Súng trường Mosin

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Mosin Nagant)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Súng trường Mosin
Винтовка Мосина
Mosin Nagant series of rifles.jpg
Từ trên xuống dưới:
Mosin-Nagant M91
Mosin-Nagant M91 "Dragoon"
Mosin-Nagant M07 Carbine
Mosin-Nagant M91/30
Mosin-Nagant M91/30 với kính ngắm PU
Mosin-Nagant M38 Carbine
Mosin-Nagant M44 Carbine
Mosin-Nagant M59 Carbine
Loại Súng trường, súng trường chiến đấu, súng bắn tỉa, súng ngắm
Nguồn gốc  Đế quốc Nga
 Liên Xô
Lược sử hoạt động
Trang bị 1891-1998
Quốc gia sử dụng Xem phần Các quốc gia sử dụng
Sử dụng trong Chiến tranh Nga-Nhật
Nội chiến Nga
Thế chiến thứ nhất
Thế chiến thứ hai
Chiến tranh Triều Tiên
Chiến tranh Việt Nam
Chiến tranh Việt Nam - Campuchia
Chiến tranh Lạnh
Chiến tranh Afghanistan (1978–1992)
Chiến tranh Afghanistan (2001-nay)
Nội chiến Lào
Cách mạng Cuba
Nội chiến Trung Quốc
Chiến tranh Mùa Đông
Chiến tranh Iraq
Nội chiến Tây Ban Nha
Nội chiến Phần Lan
Chiến tranh Đông Dương
Chiến tranh Nga-Ba Lan (1919-1921)
Chiến tranh Liên Xô-Phần Lan
Chiến tranh biên giới Lào-Thái Lan
Chiến tranh Trung-Nhật lần thứ nhất
Chiến tranh Trung-Nhật lần thứ hai
Nội chiến Yemen
Chiến tranh Xô Viết-Thổ Nhĩ Kỳ (1917-1918)
Cách mạng Nga (1917)
Chiến tranh Nga-Thổ Nhĩ Kỳ
Chiến tranh biên giới Việt-Trung, 1979
Chiến Tranh tiếp diễn
Nội chiến Campuchia
Lược sử chế tạo
Nhà thiết kế Sergei Ivanovich Mosin, Léon Nagant
Năm thiết kế 1891
Nhà sản xuất Tula, Izhevsk, Sestroryetsk, Châtellerault, Remington, New England Westinghouse và nhiều hãng khác
Giai đoạn sản xuất 1891-1965
Số lượng chế tạo Xấp xỉ 37.000.000 khẩu ở Liên Xô
Thông số kỹ chiến thuật
Khối lượng 4 kg (8.8 lb) (M91/30) (M91/30)
3.4 kg (7.5 lb) (M38)
4.1 kg (9 lb) (M44)
Chiều dài 1,232 mm (48.5 in) (M91/30)
1,013 mm (39.9 in) (cạc-bin)
Cỡ nòng  730 mm (28.7 in) (M91/30)
514 mm (20.2 in) (cạc-bin)

Đạn 7.62x54mmR
Cơ cấu hoạt động khóa nòng không tự động
Sơ tốc ~ 850 m/giây (2,789 ft/giây) đối với súng trường
~800 m/giây (2,625 ft/giây) đối với cạc-bin
Cơ cấu nạp Ổ đạn 5 viên

