Hoa hậu Thế giới
| Hoa hậu Thế giới | |
|---|---|
Biểu tượng của Hoa hậu Thế giới. |
|
| Thành lập | 1951 |
| Phân loại | Cuộc thi sắc đẹp |
| Trụ sở | Luân Đôn |
| Địa điểm | |
| Ngôn ngữ chính thức | tiếng Anh |
| Giám đốc | Julia Morley |
| Chủ chốt | Eric Morley |
| Website | Trang chủ của cuộc thi |
Hoa hậu Thế giới (tiếng Anh: Miss World) là cuộc thi sắc đẹp toàn cầu lâu đời nhất thế giới được tổ chức lần đầu tiên bởi Eric Morley vào năm 1951. Năm 2000 khi ông mất thì vợ của ông là bà Julia Morley đã thay ông lên nắm quyền điều hành cuộc thi.[1]
Cùng với các đối thủ của mình là Hoa hậu Hoàn vũ, Hoa hậu Quốc tế và cuộc thi non trẻ Hoa hậu Trái Đất, cuộc thi Hoa hậu Thế giới là một trong những cuộc thi sắc đẹp lớn nhất trên thế giới.[2][3]
Người đoạt vương miện Hoa hậu Thế giới sẽ đại diện cho Tổ chức Hoa hậu Thế giới tham gia những hoạt động từ thiện trên khắp thế giới. Các Hoa hậu Thế giới sẽ sống ở Anh trong suốt thời gian giữ vương miện[4]. Đương kim Hoa hậu Thế giới hiện nay là Vu Văn Hà người Trung Quốc.
Mục lục |
Lịch sử [sửa]
Cuộc thi Hoa hậu Thế giới được bắt đầu từ cuộc thi áo tắm ở Anh vào năm 1951 chỉ với mục đích quảng bá các mốt áo tắm mới nhất lúc đó, nhưng được gọi là Hoa hậu Thế giới bởi các phương tiện truyền thông. Eric Morley, người khởi xuống cuộc thi áo tắm đó đã dự định sẽ chỉ tổ chức cuộc thi này một lần duy nhất nhưng khi nghe tin cuộc thi Hoa hậu Hoàn vũ sẽ được tổ chức tại Mỹ năm 1952, ông đã quyết định biến Hoa hậu Thế giới thành một cuộc thi sắc đẹp thường niên.[5][6]
Cuộc thi Hoa hậu Thế giới đã được phát sóng lần đầu tiên vào năm 1959 bởi đài BBC. Vào thập niên 1980, cuộc thi quyết định thay đổi khẩu hiện là "Sắc đẹp vì một mục tiêu" (Beauty with a purpose). Cuộc thi chú trọng hơn tới trí tuệ và nhân cách của những người đẹp tham gia cuộc thi. Từ thập niên 1990, cuộc thi đã thu hút hơn 2 tỉ người trên thế giới theo dõi cuộc thi này.
Thế kỉ 21 [sửa]
Eric Morley đã mất. Vợ ông, bà Julia Morley đã thay ông trở thành chủ tịch của cuộc thi Hoa hậu Thế giới.[7]
Năm đầu tiên của thế kỉ 21 chứng kiến cô gái châu Phi da đen đầu tiên đăng quang danh hiệu Hoa hậu Thế giới, Agbani Darego. Trong quá trình thay đổi của mình, cuộc thi đã nêu khẩu hiểu "Bạn quyết định" (You decide) để tăng cường vai trò của khán giả trên khắp toàn cầu có cơ hội được chọn ra hoa hậu thế giới. Các cuộc thi Hoa hậu Bãi biển, Hoa hậu Thể thao, Hoa hậu Tài năng và Hoa hậu Nhân ái được tổ chức trong khuôn khổ cuộc thi này.
