Minutes to Midnight (album)
| Minutes to Midnight | ||||
|---|---|---|---|---|
| Album phòng thu của Linkin Park | ||||
| Phát hành | ||||
| Thu âm | Tháng 2 năm 2006 – Tháng 1 năm 2007 tại The Mansion | |||
| Thể loại | Alternative rock[1][2][3][4] | |||
| Thời lượng | 43:30 | |||
| Hãng đĩa | Warner Bros., Machine Shop | |||
| Sản xuất | Rick Rubin Mike Shinoda (đồng sản xuất) |
|||
| Đánh giá chuyên môn | ||||
|
||||
| Thứ tự album của Linkin Park | ||||
|
||||
| Bìa phụ | ||||
| Đĩa đơn từ Minutes to Midnight | ||||
|
||||
Minutes to Midnight là album phòng thu thứ 3 của Linkin Park được phát hành ở các địa điểm khác nhau, giữa ngày 9 tháng 5 năm 2007 và ngày 18 tháng 5 năm 2007. Nó được bán chạy trong vài tháng và chứng nhận 2× Bạch kim ở Mỹ.[6][7] Đó cũng là album phòng thu đầu tiên của họ với nhãn parental advisory (cần cha mẹ hướng dẫn), cùng với Collision Course (album có Jay-Z góp mặt) nhưng đó là một album phối khí lại.
Album đứng thứ 1 ở Mỹ[8] và ở 15 quốc gia khác, gồm cả Anh và Canada.[9] Ở Mỹ, album đã đạt được doanh số trong tuần đầu tiên lớn nhất của năm 2007 với 625.000 album đã bán. Album được chứng nhận Bạch kim (doanh số 1 triệu album) ở Mỹ[10] và vận chuyển hơn 3,3 triệu album trên thế giới trong 4 tuần đầu tiên sau khi phát hành.[11] Album này đứng hạng 25 trong danh sách 50 Album Đứng đầu năm 2007 của Rolling Stone.[12]
Có 2 phiên bản của bìa album. Cả hai đều có hình 6 thành viên ban nhạc đang mặc đồ màu đen. Trên bìa hộp cứng, các thành viên của band nhìn theo hướng khác camera và trên bìa hộp trong suốt, hầu hết các thành viên nhìn vào camera. Thứ tự của ban nhạc (từ trái sang phải) như sau: Chester Bennington, Phoenix, Joe Hahn, Brad Delson, Rob Bourdon, và Mike Shinoda.
Đĩa đơn chính của album, "What I've Done", được phát hành dạng số vào ngày 2 tháng 4 ở Mỹ và 3 tháng 4 ở Anh. Đĩa đơn được phát hành vào ngày 30 tháng 4.
Mục lục |
Danh sách bài hát [sửa]
Tất cả bài hát được sáng tác bởi Linkin Park.
- "Wake" – 1:40
- "Given Up" – 3:09
- "Leave Out All the Rest" – 3:18
- "Bleed It Out" – 2:53
- "Shadow of the Day" – 4:50
- "What I've Done" – 3:25
- "Hands Held High" – 3:53
- "No More Sorrow" – 3:40
- "Valentine's Day" – 3:16
- "In Between" – 3:16
- "In Pieces" – 3:38
- "The Little Things Give You Away" – 6:23
Bài phụ [sửa]
- "No Roads Left" - 3:49
- "What I've done" ( Distorted remix ) - 3:46
- "Given up" ( Third encore session ) - 3:08
Nội dung độc quyền có thể tải về [sửa]
- Ấn bản Tua diễn Châu Á (Trực tiếp từ Thượng Hải, Trung Quốc, ngày 18 tháng 11 năm 2007):
- "One Step Closer"
- "Lying from You"
- "Somewhere I Belong"
- "No More Sorrow"
- "Papercut"
- Ấn bản Tua diễn Châu Âu (Trực tiếp từ Sân khấu O2, London, ngày 29 tháng 1 năm 2008):
Phát hành [sửa]
Minutes to Midnight đã bị trì hoãn vài lần trước khi phát hành. Lịch phát hành đầu tiên là vào mùa hè năm 2006, rồi đến mùa thu năm 2006, đến đầu năm 2007 ngày phát hành cho album được ấn định là 15 tháng 5 năm 2007. Trong một cuộc phỏng vấn vào tháng 9 năm 2006, Shinoda giải thích "Khi các bài hát cứ tuôn trào ra, ta không thể nào muốn dừng nó lại. Chúng tôi đã có hơn 100 bài hát nháp. Lúc đó chúng tôi đã hạ thấp chúng xuống nhưng chúng tôi vẫn chưa sẵn sàng để cống hiến với chúng."
