Mikhail Mikhailovich Bakhtin

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Mikhail Mikhailovich Bakhtin

Mikhail Mikhailovich Bakhtin (Tiếng Nga: Михаил Михайлович Бахти́н, 1895-1975) là nhà nghiên cứu khoa học xã hội, khoa học nhân văn lỗi lạc của Liên Xô (cũ), nổi tiếng với những tác phẩm nghiên cứu về triết học Marx, văn họcmỹ học trong đó được biết đến nhiều nhất trong giới nghiên cứu về sau là Sáng tác của François Rabelais và nền văn hóa dân gian thời Trung cổ-Phục hưng, và Thi pháp tiểu thuyết Dostoevski.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Mikhail Mikhailovich Bakhtin sinh ngày 16 tháng 11 năm 1895 trong một gia đình quý tộc dòng dõi nhưng đang trong giai đoạn sa sút. Bị sơ nhiễm bệnh bại liệt và suốt cuộc đời về sau hầu như ông chỉ ngồi trên chiếc xe lăn nhưng từ nhỏ Bakhtin đã sớm say mê văn học và khoa học nhân văn và tỏ rõ thiên hướng nghiên cứu khoa học. Sau khi tốt nghiệp phổ thông trung học, năm 1913, Bakhtin theo học khoa Lịch sử-Ngữ văn thuộc Trường đại học tổng hợp Sankt-Peterburg và tốt nghiệp trường ngày vào năm 1918. Trong những năm nội chiến 1918-1922, ông về dạy học ở Vitebsk và đến năm 1923 thì trở lại Peterburg. Cùng thời gian này những người hâm mộ tài năng của Bakhtin đã bắt đầu tập hợp quanh ông tạo thành một nhóm vừa là bạn bè vừa là học trò, mà với họ ông không chỉ truyền thụ những kiến thức uyên thâm của mình, mà còn hào phóng ban phát những tư tưởng khoa học cách tân, hợp tác với họ viết một số công trình, thậm chí mượn tên họ để công bố một loạt sách và bài nghiên cứu do ông sáng tác hầu như từ đầu đến cuối[1]. Tuy viết nhiều và hoạt động sôi nổi nhưng phải đến năm 1929, khi đã 34 tuổi, Bakhtin mới cho in cuốn sách đầu tiên mang tên mình, cuốn Những vấn đề của sáng tác Dostoevski (sau này tái bản có sửa chữa và bổ sung dưới tên Những vấn đề thi pháp Dostoevski). Tuy vậy, sự mỉa mai của số phận đã khiến tác giả không được thấy mặt cuốn sách khi công bố lần đầu: do tham gia một nhóm nghiên cứu tôn giáo, ông bị kết án phạm tội chính trị và tuyên phạt 10 năm tù khổ sai, và chỉ nhờ những người thân lo liệu nhà đương cục giảm án mới được rút xuống thành 5 năm lưu đày tại Bắc Kazakhstan. Phải đến tận năm 1966, tòa án tối cao Cộng hòa Liên Bang Nga mới xét lại và phục hồi danh dự cho tất cả những người bị kết tội.

Từ giữa những năm 1930 khi hết hạn lưu đày, Bakhtin được trở về Moskva và tại đây, trong vòng 5 năm ông đã viết một loạt công trình về thể loại tiểu thuyết (được in vào những năm 70 nhưng cũng đã có công trình thất truyền) và hoàn thành về cơ bản chuyên khảo về François Rabelais và văn hóa trào tiếu dân gian. Bạn bè của ông đang cố gắng thu xếp cho ông bảo vệ công trình này như một luận án tiến sĩ thì cuộc chiến tranh chống phát xít Đức bùng nổ. Bakhtin phải về một vùng nông thôn Trung Nga, và dạy ngoại ngữ cho một trường phổ thông ở đấy trong 5 năm.

Năm 1947 sau chiến tranh, Bakhtin trở lại Moskva, bảo vệ công trình trác việt về Rabelais nhưng chỉ được phong học vị phó tiến sĩ. Nhờ có học hàm tối thiểu này ông được nhận vào làm giảng viên trong biên chế của trường Đại học Sư phạm (từ năm 1950 đổi thành Đại học Tổng hợp) ở Saransk, thủ phủ nước Cộng hoà tự trị Mordovia trong Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô Viết Liên bang Nga (nay là Liên Bang Nga). Từ đó cho đến 1960, Bakhtin tham gia dạy văn học nước ngoài ở trường đại học, và sau 1960 ông nghỉ hưu.