'Súng trường Mosin (Винтовка Мосина, được gọi là Mosin Nagant trong các tài liệu phương Tây và được gọi là súng K44Việt Nam) là loại súng trường lên đạn từng viên, không tự động từng được sử dụng bởi quân đội Đế quốc Nga từ năm 1891, quân đội Liên Xô và các nước Đông Âu cho đến tận những năm 1960 và hiện vẫn được Quân đội Nhân dân Việt Nam sử dụng. Súng dùng đạn súng trường chiến đấu tiêu chuẩn 7,62 x 54mmR.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Thiết kế ban đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Trong Chiến tranh Nga-Thổ Nhĩ Kỳ, binh sĩ Nga được trang bị loại súng trường lên đạn thủ công Berdan trong khi binh sĩ Thổ Nhĩ Kỳ được trang bị súng trường Winchester bắn liên tục khiến cho phía Nga bị thương vong lớn. Các chỉ huy chiến trường của Nga trước tình hình đó đã yêu cầu hiện đại hóa quân đội. Trong nỗ lực hiện đại hóa này, thiết kế của đại úy Sergei Ivanovich Mosin và thiết kế của một người BỉLéon Nagant đã được chấp nhận và kết hợp thành mẫu súng trường dùng đạn cỡ 7,62 vào năm 1891. Việc sản xuất bắt đầu được tiến hành từ năm 1892 tại cả Nga và Pháp.

Thế chiến thứ nhất và thời kì nội chiến[sửa | sửa mã nguồn]

Trong chiến tranh Nga-Nhật 1904, khoảng 3,8 triệu khẩu súng trường model 1891 này đã được trang bị cho quân đội Nga. Mặc dù đã có một số phiên bản cải tiến ra đời, song trong chiến tranh thế giới thứ nhất, khoảng 3,3 triệu khẩu model 1891 đã được đặt hàng sản xuất tại AnhMỹ. Khi Cách mạng Tháng Mười nổ ra, một số súng model 1891 vẫn chưa kịp trao cho quân đội Nga hoàng. Những súng này sau đó được trang bị cho quân đội Anh và Mỹ can thiệp vào Nga sau Cách mạng thời kỳ 1918-1919. Một số khác được trang bị cho các đơn vị quân đội Hoa Kỳ trong nước. Hoa Kỳ cũng dựa vào model 1891 mà thiết kế súng trường "U.S. Rifle, 7.62mm, Model of 1916", một trong những loại súng trường quân dụng phổ biến của Hoa Kỳ một thời.

1 số lượng lớn Mosin-Nagants đã bị quân đội ĐứcÁo-Hung tịch thu và sử dụng. Trong thời gian Nội chiến Nga, súng Mosin-Nagant lại tiếp tục được cả hai phía Hồng quânBạch vệ ưa chuộng. Sau khi Hồng quân chiến thắng, vào năm 1924, một ủy ban hiện đại hóa vũ khí đã tiến hành dự án hiện đại hóa súng Mosin-Nagant, và model 1930 ra đời.

Phần Lan có thời là xứ phụ thuộc của Đế quốc Nga, nên cũng quen dùng súng Mosin-Nagant model 1891. Sau này, Phần Lan cho ra vài phiên bản cải tiến. Kết quả là trong Chiến tranh Mùa ĐôngChiến tranh Tiếp diễn (đều trong Chiến tranh thế giới thứ hai) cả 2 bên chiến tuyến đều dùng súng Mosin-Nagant.

Súng Mosin-Nagant còn được trang bị cho lực lượng kháng chiến Franco trong Nội chiến Tây Ban Nha.

Thế chiến thứ hai[sửa | sửa mã nguồn]

Khi Đức Quốc xã xâm lược Liên Xô vào năm 1941, model 1930 là súng trường tiêu chuẩn của quân đội Liên Xô. Hàng triệu cây súng đã được sản xuất để đưa ra chiến trường.

Phiên bản súng bắn tỉa của Mosin-Nagant được chế tạo năm 1932 đã gây được tiếng vang trong thời kì này, góp phần tạo nên chiến tích của 2 xạ thủ anh hùng Liên Xô Vasily Grigoryevich ZaitsevLyudmila Pavlichenko trong trận Stalingrad. Bên phía Phần Lan, Simo Häyhä, người nổi tiếng với chiến tích bắn hạ 505 lính Hồng quân cũng sử dụng 1 cây M28 Mosin-Nagant. Đến cuối chiến tranh thế giới thứ hai, khoảng 17,4 triệu khẩu Mosin-Nagant model 1930 đã được chế tạo.