"Đây là một quá trình làm việc chăm chỉ và thử nghiệm trong studio kéo dài 1 năm rưỡi và làm ra khoảng 150 bài nháp", tay guitar Brad Delson đã tiết lộ với Billboard.com, "Album này không những có thay đổi và khác biệt, mà chiều sâu của chất nhạc cũng thực sự rất sâu."[13]
Đĩa đơn đầu tiên, "What I've Done", phát hành vào ngày 2 tháng 4 năm 2007 và đứng vị trí số 1 trong Bảng Xếp hạng Rock Hiện đại (Modern Rock Tracks) của Mỹ.[14] Mike đã nói vê đĩa đơn này như là yếu tố chính quyết định thành công của album: "Chúng tôi muốn có một album với một video thu hút được nhiều triệu lượt người xem trên toàn thế giới. Và "What I've Done" đã làm được điều đó".
Ấn bản đặc biệt CD/DVD [sửa]
Một ấn bản đặc biệt CD/DVD của Minutes to Midnight có hiện hành. Nó được thiết kế để trông giống một quyển sách và chứa một quyển sách 24 trang có lời bài hát và hình vẽ của các ca sĩ là bạn của band, cùng với những hình ảnh của quá trình thu âm. Bìa của phiên bản Bắc Mỹ có màu xám, nhưng ở tất cả các vùng khác thì màu đen.
Đĩa DVD phụ chứa nội dung sau:[15]
- Phiên bản PCM Âm thanh nổi (Stereo) Phân giải cao (48 kHz/24-bit) của toàn bộ 12 bài
- Phim tài liệu Hậu trường Minutes to Midnight
- Hậut trường "What I've Done"
- Video âm nhạc "What I've Done"
Chức năng của đĩa DVD-ROM:
- Một cuốn sổ PDF với lời bài hát
- Sổ tay dạng flash và tiện ích của fan
- Một biểu tượng cho Instant Messenger Buddy
- Liên kết DVD độc quyền tới trang web chính thức của Linkin Park, chỉ có thể truy cập qua DVD
- Hình bảo vệ
- Hình nền
Ban nhạc cũng phát hành một Siêu Ấn bản của Người hâm mộ mà chỉ có thể mua trên mạng. Điểm khác biệt duy nhất với ấn bản đặc biệt là quyển sách (có 68 trang chứ không phải 24). Đĩa DVD cũng có nội dung giống nhau.
Có một số vấn đề với đĩa DVD. Người dùng gặp những vấn đề trong việc truy cập các chức năng của DVD-ROM, vì một vài máy tính không thể truy cập phân vùng mở rộng của đĩa này. Ở Canada, Hãng thu âm Warner đã thu hồi Ấn bản CD/DVD vì có những đĩa DVD bị lỗi. Ngày phát hành cuối cùng cho đĩa được sửa vẫn còn chưa rõ. Vì thế đơn đặt hàng không còn tồn tại trên website BandMerch.com hay ở các cửa hàng. Nó vẫn còn ở vài tiệm Wal-Mart địa phương, nhưng cũng chỉ là đĩa DVD bị lỗi.
Ấn bản Sạch [sửa]
Bài hát "Given Up", "Bleed It Out", và "Hands Held High" được chỉnh sửa chút ít bằng cách loại bỏ tất cả những từ phản cảm. Ở Malaysia chỉ có bán bản sạch. Trong mặt B của đĩa Minutes to midnight, bài "Given Up" (Third encore session) cũng được loại bỏ những từ phản cảm mà chỉ có lời ca bình thường.
