Mitsubishi F-2

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Mitsubishi F-2
JSDF F-2 Fighter.jpg
F-2 tại cuộc triển lãm hàng không tại căn cứ Chitose năm 2006
Kiểu Máy bay tiêm kích đa năng
Hãng sản xuất Mitsubishi
Lockheed Martin
Chuyến bay đầu tiên 7 tháng 10.1995
Được giới thiệu 2000
Hãng sử dụng chính Không quân Nhật Bản
Số lượng được sản xuất 90
Chi phí máy bay 108 triệu USD năm 2004
Được phát triển từ F-16 Fighting Falcon

F-2 là máy bay tiêm kích do Nhật Bản-Hoa Kỳ hợp tác nghiên cứu sản xuất. Được sản xuất bởi Mitsubishi Heavy IndustriesLockheed Martin cho lực lượng phòng vệ Nhật Bản, 60 chiếc được sản xuất ở Nhật Bản và 40 chiếc được sản xuất ở Hoa Kỳ. Trong số những hãng lớn về công nghệ như General Electric, Kawasaki, Honeywell, Raytheon, NEC, và Kokusai Electric mỗi hãng sẽ chịu trách nhiệm về những bộ phận khác nhau, cuối cùng việc lắp ráp sẽ làm tại Nhật Bản bởi MHI. Việc sản xuất bắt đầu năm 1996 và chiếc đầu tiên được đưa vào phục vụ năm 2000. Đây là loại máy bay đa năng, được phát triển dựa trên loại F-16 Fighting Falcon, bay thử lần đầu tiên vào 07-10-1995. Hiện tại có 90 chiếc được trang bị cho lực lượng phòng vệ Nhật Bản, nó được coi là loại máy bay đa năng thuộc vào loại đắt nhất thế giới với giá tiền là 108 triệu USD/chiếc (2004)

Cái nhìn tổng quát[sửa | sửa mã nguồn]

F-2

Công việc bắt đầu vào những năm 1980 dưới tên gọi chương trình FS-X, và được đánh dấu bằng bản ghi nhớ trong thái độ nghiêm túc của cả Nhật Bản và Hoa Kỳ. Chương trình với mục đích tạo ra loại máy bay chiến đấu mới từ mẫu F-16 Fighting Falcon, ban đầu được giao cho General Dynamics (sau đó chuyển cho Lockheed Martin vào năm 1993). Lockheed MartinMitsubishi Heavy Industries cùng hợp tác phát triển và sản xuất máy bay, công ty nhận các hợp đồng phụ là Mitsubishi, một số công việc trên thực tế được phát triển bởi General Dynamics, hãng đã chuyển công việc cho Lockheed Martin vào năm 1993. Về bản chất F-2 là sự thể hiện của F-16 Agile Falcon một phiên bản mở rộng của F-16 vào những năm 1980, khi mà Lầu Năm Góc đang dành sự thiện cảm cho chương trình máy bay chiến đấu mới (Joint Strike Fighter). F-2 sử dụng bản thiết kế đôi cánh giống như F-16 Agile Falcon. Toàn bộ những thiết kế có ý định bổ sung cho F-16 của General Dynamics khi đó cũng không có lợi thế nổi bật trước Su-27MiG-29.

Người Nhật Bản có thể chế tạo được 98 chiếc, với cái giá chi phí quá lớn là 100 triệu USD một chiếc vào năm 2004. Nhiều công nghệ của F-16 được sử dụng trong F-2 đã trở thành đề tài cho những cuộc tranh luận chính trị ở Hoa Kỳ và Nhật Bản vào đầu những năm 1990. Tuy nhiên sự chuyển giao công nghệ theo sự ủy quyền từ Hoa Kỳ vẫn tiếp tục và dự án vẫn triển khai.

F-2 có cái tên Nhật là "Viper Zero", từ những người phi công khi họ lấy tên không chính xác của F-16 và A6M Zero, trước khi 2 chiếc được trịnh trọng tuyên bố đưa vào sử dụng vào năm 2000. Phi công gọi nó là "F-2 Charmer" (người bỏ bùa), họ ví nó như người dụ rắn.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Động cơ của F-2
F-2 tại căn cứ

Vào tháng 10-1987, Nhật Bản chọn F-16 như là nền tảng của máy bay tiêm kích mới, thay thế cho Mitsubishi F-1 đang lão hóa và bổ sung vào lực lượng máy bay tiêm kích chính, ngoài ra còn có F-15J đang hoạt động, nhưng tốt hơn F-4EJ. Trong suốt những năm đầu thập kỷ 80 thế kỷ XX, General Dynamics (hãng phát triển F-16) được đề nghị cung cấp F-16 Agile Falcon cho không quân Hoa Kỳ, nhưng khi mà Hoa Kỳ dành sự quan tâm tới bản thiết kế loại máy bay mới F-22 (JSF) và nâng cấp những phi đội hiện có, thì bản cải tiến của F-16 đã tìm được "nhà" cho mình ở Nhật Bản.