Năm 2002, cuộc thi Hoa hậu Thế giới được tổ chức tại Abuja, thủ đô của Nigeria, đất nước của người đẹp vừa đăng quang năm trước Agbani Darego. Tại Nigeria, cuộc thi đã bị chỉ trích mạnh mẽ vì Nigeria là một quốc gia theo đạo Hồi. Những cuộc bạo động đã nổ ra để phản đối cuộc thi Hoa hậu Thế giới khiến hàng trăm người chết và bị thương. Cuộc thi đã phải chuyển sang Anh. Đây được coi là sự cố đáng tiếc nhất trong lịch sử cuộc thi Hoa hậu Thế giới.[8][9]
Tổ chức Hoa hậu Thế giới [sửa]
Tổ chức Hoa hậu Thế giới sở hữu cuộc thi Hoa hậu Thế giới và tổ chức sự kiện này mỗi năm một lần. Kể từ khi bắt đầu hoạt động vào năm 1951, tổ chức Hoa hậu Thế giới đã quyên góp được 250 triệu bảng Anh cho các tổ chức từ thiện vì trẻ em. Tổ chức Hoa hậu Thế giới ký kết các bản quyền thương mại tới hơn 100 quốc gia. Công ty Trách nhiệm hữu hạn Hoa hậu Thế giới là một công ty tư nhân do đó các số liệu, các khoản thu nhập và chi phí đóng góp cho các quỹ từ thiện không cần công khai.
Ngoài quyên góp hàng triệu bảng Anh cho các tổ chức từ thiện, tổ chức Hoa hậu Thế giới ra tiêu chí "Hoa hậu có tấm lòng nhân ái" và sau này cuộc thi có một giải thưởng riêng cho thí sinh có những đóng góp xuất sắc trong công việc từ thiện tại quê nhà.
Tiêu chuẩn dự thi [sửa]
Theo yêu cầu của tổ chức Miss World trước khi tham dự cuộc thi Hoa hậu Thế giới, các ứng cử viên của cuộc thi phải thắng trong một cuộc thi cấp quốc gia tại quê nhà để lấy được quyền đại diện cho quốc gia của mình tại Hoa hậu Thế giới. Các thí sinh chiến thắng sẽ được cấp giấy phép tham dự cuộc thi từ những nhà đăng ký chuyển nhượng bản quyền của cuộc thi ở quốc gia của họ. Và cuối cùng là đến tham gia cuộc thi Hoa hậu Thế giới với một số chương trình phúc khảo, tham gia các hoạt động ngoài trời, giao lưu với cư dân bản địa, tham gia các sự kiện truyền hình và cuối cùng xuất hiện trong đêm chung kết để công bố các giải thưởng, các danh hiệu và công bố tên của Hoa hậu Thế giới.
Các giải thưởng [sửa]
- Venezuela đã chiến thắng Hoa hậu Ảnh 4 lần:(1984,1990,1995,1996).
- 4 Hoa hậu Thế giới đã đoạt giải Hoa hậu Ảnh: Astrid Carolina Herrera (Venezuela, 1984), Aishwarya Rai (Ấn Độ, 1994), Jacqueline Aguilera (Venezuela, 1995) và Diana Hayden (Ấn Độ, 1997).
Giải thưởng bên lề [sửa]
Kể từ năm 2003 cuộc thi Hoa hậu Thế giới bắt đầu xuất hiện các phần thi phụ. Người chiến thắng tại các vòng thi phụ sẽ được lọt vào bán kết. Các sự kiện bên lề được sử dụng từ năm 2003 là:
- Hoa hậu Bãi biển : từ năm 2003 - hiện nay
- Hoa hậu Tài năng : từ năm 2003 - hiện nay
- Hoa hậu Thể thao : từ năm 2003 - hiện nay
- Hoa hậu có tấm lòng nhân ái : từ năm 2005 - hiện nay
- Hoa hậu Người mẫu : 2004, 2007 - hiện nay
- Giải thưởng do khán giả bình chọn (2003)
- Hoa hậu cá tính (2003)
- Hoa hậu do các thí sinh bình chọn (2004)
- Hai Hoa hậu Thế giới từng chiến thắng trong phần thi Hoa hậu Bãi biển: Rosanna Davison (Ireland, 2003), Kaiane Aldorino (Gibraltar, 2009).
- Hai Hoa hậu Thế giới từng chiến thắng trong phần thi Hoa hậu Người mẫu: Trương Tử Lâm (Trung Quốc, 2007), Ksenia Sukhinova (Nga, 2008) .
Các thí sinh chiến thắng [sửa]
- Kiki Håkansson từ Thụy Điển, Hoa hậu Thế giới 1951 là người có nhiệm kỳ giữ vương miện lâu nhất trong lịch sử: 475 ngày (tương đương 16 tháng) từ khi đoạt vương miện ngày 29 tháng 07 năm 1951 tại Luân Đôn, Vương quốc Anh[10][11].