Cho đến năm 1963, tên tuổi Bakhtin hoàn toàn bị quên lãng ở Liên Xô, nhưng đến cuối 1963, từ một bức thư ngỏ thống thiết của một nhóm nhà văn và nhà khoa học có tên tuổi, công trình của ông về Dostoevski được tái bản và sau đó hai năm, Sáng tác của François Rabelais với văn hóa dân gian Trung đại và Phục hưng ra mắt độc giả. Tên tuổi Bakhtin mau chóng trở nên lừng lẫy, thậm chí thời thượng ở Liên Xô, rồi cả trên trường quốc tế. Tuy nổi tiếng, giai đoạn này Bakhtin vẫn sống trong nghèo túng, trong bệnh tật và tuổi già tại Saransk. Khi vợ Bakhtin qua đời năm 1970, nhờ bạn bè thân hữu giúp đỡ ông đã trở lại Moskva, ngụ cư tại nhà sáng tác của Hội nhà văn Liên Xô ở Peredelkino cho đến khi ông mất ngày 7 tháng 3 năm 1975.

Tác phẩm chính[sửa | sửa mã nguồn]

Trong suốt cuộc đời phải chiến đấu với bệnh tật và cả những định kiến chính trị cũng như những rào cản nhận thức của thời đại, M. Bakhtin vẫn để lại một di sản khoa học xã hội-nhân văn đồ sộ trong đó nổi tiếng nhất có thể kể đến bao gồm

  1. Những vấn đề thi pháp Dostoevski được xuất bản lần đầu với tên Những vấn đề sáng tác Dostoevski năm 1929 và được tái bản có sửa chữa, bổ sung (nhưng không làm thay đổi những nội dung cốt yếu) vào các năm 1963, 1967, 1979. Tác phẩm kết tinh những giá trị tinh hoa trong phương pháp tư duy của Bakhtin và đem ứng dụng vào nghiên cứu một trong những sáng tác phức tạp nhất của văn học Nga, hiện tượng Dostoevski[2]. Tác phẩm này đã đem lại một cái nhìn mới mẻ không chỉ đối với sáng tác của nhà văn hiện thực Dostoevski mà còn đối với văn học nghệ thuật nói chung, đối với mối quan hệ giữa văn học và hiện thực nói riêng[3]. Chuyên luận đã phân tích thi pháp tiểu thuyết của Dostoevski, đưa ra quan điểm Dostoevski "như một thiên tài đã sáng tạo ra một dạng tiểu thuyết hoàn toàn mới chưa từng có trước đó trong văn học Nga cũng như văn học thế giới"[4] mà ông gọi một cách ước lệ là "tiểu thuyết đa thanh"[5];
  2. Sáng tác của François Rabelais và văn hóa dân gian thời Trung cổ và Phục hưng (1965)[6];
  3. Những vấn đề văn học và mỹ học (1975) được viết từ năm 1924 với bài "Vấn đề nội dung, chất liệu và hình thức trong sáng tạo nghệ thuật ngôn từ". Đây là bản phác thảo đầu tiên hệ thống "mỹ học nghệ thuật ngôn từ" của Bakhtin. Hệ thống này trong những đường nét chung đã hình thành ở Bakhtin từ đầu những năm 20 thế kỷ trước trong cuộc tranh luận với trường phái hình thức chủ nghĩa Nga[7]. Về sau, công trình tiếp tục được bổ sung dần dần qua hơn một nửa thế kỷ với các bài "Tác giả và nhân vật trong hoạt động thẩm mỹ" (1925 - 1926), "Phương pháp hình thức trong nghiên cứu văn học", "Vấn đề những thể loại hành ngôn", "Vấn đề văn bản trong ngôn ngữ học", "ngữ văn học và các khoa học nhân văn khác", "Về phương pháp luận của các khoa học nhân văn" (1960 - 1970);
  4. Mỹ học sáng tác ngôn từ (1979);
  5. Những bài báo phê bình văn học (1986).

Ngoài ra còn có ít nhất ba công trình lớn xuất bản vào những năm 1920 được xác nhận về cơ bản là của Bakhtin, nhưng lại mang tên những học giả khác thuộc nhóm ông bao gồm Học thuyết Freud (ký tên: V.N. Voloshinov), Phương pháp hình thức trong nghiên cứu văn học (ký tên: P.N. Medvedev), Chủ nghĩa Mác và triết học ngôn ngữ (ký tên: V.N. Voloshinov). Những công trình đó bao quát một phạm vi nghiên cứu triết học, mỹ học và lý luận văn học rộng lớn của một nhà bác học tầm cỡ thế giới, bao gồm những vấn đề về nội dung và hình thức, thi pháp học lịch sử, thi pháp học tác giả, lý luận về tiểu thuyết, lý luận về ngôn từ văn học, lý luận văn bản, lý luận về tác giả...[8].

