Minazuki (tàu khu trục Nhật) (1926)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Minazuki II.jpg
Tàu khu trục Nhật Bản Minazuki vào tháng 2 năm 1927
Phục vụ (Nhật Bản) Naval Ensign of Japan.svg
Tên gọi: Tàu khu trục số 28
Hãng đóng tàu: Uraga Dock Company
Đặt lườn: 24 tháng 3 năm 1925
Hạ thủy: 25 tháng 5 năm 1926
Hoạt động: 22 tháng 3 năm 1927
Đổi tên: Tàu khu trục số 28 thành Minazuki: 1 tháng 8 năm 1928
Xóa đăng bạ: 10 tháng 8 năm 1944
Số phận: Bị tàu ngầm Mỹ đánh chìm ngày 6 tháng 6 năm 1944 ngoài khơi Tawitawi 04°05′B 119°30′Đ / 4,083°B 119,5°Đ / 4.083; 119.500
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu khu trục Mutsuki
Trọng tải choán nước: 1.315 tấn (tiêu chuẩn);
1.445 tấn (đầy tải)
Độ dài: 97,54 m (320 ft) mực nước
102,72 m (337 ft) chung
Sườn ngang: 9,16 m (30 ft)
Mớn nước: 2,96 m (9 ft 8 in)
Động cơ đẩy: 2 × Turbine hơi nước Kampon
4 × nồi hơi ống nước Ro-Gō Kampon
2 × trục
công suất 38.500 mã lực (28,7 MW)
Tốc độ: 69 km/h (37,25 knot)
Tầm xa: 6.700 km ở tốc độ 26 km/h
(3.600 hải lý ở tốc độ 14 knot)
Thủy thủ đoàn: 154
Vũ trang: 4 × hải pháo 120 mm/45 caliber Kiểu 3,
2 × súng máy 7,7 mm Kiểu 92,
2 × ống phóng ngư lôi Kiểu 12 ba nòng
(12 × ngư lôi Kiểu 8 610 mm),
18 × mìn sâu
16 × thủy lôi Ichi-Gō

Minazuki (tiếng Nhật: 水無月) là một tàu khu trục hạng nhất thuộc lớp Mutsuki của Hải quân Đế quốc Nhật Bản, bao gồm mười hai chiếc được chế tạo sau Chiến tranh Thế giới thứ nhất. Được xem là tiên tiến vào lúc đó, những con tàu này đã phục vụ như những tàu khu trục hàng đầu của Nhật trong những năm 1930, nhưng được xem là đã lạc hậu vào lúc Chiến tranh Thái Bình Dương nổ ra;[1] dù sao lớp Mutsuki vẫn được giữ lại ở tuyến đầu nhờ tầm xa hoạt động và kiểu ngư lôi mạnh mẻ mà chúng được trang bị.[2] Minazuki đã tham gia nhiều hoạt động khác nhau cho đến khi bị tàu ngầm Mỹ đánh chìm ngày 6 tháng 6 năm 1944 ngoài khơi Tawitawi.

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Việc chế tạo lớp tàu khu trục Mutsuki được chấp thuận như một phần của chương trình phát triển Hải quân Đế quốc Nhật Bản sau khi Hiệp ước Hải quân Washington có hiệu lực, và chúng được đặt hàng trong năm tài chính 1923.[3] Lớp tàu này là một phiên bản nối tiếp và cải biến dựa trên các lớp tàu khu trục lớp MinekazeKamikaze trước đó, vốn chia sẻ nhiều đặc tính thiết kế chung.[4] Minazuki được đặt lườn tại hãng đóng tàu Uraga Dock Company vào ngày 24 tháng 3 năm 1925, được hạ thủy vào ngày 25 tháng 5 năm 1926 và được đưa ra hoạt động vào ngày 22 tháng 3 năm 1927.[5] Thoạt tiên chỉ được gọi đơn giản là "Tàu khu trục số 28" (第二十八号駆逐艦, Dai-28-Gō Kuchikukan), nó được đổi tên thành Minazuki vào ngày 1 tháng 8 năm 1928.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Vào lúc xảy ra cuộc tấn công Trân Châu Cảng, Minazuki nằm trong thành phần Hải đội Khu trục 22 thuộc Phân hạm đội Khu trục 5 của Hạm đội 3 Hải quân Đế quốc Nhật Bản, và được bố trí từ Quân khu Bảo vệ Mako tại quần đảo Pescadores trong thành phần của lực lượng Nhật Bản tham gia trận Philippines, trong đó nó giúp hỗ trợ cho cuộc đổ bộ của lực lượng Nhật Bản lên vịnh Lingayen và tại Aparri.[6]

Vào đầu năm 1942, Minazuki được phân công hộ tống các đoàn tàu vận tải đi đến MalayaĐông Dương cũng như đến Java vào tháng 2. Từ ngày 10 tháng 3 năm 1942, Minazuki được bố trí về Hạm đội Khu vực Đông Nam hộ tống các đoàn tàu vận tải từ Singapore đến khu vực chung quanh Đông Ấn thuộc Hà Lan. Nó quay trở về Xưởng hải quân Sasebo để sửa chữa vào ngày 18 tháng 8, rồi lại gia nhập hạm đội vào ngày 4 tháng 10, tiếp nối các nhiệm vụ hộ tống.