- Unnur Birna Vilhjálmsdóttir từ Iceland, Hoa hậu Thế giới 2005 giữ vương miện trong thời gian ngắn nhất: chỉ có 294 ngày (dưới 10 tháng) tới khi trao vương miện cho Taťána Kuchařová của Cộng hòa Czech vào ngày 30 tháng 9 năm 2006[12][13].
- Có 3 lần ngôi Hoa hậu thế giới do thí sinh của cùng 1 quốc gia đoạt 2 năm liên tiếp:
- May Louise Flodin của Thụy Điển, Hoa hậu Thế giới 1952 được Hoa hậu Thế giới 1951 Kicki Håkansson, cũng là người Thụy Điển, trao lại vương miện.
- Lesley Langley của Anh, Hoa hậu Thế giới 1965 được Hoa hậu Thế giới 1964 Ann Sidney cũng của Anh trao lại vương miện.
- Priyanka Chopra của Ấn Độ, Hoa hậu Thế giới 2000 được Hoa hậu Thế giới 1999 Yukta Mookhey, cũng người Ấn Độ, trao lại vương miện.
- Khoảng thời gian dài nhất cho một quốc gia lặp lại chiến thắng trong cuộc thi Hoa hậu là Peru: Madeline Hartog-Bel đoạt giải năm 1967 và 37 năm sau, María Julia Mantilla trở thành người tiếp theo của quốc gia này đoạt giải.
- Quốc gia có khoảng thời gian ngắn nhất lặp lại chiến thắng là Ấn Độ (1997-1999, không tính những lần đoạt giải liên tiếp như Thụy Điển, Vương quốc Anh và Ấn Độ kể trên).
- Người châu Phi da đen đầu tiên đoạt ngôi Hoa hậu thế giới là Agbani Darego từ Nigeria tại cuộc thi năm 2001 ở Sun City, Nam Phi.
- Hoa hậu thế giới người Đông Á đầu tiên là Hoa hậu Thế giới 2007 Trương Tử Lâm từ Trung Quốc.
Các vị trí [sửa]
Xem danh sách đầy đủ: Danh sách Hoa hậu Thế giới.
- 6 người đoạt vương miện Hoa hậu Thế giới tại quê nhà:
- 1961: Rosemarie Frankland (Vương quốc Anh) đăng quang tại Luân Đôn, Vương quốc Anh.
- 1964: Ann Sidney (Vương quốc Anh) đăng quang tại Luân Đôn, Vương quốc Anh.
- 1965: Lesley Langley (Vương quốc Anh) đăng quang tại Luân Đôn, Vương quốc Anh.
- 1974: Helen Morgan (Vương quốc Anh) đăng quang tại Luân Đôn, Vương quốc Anh. (Tuy nhiên đã bị truất ngôi)
- 1983: Sarah-Jane Hutt (Vương quốc Anh) đăng quang tại Luân Đôn, Vương quốc Anh.
- 2007: Trương Tử Lâm (Trung Quốc) đăng quang tại Tam Á, Trung Quốc,
- 2012: Vu Văn Hà (Trung Quốc) đăng quang tại Nội Mông, Trung Quốc.
- 5 Hoa hậu Thế giới đã trao vương miện tại quê nhà:
- 1961: Rosemarie Frankland (Vương quốc Anh) trao vương miện cho 1962: Catharina Lodders (Hà Lan) ở Luân Đôn, Anh.
- 1964: Ann Sidney (Vương quốc Anh) trao vương miện cho 1965: Lesley Langley (Vương quốc Anh) in Luân Đôn, Anh.
- 1965: Lesley Langley (Vương quốc Anh) trao vương miện cho 1966: Reita Faria (Ấn Độ) in Luân Đôn, Anh.
- 1983: Sarah-Jane Hutt (Vương quốc Anh) trao vương miện cho 1984: Astrid Carolina Herrera (Venezuela) in Luân Đôn, Anh.
- 1990: Gina Tolleson (Hoa Kỳ) trao vương miện cho 1991: Ninibeth Leal (Venezuela) tại bang Georgia, Hoa Kỳ.
