, trong đó tỉnh mới là Thừa Thiên.

[sửa] Thời kỳ 1945-1975

Năm 1946, Trung Bộ có 21 tỉnh thành (trong đó có 3 thành phố) trong tổng số 72 tỉnh thành của cả nước. Đó là 18 tỉnh: Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Khánh Hòa, Phú Yên, Phan Rang, Bình Thuận, Kon Tum, Plây Cu, Lâm Viên (Lang Bian/Biang), Đắc Lắc, Đồng Nai Thượng và 3 thành phố: Vinh-Bến Thủy, Huế, Đà Nẵng.

Thời kỳ 1954-1975 Trung Bộ bị chia cắt tại sông Bến Hải (khu phi quân sự theo Hiệp định Genève). Phía bắc thuộc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có 4 tỉnh: Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình và khu vực Vĩnh Linh (vốn thuộc tỉnh Quảng Trị). Phía nam thuộc Việt Nam Cộng hòa gồm 17 tỉnh theo cách chia của Việt Nam Cộng hòa: Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Tín, Quảng Ngãi, Bình Định, Khánh Hòa, Phú Yên, Ninh Thuận, Bình Thuận, Kon Tum, Pleiku, Phú Bổn, Darlac, Quảng Đức, Tuyên Đức, Lâm Đồng.

[sửa] Từ khi đất nước thống nhất

Từ năm 1976 cho tới năm 1989, Trung Bộ có 10 tỉnh trong tổng số 38 (từ năm 1979 là 40) tỉnh thành của cả nước: Thanh Hoá, Nghệ Tĩnh, Bình Trị Thiên, Quảng Nam-Đà Nẵng, Nghĩa Bình, Phú Khánh, Thuận Hải, Gia Lai-Kon Tum, Đắc Lắc, Lâm Đồng.

Năm 1989, theo Nghị quyết của Quốc hội khóa VIII, kỳ họp thứ 5 ngày 30/6/1989, tỉnh Bình Trị Thiên tách ra làm 3 tỉnh Quảng Bình, Quảng TrịThừa Thiên-Huế, tỉnh Nghĩa Bình tách ra thành 2 tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, tỉnh Phú Khánh tách ra thành 2 tỉnh Phú Yên, Khánh Hòa, nên Trung Bộ có 14 trong tổng số 44 tỉnh thành của cả nước.

Năm 1991, tỉnh Nghệ Tĩnh tách ra thành 2 tỉnh Nghệ AnHà Tĩnh, tỉnh Gia Lai-Kon Tum tách ra thành 2 tỉnh Gia Lai, Kon Tum (theo Nghị quyết của Quốc hội khóa VIII, kỳ họp thứ 9 ngày 12/8/1991), tỉnh Thuận Hải tách ra thành 2 tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận (theo Nghị quyết của Quốc hội khóa VIII, kỳ họp thứ 10 ngày 26/12/1991), nên Trung Bộ có 17 tỉnh trong tổng số 53 tỉnh thành của cả nước.

Năm 1996, theo Nghị quyết của Quốc hội khóa IX, kỳ họp thứ 10 ngày 6/11/1996, tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng tách ra thành tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng, đưa số tỉnh của Trung Bộ lên 18 tỉnh trong tổng số 61 tỉnh thành của cả nước.

Năm 2004, tỉnh Đắc Lắc tách ra thành 2 tỉnh Đắc Lắc mới và Đắc Nông, nên Trung Bộ có 19 tỉnh thành.

Hiện nay Trung Bộ có 19 tỉnh thành trong tổng số 63 tỉnh thành của cả nước: Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế, thành phố Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Khánh Hòa, Phú Yên, Ninh Thuận, Bình Thuận, Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Lâm Đồng, Đắc Nông.

[sửa] Xem thêm

[sửa] Liên kết ngoài


Công cụ cá nhân
Ngôn ngữ khác