Sau thế chiến thứ hai[sửa | sửa mã nguồn]

Sau này N.X.Xêmin thiết kế cải tiến từ mẫu ban đầu 1891/30 của X.I.Môxin và mẫu gần hơn (1938), đưa vào trang bị của Quân Đội Liên Xô (2/1944). Sau đó, Liên Xô còn đưa ra mẫu năm 1959. Đây là mẫu cuối cùng của súng này được thiết kế ở Liên Xô. Sau thế chiến thứ hai, Mosin-Nagant dần dần được thay thế bằng SKS hay AK47. Tuy nhiên nó vẫn được các nước Đông Âu và 1 số quốc gia xã hội chủ nghĩa sử dụng trong các cuộc chiến tranh Triều Tiên, chiến tranh Việt NamAfghanistan

Các nước Tiệp Khắc, Bulgaria, Ba Lan, Trung Quốc cũng phát triển các mẫu súng dựa trên Mosin-Nagant model 1944 hoặc model 1959 của Liên Xô.

Loại súng này được đưa vào sử dụng tại Việt Nam từ giữa những năm 1950 và sử dụng rộng rãi trong Chiến tranh Việt Nam. Nhân dân miền Nam thường gọi là súng bá đỏ, quân đội gọi là súng K44.

Đặc tính kỹ thuật[sửa | sửa mã nguồn]

Mẫu súng Mosin-Nagants 1891 đời đầu (trên) và mẫu Mosin-Nagant M38 Carbine đời sau (dưới).
Sung bắn tỉa M-52 của Hungary dựa trên mẫu Mosin Nagant.
  • Cỡ nòng 7,62mm, nòng súng dài 730mm, toàn bộ súng dài 1,533m (bao gồm cả lưỡi lê), nặng trên duới 4,0 kg;
  • Tốc độ bắn 10 phát/phút (đối với xạ thủ giỏi), sơ tốc đầu đạn 865 m/s nhờ nòng súng dài, đường đạn ngoài xa nhất 3000m, tầm bắn (trên thước ngắm) 1.000m, tầm bắn hiệu quả 600 m. Dùng được nhiều loại đạn cỡ 7,62x54mmR. Khi sử dụng kính ngắm quang học và loại đạn nặng, có liều phóng lớn, xạ thủ bắn tỉa có thể nâng tầm bắn có hiệu quả đến 1200 m.
  • Là loại súng trường bắn phát 1, lên đạn bằng khóa nòng thủ công, sử dụng hộp tiếp đạn đơn (khác với M1 Garand và súng SKS sử dụng hộp tiếp đạn đôi) chứa được 5 viên, đạn cỡ 7,62mm.
  • Súng rất dễ chế tạo nhờ cơ cấu hoạt động đơn giản, vật liệu làm súng dễ kiếm, không có nhiều công đoạn phải gia công phức tạp.
  • Tốc độ bắn chậm nhưng rất chính xác, bắn xa nên được còn sử dụng làm súng bắn tỉa, súng bắn tỉa được lắp thêm ống ngắm quang học (PU, PE) bên sườn trái sử dụng để ngắm bắn rất hiệu quả. Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, các đơn vị bắn tỉa của Hồng Quân được phiên chế tới cấp sư đoàn, đều sử dụng Mosin-Nagant làm súng bắn tỉa. Đây là súng bắn tỉa có uy lực lớn nhất thời đó, hơn hẳn khẩu Karabiner 98k của Đức, M1903 SpringfieldM1 Garand của Hoa Kỳ.
  • Nhược điểm: quá dài và nặng nề, thời gian lên đạn và nạp đạn quá lâu. Tuy nhiên những nhược điểm nhưng ở thời điểm nó ra đời không phải là vấn đề lớn, bởi vũ khí bộ binh thời đó hầu hết đều là súng trường bắn phát một. Phải tới sau Thế chiến thứ hai, khi súng liên thanh trở nên phổ biến thì Mosin Nagant mới mất đi vai trò của mình.

Các quốc gia sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]