Âm thanh [sửa]
- "What I've Done"
"Bleed It Out" Bleed It Out "Shadow of the Day" Shadow of the Day - Trục trặc khi nghe? Xem hướng dẫn.
Tổng thể thì Minutes to Midnight là studio album nhẹ nhàng nhất của Linkin Park, tập trung vào tầng lớp và chất liệu của âm nhạc, vì thế nên đã tạo ra một thứ âm thanh du dương và dễ tiếp cận hơn. Trong cuộc phỏng vấn với Chester Bennington thì anh giải thích album mới này là sự trộn lẫn nhạc punk, classic rock, và nhịp (beat) hip-hop.[16]
Trong một cuộc phỏng vấn khác với Chester, anh mở đầu "Lần này, Mike Shinoda sẽ hát nhiều hơn. Trông có vẻ anh ấy không hay thu âm, nhưng anh ấy đang cố tập hát có giai điệu rất nhiều. Anh ấy cũng hay hát một mình một vài bài. Chúng tôi thể hiện mình theo một cách khác."[17][18]
Đây là album đầu tiên của họ mà Mike Shinoda hát chính toàn bộ một bài ("In Between"), chứ không còn đọc rap.[19] Đây cũng là album đầu có đoạn guitar solo (tiêu biểu là trong "Shadow of the Day", "In Pieces", "No More Sorrow" và "The Little Things Give You Away"). Không giống như 2 studio album trước, Minutes to Midnight có các từ phản cảm và công kích về mặt chính trị.[20]
Mike Shinoda chỉ biểu diễn phần đọc rap trong 2 bài, "Bleed It Out" và "Hands Held High". Đây là một sự sụt giảm rõ rệt so với số bài đọc rap của các album trước. Phần đọc rap của album này có phong cách gần hơn với đề án phụ của Mike Shinoda (Fort Minor) so với các khổ hát Linkin Park truyền thống. Mặc dù có sự giảm sút của Mike Shinoda trong việc đọc rap, anh có 2 bài hát đơn. Anh đọc rap trong "Hands Held High" mà có cả giọng hát nền từ toàn bộ ban nhạc ("đội hợp xướng" hát câu "Amen" thật ra là từng thành viên của ban nhạc), và anh hát trong bài In Between. Anh cũng hát đơn trong bài phụ "No Roads Left" theo một phong cách rock công kích hơn so với "In Between" mà không có giọng nền từ Bennington. Bennington và Shinoda chơi guitar trong "No Roads Left", bài hát phụ độc quyền của iTunes.
Mọi yếu tố đẩy đĩa của Joe Hahn đã tồn tại trong 2 album trước phần lớn đều biến mất, ngoại trừ các bài "What I've Done", "Valentine's Day", và "In Pieces". Hahn đóng góp nhiều hơn trong việc lập trình, âm điện tử.
