Minuet

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Thể Minuet và Trio[sửa | sửa mã nguồn]

Mozart thường sử dụng thể xônat cho chuyển hành thứ nhất, thứ hai, và thứ tư trong những tác phẩm lớn của ông. Còn chuyển hành thứ ba, ông thích sử dụng thể “minuet và trio”, một vũ điệu thời kỳ Baroque. Đó là một vũ điệu khoan thai nhịp ba, có tính cách thanh lịch và trang nghiêm, mặc dù vào cuối thế kỷ thứ mười tám, vũ điệu này đôi khi được chơi với một tốc độ sôi động hơn. Minuet nguyên thủy thường được viết thành một cặp, tức là có đoạn tam tấu (trio).

Sau đoạn tam tấu luôn luôn có sự lặp lại đoạn minuet đầu tiên để tạo thành sơ đồ tổng quát :

A - B - A

Minuet và Trio được sử dụng thực tế trong chuyển hành thứ ba của tất cả những bản nhạc symphony Cổ điển, những bản sonata, và những tứ tấu đàn dây của Beethoven. Nó tạo nên một sự chuyển tiếp đơn giản giữa chuyển hành chậm ở đoạn thứ nhì sang chuyển hành mạnh mẽ và sinh động ở đoạn thứ tư. Đôi khi, Mozart sử dụng chuyển hành này để viết một chương nhạc hoàn chỉnh. Thí dụ, Symphony cung Gm.

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Caplin, William E. (2000). Classical Form, beginning p. 220. ISBN 019514399X.
  • Elson, Louis C. (2008). The Theory of Music, beginning p. 157. ISBN 1443783315.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  • M.E. Little (2001), "Minuet", in The New Grove Dictionary of Music and Musicians, edited by Stanley Sadie and John Tyrrell. New York: Grove's Dictionaries.
  • J. Sutton (1985), "The minuet: An elegant phoenix", in Dance Chronicle, 8, pp. 119–52
  • K.H. Taubert (1988), "Das Menuett: Geschichte und Choreographie". Zürich.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]