- Ngoài Anh, Nam Phi là quốc gia đăng cai nhiều cuộc thi Hoa hậu Thế giới nhất, tổng cộng 7 lần. Đó là:
- Nam Phi: Sun City (1992, 1993, 1994, 1995, 2001), Johannesburg (2008, 2009)
- Ngoài Vương quốc Anh và Nam Phi, đây là các quốc gia từng đăng cai cuộc thi hơn 1 lần:
- Trung Quốc: Tam Á (2003, 2004, 2005, 2007)
- Seychelles: Mahé (1997, 1998)
Hành trình đến Miss World [sửa]
Cuộc Miss World thường được tổ chức vào khoảng thời gian cuối năm, tháng 11 hoặc 12.
Cuộc hành trình đến chiếc vương miện Hoa hậu Thế giới vô cùng khó khăn. Đầu tiên, thí sinh tham dự cuộc thi này phải là người đã chiến thắng tại cuộc thi hoa hậu quốc gia. Đến cuộc thi, các thí sinh sẽ tham dự vào các sự kiện được tổ chức trong cuộc thi, các gala, những buổi dạ hội và các hoạt động trước khi ban giám khảo chọn ra top cuối cùng.
Ngoài quyên góp hàng triệu bảng Anh cho các tổ chức từ thiện, tổ chức Hoa hậu Thế giới ra tiêu chí "Hoa hậu có tấm lòng nhân ái" và sau này cuộc thi có một giải thưởng riêng cho thí sinh có những đóng góp xuất sắc trong công việc từ thiện tại quê nhà.
Cuộc thi HHTG sẽ chọn ra Top bán kết, top 5->6 (hoặc 7) và cuối cùng là Hoa hậu thế giới và 2 á hậu.
Số lượng thí sinh trong top bán kết có sự thay đổi nhỏ qua mỗi năm, thông thường nằm trong khoảng từ 15-20.
Kể từ năm 2003, để sự lựa chọn kỹ lưỡng và chính xác, các phần thi phụ được Miss World tổ chức một cách bài bản. Các thí sinh dự thi phải trải qua các phần thi Hoa hậu biển, Hoa hậu thể thao, Hoa hậu tài năng, Hoa hậu mặc trang phục dân tộc đẹp nhất.
- Hoa hậu Biển (Beach Beauty): Chọn ra những thí sinh có hình thể đẹp nhất. Trong phần thi này, vóc dáng, vẻ đẹp hình thể và các chỉ số 3 vòng là tiêu chí để chấm điểm. Ngoài danh hiệu HH Biển, phần thi này còn chọn ra top 10, top 5. Người đoạt danh hiệu Hoa hậu Biển được đặc cách thẳng vào top bán kết cuộc thi.
- Hoa hậu Thể thao (Miss Sport): Là phần thi mà các thí sinh sẽ phải trải qua các hoạt động thể thao như chạy, bơi lội, bóng chuyền... để bộc lộ khả năng chơi thể thao và rèn luyện sức khỏe, thể hình của mình. Các phần thi thường được tổ chức theo nhóm ứng với mỗi khu vực. Thí sinh giành giải "Hoa hậu thể thao" được một suất đặc cách thẳng vào top 16 cuộc thi. Phần thi cũng chọn ra top 15, top 5.
- Hoa hậu Tài năng (Talent Show): Là phần thi mà các thí sinh có cơ hội thể hiện tài năng, năng khiếu, sở trường của mình. Mỗi thí sinh có thể đăng ký một tiết mục trình diễn trên sân khấu. Thông thường, phần thi tài năng các thí sinh Miss World thường lựa chọn là hát, múa, chơi đàn, thổi sáo, diễn kịch, kể chuyện... Thí sinh đoạt giải "Hoa hậu tài năng" được một suất đặc cách thẳng vào top bán kết cuộc thi.
- Hoa hậu Thời trang, hoặc Trang phục Dân tộc, (Top Model): Là phần thi mà thí sinh sẽ trình diễn các mẫu thiết kế thời trang hoặc trang phục truyền thống của dân tộc mình. Đây là phần thi mà khán giả sẽ phải choáng ngợp bởi rất nhiều bộ trang phục rực rỡ, nhiều màu sắc được trình diễn bởi các người đẹp. Thí sinh đoạt giải "Hoa hậu thời trang" (hoặc Hoa hậu mặc trang phục dân tộc đẹp nhất) được một suất đặc cách thẳng vào top bán kết cuộc thi. Phần thi cũng công bố top 10, top 5.