Tay guitar Brad Delson thử nghiệm với một cây E-Bow khi ban nhạc cùng kết hợp tập bài "The Little Things Give You Away". Ban nhạc sau đó quyết định không sử dụng hiệu ứng cho phần solo trong bài đó mà thay vào đó là "No More Sorrow" (Brad rung những ngón tay trên dây đàn guitar để tạo hiệu ứng hồi âm dài tương tự như âm thanh của cây E-Bow). Trong "Given Up", bạn có thể nghe tiếng anh ta rung đi rung lại các phím đàn trong khi Mike Shinoda vỗ tay.[21]
Sự đón nhận [sửa]
Album nhận được nhiều phê bình theo 2 phái cực nhưng được đón nhận một cách nồng nhiệt bởi các fan hâm mộ. Nhiều nhà phê bình đã so sánh album với phong cách âm nhạc của U2.[cần dẫn nguồn] Trong một bài đánh giá 2/5 sao, Stephen Thomas Erlewine từ All Music Guide miêu tả âm thanh của album đã "lỗi thời" (passé) và nói tóm gọn kết quả của ban nhạc là "tạo ra một cảnh tối tăm, u ám, vô vị và lộn xộn".[22] Ở Anh Quốc, Dan Silver của tạp chí NME cho điểm 2/10, gọi đó là "âm thanh của một ban nhạc đang cố gắng và thất bại trong việc trui rèn một danh hiệu mới", và gọi bài "Hands Held High" (một bài hát về cuộc khủng bố và chiến tranh ở Iraq) là "còn xa vời vợi hơn cái thứ buồn cười nhất mà bạn sẽ nghe suốt năm nay".[23]
Dù sao tạp chí Rolling Stone cho album điểm 4/5, cũng như IGN nói "Đây chắc chắn là một bước đi đúng hướng và một cầu nối cho những sự kiện tiếp đến". Bill Lamb từ About.com coi Minutes to Midnight là một "thành công ấn tượng" và tiếp tục nói "Linkin Park có thể xử lý việc thám hiểm với hướng đi ấn tượng."
Album nhận được nhiều bài đánh giá trộn lẫn khác nhau trên Metacritic, với một tỉ lệ bình chọn trung bình là 56%, dưới mức 62% của album trước, Meteora.[24]
Demo & các tựa bài chưa hoàn thành [sửa]
- "Wake" - "WAKE Album Intro Idea"
- "Given Up" - "21 Stitches"
- "Leave Out All the Rest" - "Fear" và "When My Time Comes"
- "Bleed It Out" - "Accident"
- "Shadow of the Day" - "Saint"
- "What I've Done" - "Regrets"
- "Hands Held High" - "Song Q"
- "No More Sorrow" - "EBow Idea"
- "Valentine's Day" - "Love and Sadness"
- "In Between" - "Apologies"
- "In Pieces" - "Pictures"
- "The Little Things Give You Away" - "Drum Song"
- "No Roads Left" - "Patients" và "No Roads Left But One"
Rò rỉ [sửa]
Album đã bị rò rỉ lên mạng Internet chỉ dưới 2 tuần trước khi album thực sự phát hành, và Mike Shinoda đã phản hồi:[25]
| “ | Chẳng còn gì thú vị hơn là tặng cho các bạn âm nhạc mới, đặc biệt là sau khi chúng tôi đầu tư hết sức cho nó. Album này là gần cả một năm rưỡi thử nghiệm, nhầm lẫn, cảm hứng, và khéo léo cẩn thận. Chúng tôi đã làm tất cả những gì có thể cho những bài hát này, và muốn các bạn lắng nghe từng giây của nó. Tôi không thể chờ để các bạn tiếp thu mọi lớp nghĩa trong bài hát và lớp nhạc, tạo nên quan niệm của riêng bạn về ý nghĩa của bài hát một cách tự nhiên.