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Mikhail Mikhailovich Bakhtin, Tiểu dẫn tác giả (Phạm Vĩnh Cư), trong cuốn Lí luận-phê bình văn học thế giới thế kỷ XX, (Lộc Phương Thủy chủ biên), tập 1, NXB Giáo dục, H. 2007, trang 376.
  2. ^ Lời nói đầu của GS. Trần Đình Sử, trong cuốn M. Bakhtin, Những vấn đề thi pháp Đôxtôiepxki (Trần Đình Sử dịch, Lại Nguyên Ân và Vương Trí Nhàn giúp dịch chương IV), NXB Giáo dục, H. 1993, trang 5.
  3. ^ GS. Trần Đình Sử, sách đã dẫn, trang 6.
  4. ^ GS. Trần Đình Sử, trích "Chương I: Tiểu thuyết đa thanh của Đôxtôiepxki và việc lý giải nó trong phê bình văn học", sách đã dẫn, trang 15.
  5. ^ Theo PGS.TS. Phạm Vĩnh Cư, thuật ngữ này phải được dịch là "tiểu thuyết phức điệu" mới chính xác. Cần phân biệt "phức điệu" (polyphonisme) với "đa thanh" (polyphonie), Bakhtin sử dụng cả hai thuật ngữ âm nhạc này. Trong âm nhạc, "phức điệu" đối lập với "chủ điệu" (homophonie), cả nhạc phức điệu lẫn nhạc chủ điệu đều đa thanh (nhiều bè) nhưng trong nhạc phức điệu tất cả các bè đều bình đẳng, có giá trị như nhau, còn trong nhạc chủ điệu thì có bè chính và có bè phụ, đệm. Trong hệ thống khái niệm của Bakhtin, "phức điệu" là "đa thanh" ở mức độ phát triển cao nhất... Toàn bộ văn xuôi nghệ thuật, theo Bakhtin, có chất đa thanh, chất đối thoại. Nhưng chất phức điệu, nguyên tắc phức điệu lần đầu tiên xuất hiện trong tiểu thuyết của Đôxtôijeviski"
  6. ^ Xin xem bản dịch Việt văn của PGS.TS. Phạm Vĩnh Cư tại đây [1], hoặc trong cuốn M. Bakhtin, Lý luận và thi pháp tiểu thuyết (Phạm Vĩnh Cư tuyển chọn, dịch và giới thiệu), NXB Hội nhà văn, in lần thứ 2, H. 2003.
  7. ^ Tuy nhiên, sự khác biệt có tính nguyên tắc giữa Bakhtin và trường phái hình thức chủ nghĩa Nga (và cả chủ nghĩa cấu trúc trong nghiên cứu văn học sau này) có thể được diễn đạt thật ngắn gọn như sau: nếu các nhà hình thức chủ nghĩa quy nội dung tác phẩm văn học về hình thức, còn hình thức thì lại được họ xem như là sự "tổ chức chất liệu", thành thử tác phẩm được quan niệm như là "chất liệu được tổ chức", thì Bakhtin khẳng định và chứng minh thể thống nhất không thể tách rời, nhưng cũng không hòa đồng giữa nội dung, chất liệu và hình thức trong tác phẩm nghệ thuật ngôn từ (Chú dẫn trong Lời nói đầu của Phạm Vĩnh Cư, trong cuốn M. Bakhtin, Lý luận và thi pháp tiểu thuyết (Phạm Vĩnh Cư dịch), NXB Hội Nhà văn, H. 2003. Trang 12)
  8. ^ Lời nói đầu của GS. Trần Đình Sử, trong cuốn M. Bakhtin, Những vấn đề thi pháp Đôxtôiepxki (Trần Đình Sử dịch, Lại Nguyên Ân và Vương Trí Nhàn giúp dịch chương IV), NXB Giáo dục, H. 1993, trang 5

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • M. Bakhtin, Những vấn đề thi pháp Đôxtôiepxki (Trần Đình Sử dịch, Lại Nguyên Ân và Vương Trí Nhàn giúp dịch chương IV), NXB Giáo dục, H. 1993.
  • Mikhail Mikhailovich Bakhtin, Tiểu dẫn tác giả (Phạm Vĩnh Cư) và bài Vấn đề nội dung, chất liệu và hình thức trong sáng tạo nghệ thuật ngôn từ (Phạm Vĩnh Cư dịch). Trong cuốn Lí luận-phê bình văn học thế giới thế kỷ XX (Lộc Phương Thủy chủ biên), tập 1, NXB Giáo dục, H. 2007, trang 376-380.
  • M. Bakhtin, Lý luận và thi pháp tiểu thuyết (Phạm Vĩnh Cư tuyển chọn, dịch và giới thiệu), NXB Hội nhà văn, in lần thứ 2, H. 2003. Chương Tiểu thuyết phức điệu của Đôxtôiepxki, trang 259-351.