Minazuki được phân về Hạm đội 8 Hải quân Đế quốc Nhật Bản đặt căn cứ tại Rabaul vào ngày 25 tháng 2 năm 1943, và cho đến hết năm đó được phân công nhiều chuyến đi "Tốc hành Tokyo" vận chuyển binh lính trong suốt khu vực quần đảo Solomon. Nó đã cho đổ bộ binh lính trong trận Kolombangara ngày 12 tháng 7 nhưng đã không tham chiến,[7] và bị hư hại nhẹ trong một cuộc không kích gần Shortlands, nên được cho quay về Xưởng hải quân Kure từ tháng 8 đến tháng 9 để sửa chữa. Ngày 13 tháng 9, Minazuki quay trở lại Rabaul, và từ ngày 28 tháng 9 thực hiện việc triệtthoái lực lượng Nhật Bản khỏi Kolombangara. Trong một chuyến đi thứ hai vào ngày 2 tháng 10, Minazuki đụng độ với ba tàu khu trục Mỹ và bị bắn trúng ba quả đạn pháo, nhưng may mắn là cả ba đều tịt ngòi. Trong một cuộc không kích khác vào ngày 12 tháng 10, những hư hỏng từ một quả bom suýt trúng đích khiến cho các tháp pháo số 1 và số 2 không hoạt động, nhưng Minazuki vẫn tiếp tục thực hiện những chuyến vận chuyển "Tốc hành Tokyo" đến BukaKavieng thuộc New Ireland cho đến cuối năm. Vào ngày 4 tháng 11, Minazuki vớt được 267 người sống sót sót từ chiếc tàu vận chuyển Kiyozumi Maru bị hư hại.

Sau khi được sửa chữa vào cuối năm, Minazuki tiếp tục các nhiệm vụ vận chuyển "Tốc hành Tokyo" đến Rabaul cho đến cuối tháng 2, rồi được phân công tuần tra chung quanh khu vực Palau trong tháng 3tháng 4. Từ ngày 1 tháng 5, Minazuki được phân về Hạm đội Khu vực Trung tâm Thái Bình Dương. Nó hộ tống các đoàn tàu vận tải từ Yokosuka đến Saipan trong tháng 5.

Vào ngày 6 tháng 6, sau khi rời Tawitawi hộ tống một tàu chở dầu đi đến Balikpapan, Minazuki trúng phải ngư lôi phóng từ tàu ngầm Mỹ USS Harder ngoài khơi Tawitawi và bị chìm ở tọa độ 04°05′B 119°30′Đ / 4,083°B 119,5°Đ / 4.083; 119.500Tọa độ: 04°05′B 119°30′Đ / 4,083°B 119,5°Đ / 4.083; 119.500.[5] Tàu khu trục Wakatsuki vớt được 45 người sống sót, nhưng chỉ huy của Minazuki là Thiếu tá Hải quân Kieji Isobe thiệt mạng cùng với con tàu.

Minazuki được rút khỏi danh sách Đăng bạ Hải quân vào ngày 10 tháng 8 năm 1944.[8]

Danh sách thuyền trưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Jones, Daniel H. (2003). “IJN Minekaze, Kamikaze and Mutsuki class Destroyers”. Ship Modeler's Mailing List (SMML). 
  2. ^ Evans. Kaigun: Strategy, Tactics, and Technology in the Imperial Japanese Navy
  3. ^ Globalsecurity.org, IJN Mutsuki class destroyers
  4. ^ Howarth, The Fighting Ships of the Rising Sun.
  5. ^ a ă Nishidah, Hiroshi (2002). “Mutsuki class 1st class destroyers”. Materials of the Imperial Japanese Navy. 
  6. ^ Morison. The Rising Sun in the Pacific 1931 - tháng 4 năm 1942.
  7. ^ Dull. A Battle History of the Imperial Japanese Navy
  8. ^ Nevitt, Allyn D. (1997). “IJN Minatsuki: Tabular Record of Movement”. Long Lancers. Combinedfleet.com. 

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]