Tháp giáo đường ở Jam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Minaret ở Jam)
Bước tới: menu, tìm kiếm

Tọa độ: 34°23′48″B, 64°30′58″Đ

Tháp giáo đường và các di chỉ khảo cổ vùng Jam
Welterbe.svg Di sản thế giới UNESCO
Minaret tại Jam và Qasr Zarafshan, tháng 8 năm 2005
Quốc gia  Afghanistan
Kiểu Văn hoá
Hạng mục ii, iii, iv
Tham khảo 211
Vùng UNESCO Châu Á - Châu Đại Dương
Lịch sử công nhận
Công nhận 2002 (kì thứ 26)
Bị đe dọa 2002-

Tháp giáo đường ở Jam là một tháp giáo đường nằm ở phía Tây của Afghanistan, được xây gần sông Hari và chung quanh là núi đá. Minaret này nằm tại huyện Shahrak trong tỉnh Ghor. Toà tháp này cùng các di chỉ khảo cổ xung quanh đã được UNESCO công nhận là di sản thế giới vào năm 2002.

Tòa tháp Minaret cao 65m được xây dựng vào thế kỷ 12 sau công nguyên, tòa tháp xây bằng gạch với phần chữ chạm màu xanh ở trên đỉnh. Tòa tháp mang đầy đủ những đặc điểm về kiến trúc, văn hóa và nghệ thuật của thời kỳ và vùng đất xây dựng. Tuyệt tác của tháp chính là vị trí nằm ở con sông bên dưới thung lũng với vách núi phía sau tòa tháp. Đặc biệt là tháp nằm ngay ở trung tâm của tỉnh Ghour.

Tòa tháp là đại diện tiêu biểu cho nền văn hóa Hồi Giáo với lối kiến trúc và trang trí. Tòa tháp chính là chứng nhân cho sự thịnh vượng của triều đại Ghurid cực thịnh vào thế kỷ 12, đánh dấu những chiến công của các Sultan (hoàng đế) ở đất nước thuộc lục địa tiểu ấn này.

Tòa tháp được xây trên bệ cao 9m và từ lúc xây dựng đến nay vẫn chưa hề qua một lần trùng tu hay sửa chữa nào cả. Qua thời gian dài bị quên lãng cho đến khi tòa tháp được phát hiện bởi nhà thám hiểm người Anh Thomas Holdich vào năm 1886 và được thế giới biết đến vào năm 1956 qua những nghiên cứu của hai nhà khảo cổ học người Pháp André Maricq và Wiet. Herberg, tòa tháp đã bắt đầu xuống cấp và được UNESCO đưa vào danh sách các di sản "lâm nguy" năm 2005.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Jam minartet clear white ghorid empire2009.jpg
Timurid conqueror Babur advances through Jam and the mountains to Kabul.

Tháp giáo đường ở Jam có lẽ nằm ở vị trí từng là thủ đô của Vương triều Ghurid, Firozkoh. Trong thế kỷ 12 và 13, lãnh thổ của vương triều này gồm phần bây giờ là Afghanistan và cả phía đông Iran, phía bắc Ấn Độ và một phần của Pakistan[1].

Các mô tả bằng tiếng Ả Rập về ngày dựng nên tháp giáo đường này không rõ ràng, có thể là 1193-94 hoặc 1174-75. Theo một giả thuyết thì nó kỉ niệm chiến thắng của sultan Ghurid là Ghiyas ud-Din trước quân Ghaznevid vào năm 1186 ở Lahore.[2] Tuy nhiên, một nhà khảo cổ người Anh và là giám đốc của Viện nghiên cứu Afghanistan của Anh, Ralph Pinder-Wilson, trong một nghiên cứu về tháp giáo đường ở Jam và Ghazni ở thập niên 1970 đã cho rằng tháp giáo đường này được xây dựng để kỉ niệm chiến thắng của em trai của Ghiyath ud-Din là Muhammad của Ghor trước Prithviraj Chauhan để có thể mở rộng phạm vi ảnh hưởng của Hồi giáo[2]. Pinder-Wilson tin rằng tháp này được xây theo phong cách của thời kì mà các tháp chiến thắng được dựng để khẳng định sức mạnh chinh phục của Hồi giáo[3].

Tháp giáo đường này được cho là có mối liên hệ với Nhà thờ Hồi giáo chính ở Firozkoh. Theo nhà chép sử của Ghurid Abu 'Ubayd al-Juzjani thì nhà thờ này đã bị cuốn trôi mất sau một trận lụt lớn, ở thời điểm trước khi quân Mông Cổ vây hãm đầu thế kỉ 13[cần dẫn nguồn]. Khi Dự án khảo cổ Tháp giáo đường ở Jam làm việc tại đây đã tìm ra các bằng chứng cho thấy một công trình có sân lớn ở bên cạnh tháp và những trầm tích của sông ở trên lớp gạch nung[4].

Thời kì thịnh trị của đế chế Ghurid kết thúc sau cái chết của Ghiyath ud-Din vào năm 1202. Lãnh thổ của đế chế này bị đế chế Khwarezm xâm chiếm. Theo Juzjani thì Firuzkuh bị người Mông Cổ phá huỷ vào năm 1222.[4].

Tháp giáo đường này ít được thế giới bên ngoài biết đến, cho tới khi Thomas Holdich có báo cáo về nó năm 1886 khi đang làm việc cho Uỷ ban biên giới Afghanistan. Tuy nhiên nó vẫn không được chú ý đến cho đến năm 1957 với công trình của các nhà khảo cổ người Pháp André Maricq[5]Gaston Wiet. Sau đó, Werner Herberg thực hiện một số nghiên cứu hạn chế ở địa điểm này trong thập niên 1970 và Ralph Pinder-Wilson hoàn tất nghiên cứu cũng trong thập niên 1970, trước khi quân Liên Xô vào Afghanistan năm 1979, cắt đứt việc nghiên cứu của các nhà khoa học phương Tây.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Minaret and Archaeological Remains of Jam”. UNESCO World Heritage Center. UNESCO. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2011. 
  2. ^ a ă Ghaznavid and Ghūrid Minarets, Ralph Pinder-Wilson, Iran, Vol. 39, 170.
  3. ^ backdoorbroadcasting, Warwick Ball: Ralph Pinder-Wilson and Afghanistan, http://backdoorbroadcasting.net/2010/01/warwick-ball-ralph-pinder-wilson-and-afghanistan/
  4. ^ a ă Minaret of Jam Archaeological Project, http://antiquity.ac.uk/ProjGall/thomas/
  5. ^ Ghaznavid and Ghūrid Minarets, Ralph Pinder-Wilson, Iran, 166.