Cùng lúc đó, một bản rò rỉ đã bỏ lại một vài phần rất quan trọng của tác phẩm này. Chúng tôi dành hàng tháng, dùng năng lực sáng tạo vào NGHỆ THUẬT của việc thu âm, của quyển sổ tay, ấn bản đặc biệt, và sách lớn … lâu gần bằng thời gian để thu âm Hybrid Theory. Album có những tấm hình, lời bài hát, và ghi chú về việc bài hát hình thành thế nào… đều rất tuyệt vời — Đó là nửa có thể nhìn thấy của bản thu âm. Còn nửa kia, quyển sách ấn-bản-siêu-đặc-biệt đóng gói với hình ảnh độc quyền, câu chuyện về việc sáng tác bài hát, nghệ thuật tuyệt hảo, đĩa CD và DVD kể lại câu chuyện, cho thấy khoảnh khắc thật sự của niềm cảm hứng. Với tôi, thật khó để tưởng tượng bất kì ai thực sự hưởng thụ album này mà không không có phần đó. Ngay cả thứ tự bài hát thôi cũng rất quan trọng. Khác biệt RẤT LỚN khi nghe các bài hát theo thứ tự ngẫu nhiên so với nghe bản thu âm này từ đầu đến cuối. Ít nhất đi nữa, nếu như các bạn đã tải về các bài hát, hãy giúp chúng tôi một chuyện lớn là nghe chúng theo thứ tự chính xác… sẽ xứng đáng hơn nhiều. |
” |
Thành phần tham gia [sửa]
- Chester Bennington — ca sĩ, ca sĩ đệm, ghita đệm (trong biểu diễn)
- Rob Bourdon — trống
- Brad Delson — ghita chính, piano (trong biểu diễn)
- Dave "Phoenix" Farrell - ghita bass, ca sĩ đệm
- Joseph Hahn — bàn đẩy đĩa, âm mẫu, lập trình
- Mike Shinoda — ca sĩ, ghita đệm, đàn điện tử, ca sĩ đệm
Người tham gia khác
- Rick Rubin - Nhà sản xuất âm nhạc
Bảng xếp hạng và doanh số [sửa]
| Bảng xếp hạng | Nhà phát hành | Vị trí cao nhất |
Chứng nhận | Doanh số |
|---|---|---|---|---|
| Bảng xếp hạng Album Argentina[26] | CAPIF | 1 | ||
| Bảng xếp hạng Album Úc[27] | ARIA | 1 | 2× Bạch kim | 140.000 |
| Bảng xếp hạng Album Áo[28] | Media Control Europe | 1 | Bạch kim | 20.000 |
| Bảng xếp hạng Album Flanders Bỉ[29] | Ultratop | 2 | Vàng | 15.000 |
| Bảng xếp hạng Album Wallonian Bỉ[30] | Ultratop | 2 | Vàng | 15.000 |
| Bảng xếp hạng Album Brazil[31] | ABPD | 3 | Vàng | 50.000+ |
| Bảng xếp hạng Album Canada[32] | Nielsen SoundScan | 1 | Bạch kim | 195.000+[33] |
| Chile Top 10[34] | Nielsen SoundScan | 6 | ||
| Bảng xếp hạng Album Quốc tế Croatian[35] | HDU | 1 | ||
| Bảng xếp hạng Album Czech[36] | All Records/IFPI | 1 | ||
| Bảng xếp hạng Album Czech[37] | IFPI | 1 | Vàng | 5.000 |
| Bảng xếp hạng Album Đan Mạch[38] | IFPI/Nielsen Music Control | 2 | ||
| Bảng xếp hạng Album Estonia[39] | Pedrobeat | 1 | ||
| Bảng xếp hạng Top 100 Album Châu Âu[40] | IFPI | 1 | ||
| Bảng xếp hạng Album Phần Lan[41] | GLF | 1 | Vàng | 15.000 |
| Bảng xếp hạng Album Pháp[42] | SNEP/IFOP | 1 | Bạch kim | 40.000 |
| Bảng xếp hạng Album Đức[43] | IFPI | 1 | 2× Bạch kim | 400.000+ |
| Bảng xếp hạng Album Hi Lạp[44] | IFPI | 1 | Vàng | 10.000+ |
| Bảng xếp hạng Top 40 Album Hungari[45] | Mahasz | 1 | Vàng | |
| Bảng xếp hạng Album Ấn Độ[cần dẫn nguồn] | Outlook Magazine June Edition | 1 | Bạch kim | 100.000+ |