Ngoài ra, ở Miss World còn có thêm giải phụ Hoa hậu có tấm lòng nhân ái (Beauty with a Purpose). Đây là giải thưởng dành cho hoa hậu trước khi đến với cuộc thi đã có những hoạt động xã hội có ý nghĩa cao cả. Những việc làm đó sẽ phải được minh chứng bằng một video clip ghi lại hoạt động của thí sinh gửi cho Ban tổ chức. Giải thưởng này được công bố trong đêm chung kết.
Hoa hậu Thế giới không có giải Hoa hậu Thân Thiện như Hoa hậu hoàn vũ. Tuy nhiên, đôi khi người ta hay nhầm lẫn giữa "Hoa hậu có tấm lòng nhân ái" với "Hoa hậu thân thiện".
Đêm chung kết cuộc thi, mở đầu đồng loạt các thí sinh sẽ có màn trình diễn váy và áo tắm, sau đó từng tốp thí sinh (theo từng khu vực) được xướng tên quốc gia sẽ lần lượt ra mắt khán giả.
Sau đó tất cả các thí sinh, trong trang phục áo dạ hội, sẽ được tập hợp lại để chuẩn bị nghe công bố kết quả. Mở đầu là màn xuất hiện của 4 thí sinh được đặc cách do đoạt các danh hiệu Hoa hậu Biển, Hoa hậu Thể thao, Hoa hậu Mặc trang phục dân tộc đẹp nhất), sau đó Ban giám khảo công bố thí sinh đoạt danh hiệu Hoa hậu nhân ái. Tất cả các thí sinh đoạt các giải phụ này đều được đặc cách thẳng vào top Bán kết. Tiếp đến, BGK Miss World sẽ chọn ra những người còn lại lọt vào top bán kết. Các thí sinh còn lại này được ban giám khảo lựa chọn ngẫu nhiên (không tính yếu tố vùng miền) hoặc lựa chọn theo vùng miền (mỗi khu vực thường có khoảng 2 đại diện).
Sau đó chọn tiếp top 5 (hoặc 6) và cuối cùng, 3 ngôi vị cao nhất cuộc thi được trưởng Ban tổ chức, bà Julia Morley công bố. Các giải thưởng được công bố liên tục vào cuối đêm chung kết, không có màn trình diễn riêng của các thí sinh đoạt thành tích như Hoa hậu Hoàn vũ.
Những năm gần đây, cuộc thi Miss World có thêm phần Bình chọn thí sinh qua trang web chính thức cuộc thi (www.missworld.tv). Kết quả bình chọn có năm chỉ là một căn cứ hỗ trợ cho sự đánh giá tính điểm của Ban giám khảo, có năm giải thưởng Bình chọn nhiều nhất được đặc cách thẳng vào bán kết.
Các hoa hậu [sửa]
-
- Sau đây là danh sách các Hoa hậu Thế giới từ năm 1999 đến năm 2011. Để xem đầy đủ hơn Danh sách Hoa hậu Thế giới .
Những quốc gia đã từng chiến thắng tại cuộc thi Hoa hậu Thế giới [sửa]
| Số lần | Quốc gia |
|---|---|
| 6 | Venezuela |
| 5 | Ấn Độ |
| 4 | Vương quốc Anh |
| 3 | Iceland, Jamaica, Hoa Kỳ và Thụy Điển |
| 2 | Argentina, Úc, Áo, Hà Lan, Nga và Nam Phi |
| 1 | Bermuda, Brasil, Trung Quốc, Cộng hoà Séc, Cộng hòa Dominican, Ai Cập, Phần Lan, Pháp, Đức, Gibraltar, Hy Lạp, Grenada, Guam, Ireland, Israel, Nigeria, Ba Lan, Puerto Rico, Trinidad và Tobago và Thổ Nhĩ Kỳ |
Số liệu ở trên tính tới năm 2011
Số lượng thí sinh chiến thắng [sửa]
| Quốc gia / Vùng lãnh thổ | Số lần | Các năm chiến thắng |
|---|---|---|
|
6
|
1955, 1981, 1984, 1991, 1995, 2011 | |
