Minho

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Đây là một tên người Triều Tiên; họ tên được viết theo thứ tự Á Đông (họ trước tên sau): họ là Thôi.
Minho
민호
Tên khai sinh Choi Min Ho
Sinh 09/12/1991
Incheon, Hàn Quốc
Nghề nghiệp Ca sĩ, Rapper, Vũ công, Diễn viênNgười mẫu.
Thể loại Contemporary R&B, K-Pop, dance-pop,
Năm 2008 - Nay
Hãng đĩa SM Entertainment, EMI Music Japan, SM Entertainment JapanEMI Music Japan
Hợp tác Shinee, SM Town
Tên người Triều Tiên
Hangul 최민호
Hanja (Hán tự)
Hán-Việt Thôi Mẫn Hạo

Minho (Choi Min Ho (최민호)/崔珉豪/Thôi Dân Hào) sinh ngày 09/12/1991 tại Incheon, Hàn Quốc. Là một ca sĩ, diễn viên, người mẫu và là thành viên trong ban nhạc SHINee.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Tên FC riêng: Flamer

Năng khiếu: Bóng đá, Bóng rổ, Trình diễn, Giao tiếp Tiếng Anh.

Gia đình: Bố mẹ và anh trai.

  • Bố (Choi Yun Gyeom) là một huấn luyện viên cho đội bóng Hoàng Anh Gia Lai thuộc quốc gia Việt Nam.
  • Mẹ là nội trợ trong nhà.
  • Anh trai là Choi Minseok

Người hay yêu thương: Bố (vì Minho có ước mơ trở thành cầu thủ bóng đá) và anh trai.

Trình độ:

  • Đã xuất hiện trong chương trình Ha SangBaek's Fashion Show (03/2008), 2008/2009 F/W Pret-a-Porter Busan Fashion Show (May 2008).
  • Trong Show Thời Trang của Ha Sang Baek, anh ấy bước ra sàn diễn như một con robot. Đã học tiếng Hoa ở Bắc Kinh vào năm 2006 và 2007.

Thần tượng: Justin Timberlake, Usher, DBSK, Super Junior, Shinhwa, Thierry Daniel Henry (bóng đá), Arsenal.

Báu vật:

  • Album của nhóm.
  • Cây bút anh trai tặng.
  • Chiếc Ipod mà cậu đã xin của Donghae (Super Junior).

Học vấn:

  • Đã học tiếng Trung Quốc tại Bắc Kinh vào năm 2006 và 2007.
  • Hiện đang theo học ngành Điện Ảnh, khoa Văn hóa và Nghệ thuật, đại học Konkuk, Hàn Quốc.

Đã Tham gia:

  • Người mẫu trong show diễn thời trang "Seoul Collection Fall-Winter 08-09" của nhà thiết kế Ha Sang Baek.
  • Người mẫu trong chương trình 2008/2009 F/W Pret-a-Porter Busan Fashion Show (05/2008).
  • Người mẫu trong show thời trang của NTK Lee Sang Bong.
  • Người mẫu cho show thời trang của NTK Andre Kim.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

SHINee[sửa | sửa mã nguồn]

Minho đã được nhận vào S.M. Casting vào năm 2006, cũng chịu trách nhiệm hợp tác với Key trong phần viết rap, nhưng vì có vẻ ít nói hay trầm tính nên fan thường xuyên gọi anh là "Ngọn lửa quyến rũ".

Các hoạt động khác[sửa | sửa mã nguồn]

Như những thành viên trong nhóm SHINee, Minho là một người mẫu đại diện trang phục cho nhóm của NTK Ha Sang Baek.

Vào đầu năm 2008, Minho tham dự nhạc hội Youth International Video lần thứ 3 với tư cách là đại diện cho nhóm SHINee với Key, Minho cũng được làm người đại diện xuất sắc cho trường đại học Konkuk vào năm 2010. Vào 23/5/2011, anh tiếp tục tham gia Honorary Ambassador for Youth 2011, sau đó anh nhận được giải thưởng Tuần Thanh tại hội nghị COEX.

9/11/1011 Minho tham gia bộ phim Pianist cùng với nữ diễn viên Han Ji Hye. Đây là lần đầu tiên Minho thử sức mình trong lĩnh vực điện ảnh và anh nhận được rất nhiều lời khen ngợi từ phía đoàn làm phim.

16/11/2011, Minho là thành viên của một chương trình thuộc đài KBS "Let's Go Dream Team!" Tập 2 và chụp hình đại diện cho hãng Kia Cadenza (K7).

7/12/2011, Công ty công bố Minho tham gia một bộ phim Sitcom của đài SBS "Salamander Guru’s Inside Story" sẽ được phát sóng vào năm 2012 và là bộ phim Sitcom đầu tiên sau khi SBS tìm lại ánh hào quang của thể loại này trong vòng 5 năm trở lại đây. Năm 2012, Minho nhận vai chính trong một bộ phim do SM sản xuất, là phiên bản Hàn Quốc Hana Kimi.

Đời sống cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Trong tháng 3 năm 2010, Minho đã bị thương trong quá trình quay phim cho chương trình "Dream Team" Tập 2 và tạm ngừng các hoạt động của mình cho đến khi vết thương lành hẳn. Sau khi lành hẳn, vào tháng 8 năm 2010, Minho đã quay trở lại phòng thu và tiếp tục công việc với nhóm ra mắt Single "Lucifer"

Minho đã được công chúng đánh giá cao về kỹ năng thể thao của mình, đứng đầu cuộc điều tra truyền hình rất nhiều về thần tượng Athletic.

Minho có tình cảm rất thân thiết với em út Taemin trong nhóm Shinee.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]