| Bảng xếp hạng Album Indonesia[cần dẫn nguồn] | LIMA | 1 | Bạch kim | 50.000 |
| Bảng xếp hạng Album Ireland[46] | IRMA | 1 | Vàng | 7.500 |
| Bảng xếp hạng Album Israel[47] | MusicaNeto | 5 | ||
| Bảng xếp hạng Album Ý[48] | FIMI | 1 | 2× Bạch kim | 180.000 |
| Bảng xếp hạng Album Nhật Bản[49] | Oricon | 1 | Bạch kim | 377.620 |
| Bảng xếp hạng Album Quốc tế Hàn Quốc[50] | Hanteo | 1 | Vàng | 21.000 |
| Bảng xếp hạng Album Malaysia[cần dẫn nguồn] | RIM | 1 | Vàng | 15.000 |
| Bảng xếp hạng Top 100 Album Mexico[51] | AMPROFON | 2 | Vàng[52] | 50.000 |
| Bảng xếp hạng Album Hà Lan[53] | NVPI/Mega Charts | 2 | ||
| Bảng xếp hạng Album New Zealand[54] | RIANZ | 1 | 2× Bạch kim | 30.000 |
| Bảng xếp hạng Album Na Uy[55] | VG Nett | 1 | ||
| Bảng xếp hạng Album Ba Lan[56] | ZPAV | 2 | Vàng | 35.000 |
| Bảng xếp hạng Album Bồ Đào Nha[57] | AFP | 3 | Vàng | 10.000 |
| Bảng xếp hạng Album Singapore[cần dẫn nguồn] | RIAS | 1 | Bạch kim | 15.000 |
| Bảng xếp hạng Album Nam Phi[cần dẫn nguồn] | RISA | 1 | Bạch kim | 50.000 |
| Bảng xếp hạng Album Tây Ban Nha[58] | Promusicae/Media Control | 2 | ||
| Bảng xếp hạng Album Thuỵ Điển[59] | Sverigetopplistan | 1 | Vàng | 20.000 |
| Bảng xếp hạng Album Thuỵ Sĩ[60] | Media Control Europe | 1 | Bạch kim | 30.000 |
| Bảng xếp hạng phương Tây 5-Music Đài Loan[61] | Five Music | 1 | Vàng | 35.000 |
| Bảng xếp hạng phương Tây G-Music Đài Loan[62] | G-Msic | 1 | ||
| Bảng xếp hạng Album Đài Loan[63] | G-Msic/Five Music | 2 | ||
| Bảng xếp hạng Album Thái Lan[cần dẫn nguồn] | 1 | Vàng | 20.000 | |
| Bảng xếp hạng Album Anh[64] | OCC | 1 | 1× Bạch kim | 500.000+ |
| Bảng xếp hạng Album Uruguay[65] | CUD | 12 | ||
| Bảng xếp hạng Album Venezuela[66] | AMPROFON | 5 | ||
| Billboard 200 Hoa Kỳ[67] | Billboard | 1 | 2× Bạch kim | 2.300.000+[67] |
| Tổng hợp Album Hoa Kỳ[67] | 1 | |||
| Top Album Kĩ thuật số Hoa Kỳ[67] | 1 | |||
| Top Album Internet Hoa Kỳ[67] | 1 | |||
| Top Album Rock Hoa Kỳ[67] | 1 | |||
| Bảng xếp hạng Thế Giới (cuối năm 2007) | Lưu lượng truyền thông | 2 (đồng hạng)[68] | ||
| Bảng xếp hạng Thế Giới (Doanh số Thế Giới) | 1 | 5.800.000+ | ||
| Bảng xếp hạng Thế Giới (Ước lượng Doanh số Thế Giới) | 1 | 3× Bạch kim | 6.200.000+ |
Đĩa đơn [sửa]
"Minutes to Midnight" gặt hái được 4 đĩa đơn thành công cho đến tháng 3 năm 2008. Đĩa đơn đầu tiên của Linkin Park, "What I've Done", đĩa đơn thứ 2, "Bleed It Out", đĩa đơn thứ 3, "Shadow of the Day" và đĩa đơn thứ 4, "Given Up" đã đứng trên Bảng xếp hạng Rock Hiện đại Billboard (Billboard Modern Rock Charts) ở vị trí 1, 2, 2 và 14 một cách khiêm tốn. Những bài khác từ "Minutes to Midnight" cũng được thấy trên bảng xếp hạng Billboard dù chúng chưa được phát hành làm đĩa đơn như "Given Up" và "Leave Out All the Rest" (lúc trước khi chúng được tuyên bố là đĩa đơn).