Trương trình F-2 gây ra tranh luận, bởi vì giá thành của nó gấp 4 lần giá của F-16 Block 50/52 trong khi tính năng lại không có gì nổi trội, những nhà sản xuất đã đội giá thành của nó lên cao gấp nhiều lần so với giá gốc nhằm kiếm lời (điều này diễn ra với hầu hết các loại máy bay chiến đấu quân sự hiện đại), đã đẩy giá của nó lên quá cao. Ban đầu dự tính sản xuất 141 chiếc F-2 với giá trên 25 triệu USD một chiếc, nhưng nó đã thất bại. Cho tới năm 2005 đã có 98 chiếc được sản xuất. Đồng thời nó cũng gây tranh cãi, khi mà phải trả cho Hoa Kỳ một khoản tiền. Mặc dù dùng những công nghệ hiện đại nhưng ít giá trị, trong khi lại gây nhiều tranh cãi xung quanh việc sản xuất.

Một số khác biệt của F-2 so với F-16:

  • Cánh lớn hơn 25%.
  • Dùng vật liệu composite để làm giảm trọng lựong toàn thân và rada.
  • Ở mũi trang bị rada phased-array.
  • Mặt nằm ngang đuôi máy bay lớn.
  • Khe lấy không khí lớn.
  • Có 3 mảnh mái che buồng lái.
  • Mang được 4 tên lửa ASM-1 hoặc ASM-2 không đối hải, 4 tên lửa AAM và thùng xăng phụ.

Hơn nữa, F-2 cũng trang bị loại dù thoát hiểm giống như phiên bản F-16 của NATO.

Chuyến bay thử lần đầu tiên được thực hiện vào 7-10-1995. Năm sau, chính phủ Nhật Bản chấp nhận kế hoạch 130 chiếc, bắt đầu phục vụ năm 1999; cấu trúc khung là một trở ngại khi đưa vào hoạt động cho đến trước năm 2000. Toàn bộ thành quả của chương trình là tạo ra một loại máy bay chiến đấu có kích thước và trọng lượng gần giống F-15 Eagle's, mặc dù với động cơ hiện đại hơn. Khi đưa vào sử dụng, nó bị đánh giá là quá đắt cho một chiếc so với số tiền bỏ ra cho một chiếc F-15J.

Vì cái giá đưa ra quá lớn, nên kế hoạch sản xuất đã bị cắt giảm xuống còn 98 chiếc vào năm 2004.

Những biến thể[sửa | sửa mã nguồn]

  • XF-2A: mẫu thử nghiệm một chỗ.
  • XF-2B: mẫu thử nghiệm hai chỗ.
  • F-2A: phiên bản chiến đấu một chỗ.
  • F-2B: phiên bản huấn luyện hai chỗ.

Lực lượng sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

  • Nhật Bản.
    • Flag of Japan (bordered).svg Lực lượng phòng vệ Nhật Bản (Không quân Nhật Bản).

Đặc điểm kỹ thuật (F-2)[sửa | sửa mã nguồn]

Đặc tính chung[sửa | sửa mã nguồn]

  • Phi đoàn: 1 người.
  • Dài: 15.52 m (50 ft 11in).
  • Chiều dài cánh: 11.13 m (36 ft 6 in).
  • Cao: 4.69 m (15 ft 5 in).
  • Diện tích cánh: 34.84 m² (375 ft²).
  • Trọng lượng rỗng: 9.527 kg (21.000 lb).
  • Trọng lượng cất cánh: 15.000 kg (33.000 lb).
  • Trọng lượng tối đa: 22.100 kg (48.700 lb).
  • Động cơ: 1 động cơ phản lực General Electric F110-GE-129, lực đẩy 76 kN, 131 kN với nhiên liệu đốt phụ trợ.
  • Tốc độ tối đa: Mach 2.0.
  • Tầm hoạt động: 834 km (520 dặm).
  • Trần bay: 18.000 m (59.000 ft).

Trang bị[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chủ đề liên quan[sửa | sửa mã nguồn]

Máy bay có cùng sự phát triển:

Máy bay có tính năng tương đương:

Máy bay phục vụ không quân Nhật Bản:

F-1 - F-2 - F4EJ Kai - F-15J - F-86F - F-104J Eiko