|
5
|
1966, 1994, 1997, 1999, 2000 | |
|
4
|
1961, 1964, 1965, 1983 | |
|
3
|
1973, 1990, 2010 | |
| 1985, 1988, 2005 | ||
| 1963, 1976, 1993 | ||
| 1951, 1952, 1977 | ||
|
2
|
1992, 2008 | |
| 1967, 2004 | ||
| 1969, 1987 | ||
| 1960, 1978 | ||
| 1958, 1974 | ||
| 1968, 1972 | ||
| 1959, 1962 | ||
|
1
|
2009 | |
| 2007 | ||
| 2006 | ||
| 2003 | ||
| 2002 | ||
| 2001 | ||
| 1998 | ||
| 1996 | ||
| 1989 | ||
| 1986 | ||
| 1982 | ||
| 1980 | ||
| 1979 | ||
| 1975 | ||
| 1971 | ||
| 1970 | ||
| 1957 | ||
| 1956 | ||
| 1954 | ||
| 1953 |
Thí sinh xuất sắc nhất tại các châu lục [sửa]
Tính đến năm 2011:
| Châu lục | Các quốc gia xuất sắc |
|---|---|
| Châu Âu | 27 lần chiến thắng bởi Vương quốc Anh (4), Iceland và Thụy Điển (3), Áo, Hà Lan, Nga và Thổ Nhĩ Kỳ (2), Cộng hoà Séc, Phần Lan, Pháp, Đức, Gibraltar, Hy Lạp, Ireland, Israel và Ba Lan (1). |
| Châu Mỹ | 16 lần chiến thắng bởi Venezuela (6), Hoa Kỳ (3), Argentina, Peru (2), Bermuda và Brasil (1). |
| Châu Á - Thái Bình Dương | 9 lần chiến thắng bởi Ấn Độ (5), Úc (2), Guam và Trung Quốc (1). |
| Vùng Caribê | 7 lần chiến thắng bởi Jamaica (3), Cộng hòa Dominican, Grenada, Puerto Rico và Trinidad và Tobago (1). |
| Châu Phi | 4 lần chiến thắng bởi Nam Phi (2), Ai Cập và Nigeria (1). |
Hoa hậu các châu lục [sửa]
| Năm | Châu Mỹ | Châu Phi | Châu Á - Thái Bình Dương | Vùng Caribê | Châu Âu | ||
|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 2004 |
|
|
|
|
|
||
| 2005 |
Dafne Molina
|
Nancy Sumari
|
Oh Eun-young
|
Ingrid Marie Rivera
|
|
||
| 2006 |
Jane Borges
|
Stiviandra Oliveira
|
Sabrina Houssami
|
Sara Lawrence
|
|
||
| 2007 |
|
|
|
|
|
||
| 2008 |
|
|
|
|
|
||
| 2009 |
|
|
|
|
|
||
| 2010 |
|
|
|
|
|
||
| 2011 |
|
|
|
|
|
||
Nữ hoàng sắc đẹp theo quốc gia [sửa]
| Country | Titles | Awarded as | Winning years |
|---|---|---|---|
|
12
|
Châu Mỹ | 1981, 1984, 1987, 1988, 1991, 1992, 1993, 1994, 1995, 1999, 2008, 2011 | |
|
11
|
Châu Phi | 1991, 1992, 1993, 1994, 1995, 1996, 1997, 1998, 1999, 2009, 2011 | |
|
8
|
Vùng biển Caribê | 1990, 1991, 1993, 1997, 1998, 1999, 2003, 2006 | |
|
6
|
Châu Đại Dương | 1981, 1982, 1983, 1984, 1988, 1989 | |
|
1
|
Châu Á & Đại Dương | 1991 | |
|
1
|
Châu Á-Thái Bình Dương | 2006 | |
|
7
|
Châu Á & Đại Dương | 1994, 1996, 1997, 1999, 2000, 2008 | |
|
3
|
Châu Á | 1983, 1984, 1985 | |
|
2
|
Châu Âu | 1998, 1999 | |
|
3
|
Châu Âu |
1993, 1994, 1995 | |
| 2005 (xem là Bắc Âu), 1988, 1985 | |||
| 1990, 2003, 2010 | |||
| 1991, 1997, 2002 | |||
| 1981, 1983, 1984 |
Có thể bạn chưa biết [sửa]
Cuộc thi Hoa hậu Thế giới từng gây ra nhiều tranh cãi từ khi ra đời.
- Năm 1970, người biểu tình đã ném bom trong suốt quá trình truyền hình trực tiếp tại Royal Albert Hall ở Luân Đôn.