| Năm | Bài hát | Bảng xếp hạng | Vị trí cao nhất |
|---|---|---|---|
| 2007 | "What I've Done" | Billboard Hot 100 | 7 |
| 2007 | Mainstream Rock Tracks | 1 | |
| 2007 | Modern Rock Tracks | 1 | |
| 2007 | Billboard Pop 100 | 8 | |
| 2007 | Hot Digital Songs | 4 | |
| 2007 | Polish National Top 50 | 3 | |
| 2007 | Top 200 Kênh [V] năm 2007 | 19 | |
| 2007 | UK Singles Chart | 6 | |
| 2007 | "Bleed It Out" | Billboard Hot 100 | 52[69] |
| 2007 | Modern Rock Tracks | 2 | |
| 2007 | Mainstream Rock Tracks | 3 | |
| 2007 | Billboard Pop 100 | 56 | |
| 2007 | Canadian Hot 100 | 22 | |
| 2007 | UK Singles Chart | 29 | |
| 2007 | Top 200 của Kênh [V] năm 2007 | 44 | |
| 2007 | "Shadow of the Day" | Polish National Top 50 | 5 |
| 2007 | Modern Rock Tracks | 2 | |
| 2007 | Mainstream Rock Tracks | 6 | |
| 2007 | Canadian Hot 100 | 12 | |
| 2007 | Billboard Pop 100 | 13 | |
| 2007 | Billboard Hot 100 | 15 | |
| 2007 | Australian ARIA Charts | 15 | |
| 2007 | UK Singles Chart | 46 | |
| 2007 | Channel [V] Top 200 of 2007 | 68 | |
| 2007 | RockMetal World Summary '07 | 1 | |
| 2007 | "Given Up" | Billboard Hot 100 | 99 |
| 2007 | Billboard Pop 100 | 78 | |
| 2008 | Mainstream Rock Tracks | 14 | |
| 2008 | Modern Rock Tracks | 17 | |
| 2007 | "Leave Out All the Rest" | Billboard Pop 100 | 98 |
Ghi chú: Mặc dù "Given Up" và "Leave Out All the Rest" chưa được phát hành làm đĩa đơn cho đến đầu tháng 3 năm 2008, "Given Up" đã đứng trên Billboard's Hot 100 và Pop 100 ở vị trí khiêm tốn: 99 và 78 vào năm 2007, và "Leave Out All the Rest" đã đứng trên Billboard Pop 100 ở vị trí 98 vào năm 2007.
Tham khảo [sửa]
- ^ Sanneh, Kelefa. Review: Minutes to Midnight. The New York Times. Truy cập 1 tháng 6 năm 2010.
- ^ Kamps, Garrett. Review: Minutes to Midnight. The Village Voice. Truy cập 1 tháng 6 năm 2010.
- ^ Sullivan, Caroline. Review: Minutes to Midnight. The Guardian. Truy cập 1 tháng 6 năm 2010.
- ^ Tye, Karen. "Review: Minutes to Midnight". Herald Sun: 2007.
- ^ “Billbord.com-discography-Linkin Park-Bleed it out”. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2010.
- ^ Bảng xếp hạng Bài hát Toàn cầu
- ^ Chứng nhận RIAA - Giải thưởng RIAA - Tin tức RIAA
- ^ http://www.billboard.com/bbcom/retrieve_chart_history.do
- ^ “Minutes To Midnight A Worldwide Success”.
- ^ http://www.minutes2./
- ^ Âm nhạc Vương Quốc Anh
- ^ ROBERT CHRISTGAU, DAVID FRICKE, CHRISTIAN HOARD, ROB SHEFFIELD (17 tháng 12 năm 2007)."Top 50 Album năm 2007" Rolling Stone. Truy cập 1 tháng 6 năm 2010
- ^ Linkin Park: Minutes to Midnight
- ^ “Timbaland Soars to No. 1 After Sales Explosion”. Billboard. 13 tháng 4 năm 2007.
- ^ Ấn bản Đặc biệt CD/DVD "Minutes to Midnight"
- ^ cna.co.za:
- ^ Folhateen Article. 3 tháng 4 năm 2007
- ^ “Linkin Park Say Nu-Metal Sound Is 'Completely Gone' On Next LP”. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2010.
- ^ MlKE-'s Profile - GameSpot
- ^ http://www.coffee-bytes.com/node/554 Linkin Park's Minutes to Midnight
- ^ Linkin Park / Tiểu sử Ban nhạc
- ^ http://sambinismail.blogspot.com/2007/07/linkin-park-minutes-to-midnight-2007.html
- ^ “Linkin Park: Minutes to Midnight”. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2007.
- ^ “Linkin Park: Minutes to Midnight”. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2007.
- ^ “Minutes to Midnight Bị rò rỉ”. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2007.
- ^ Argentinian Album Chart
- ^ Australian Top 50 ARIA Album Chart
- ^ Austrian Album Chart
- ^ Belgium Flanders Album Chart
- ^ Belgium Wallonian Album Chart
- ^ Brazilian Album Chart
- ^ Canadian Album Chart
- ^ Nielsen Music 2007 - Music Industry Report
- ^ Chile Top 10
- ^ Croatian International Album Chart
- ^ Cyprus International Album Chart
- ^ Czech Album Chart
- ^ Danish Album Chart
- ^ Estonian Album Chart
- ^ European Top 100 Albums Chart
- ^ Finnish Albums Chart
- ^ French Album Chart
- ^ German Album Chart
- ^ Greek Album Chart
- ^ Hungarian Album Chart
- ^ Irish Album Chart
- ^ Israeli Album Chart
- ^ Italian Album Chart
- ^ Japan Album Chart
- ^ Korean Album Chart
- ^ Mexico Top 100l Album Chart
- ^ Mexican Vàng Certification
- ^ Netherlands Albums Chart
- ^ New Zealand Album Charts
- ^ Norwegian Albums Chart
- ^ Polish Album Chart
- ^ Portugal Album Chart
- ^ Spain Album Chart
- ^ Swedish Album Chart
- ^ Swiss Album Chart
- ^ "5-Music Top 20".Taiwan 5-Music Chart..
- ^ Taiwan G-Music Western Chart
- ^ Taiwanese Album Chart
- ^ UK Album Chart
- ^ Albums Chart
- ^ Venezuelan Album Char
- ^ a b c d e f Billboard Albums. Truy cập 1 tháng 6 năm 2010.
- ^ Bảng xếp hạng Thế Giới Cuối Năm 2007
- ^ Billboard.com - Linkin Park artist chart history
Liên kết ngoài [sửa]
- Trang web chính thức Linkin Park
- Minutes to Midnight tại MetaCritic
- Trang lời bài hát chính thức của Minutes to Midnight
| Tiền nhiệm: Favourite Worst Nightmare của Arctic Monkeys |
Album quán quân UK Albums Chart 20 tháng 5 – 27 tháng 5 năm 2007 |
Kế nhiệm: It Won't Be Soon Before Long của Maroon 5 |
| Tiền nhiệm: Call Me Irresponsible của Michael Bublé |
Album quán quân Billboard 200 2 tháng 6 – 8 tháng 6 năm 2007 |
Kế nhiệm: It Won't Be Soon Before Long của Maroon 5 |
| Tiền nhiệm: Treasure của Hayley Westenra |
Album quán quân RIANZ 21 tháng 5 – 4 tháng 6 năm 2007 |
Kế nhiệm: Long Player của Hollie Smith |
| Tiền nhiệm: Call Me Irresponsible của Michael Bublé |
Album quán quân Bảng xếp hạng ARIA Úc 28 tháng 5 năm 2007 |
Kế nhiệm: I'm Not Dead của Pink |
| Tiền nhiệm: Call Me Irresponsible của Michael Bublé |
Album quán quân Bảng Xếp hạng Thế giới 2 tháng 6 năm 2007 |
Kế nhiệm: It Won't Be Soon Before Long của Maroon 5 |
|
|||||||||||||||||||||||||||||||
|
||||||||||||||||||||||||||