- Năm 1973, Marjorie Wallace, người Mỹ đầu tiên chiến thắng trong cuộc thi Hoa hậu đã không hoàn thành nhiệm vụ và chỉ giữ được vương miện có 104 ngày. Ban tổ chức thông báo Cô Wallace "đã không hoàn thành các nhiệm vụ cơ bản được giao." Trách nhiệm của công việc từ thiện được chuyển sang cho Á hậu 1 Evangeline Pascual đến từ Philippines.
- Helen Morgan đại diện cho Vương quốc Anh chiến thắng năm 1974 đã từ bỏ ngôi vị sau 4 ngày giữ vương miện khi bị phát hiện là bà mẹ độc thân.
- Năm 1976, một số quốc gia tẩy chay cuộc thi, bởi vì có một người da trắng và một người da đen đại diện cho Nam Phi. Để chống lại tình trang phân biệt chủng tộc khủng khiếp ở quốc gia của mình, Nam Phi đã ngừng tham dự cuộc thi từ năm 1977, trước khi tiếp tục tham dự trở lại vào năm 1991 vì vấn đề chính trị đã thay đổi.
- Gabriella Brum từ Đức chiến thắng năm 1980 bỏ ngôi sau một ngày giữ vương miện, thông tin ban đầu là do bạn trai của cô không đồng ý. Một vài ngày sau bắt đầu xuất hiện thông tin cô từng chụp hình khoả thân cho các tạp chí.[14]
- Năm 1996, một cuộc chống đối với quy mô lớn diễn ra tại Bangalore, Ấn Độ. Phần thi áo tắm được chuyển đến quần đảo Seychelles, và được bảo vệ nghiêm ngặt. Bất chấp hỗn loạn, buổi truyền hình trực tiếp chung kết của cuộc thi vẫn suôn sẻ.[15][16][17]
- Chỉ vài ngày sau khi chiến thắng trong năm 1998, Linor Abargil từ Israel cho biết cô đã bị cưỡng hiếp chỉ hai tháng trước khi cuộc thi này diễn ra. Người đàn ông cưỡng hiếp cô đã chịu sự trừng phạt của pháp luật.[18]
- Hoa hậu Thế giới 1983 có thí sinh Unnur Steinsson từ Iceland đã mang thai ba tháng khi tham gia cuộc thi (chung kết diễn ra ngày 17/11/1983) đã vi phạm các nguyên tắc cấm là không được kết hôn hoặc có thai. Tuy nhiên, điều đó đã không được phát hiện khi bà tham dự cuộc thi mặc dù bà lọt vào chung kết và là người Iceland đầu tiên lọt vào Top 5. Con gái bà, sinh ngày 25/05/1984 và có tên là Unnur Birna Vilhjálmsdóttir, 22 năm sau đã đăng quang Hoa hậu Thế giới 2005 và Hoa hậu Thế giới Bắc Âu 2005. Steinsson cũng tham dự cuộc thi Hoa hậu Trẻ Quốc tế 1980 tổ chức tại Manila. Bà cũng tham dự cuộc thi Hoa hậu Hoàn vũ 1983. Cả hai mẹ con bà đều là diễn viên.
Chú thích [sửa]
- ^ Pageant News Bureau - Miss World: A long, glittering history
- ^ Singapore must not give up its 59 seconds of fame
- ^ Tracing the regal existence of ‘Miss Universe’
- ^ Philanthropy Magazine: Beauty With A Purpose
- ^ Frontline World: A Pageant is Born
- ^ Bet on Miss World Pageant
- ^ Miss World contest history
- ^ Miss World Riots in Nigeria
- ^ Nigerian woman fights stoning
- ^ Pageantopolis - Miss World 1951
- ^ Pageantopolis - Miss World 1952
- ^ Pageantopolis - Miss World 2005
- ^ Pageantopolis - Miss World 2006
- ^ Pageantopolis - Miss World 1980
- ^ CNN - Miss Greece now Miss World, despite pageant protests
- ^ CNN - Indian police prepare for worst in beauty pageant clash
- ^ CNN - Beauty pageant in India becomes a contest of wills
- ^ Pageant News Bureau - News archive: 1999
Liên kết ngoài [sửa]
| Wikimedia Commons có thêm thể loại hình ảnh và tài liệu về: Hoa hậu Thế giới. |
|
||||||||
| 5 cuộc thi hoa hậu lớn nhất thế giới |
|---|
|
Hoa hậu Hoàn vũ | Hoa hậu Thế giới | Hoa hậu Quốc tế | Hoa hậu Trái đất | Nữ hoàng Du lịch Quốc tế | |