Mossad

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Viện các Chiến dịch Đặc biệt và Tình báo
המוסד למודיעין
ולתפקידים מיוחדים
MossadLogo.gif
Thành lập: Tháng 12, 1949
Giám đốc: Meir Dagan
Phó giám đốc: Bảo mật
Phó giám đốc phụ trách hỗ trợ quân đội: Bảo mật
Giám đốc tình báo: Bảo mật
Giám đốc S&T: Bảo mật
Giám đốc hỗ trợ: Bảo mật
Giám đốc CSI: Bảo mật
Giám đốc đối ngoại: Văn phòng thủ tướng
Tổng thanh tra: Văn phòng Kiểm soát Nhà nước
Cố vấn trưởng: Bảo mật
Ngân sách: Bảo mật
Số lượng nhân viên: Bảo mật

(tiếng Hebrew: המוסד למודיעין ולתפקידים מיוחדים, Viện các Chiến dịch Đặc biệt và Tình báo), thường được gọi tắt là Mossad (có nghĩa Viện), là Cơ quan Tình báo của Israel chịu trách nhiệm thu thập thông tin tình báo, chống khủng bố, tiến hành các chiến dịch bí mật như các hoạt động bán du kích, và hỗ trợ aliyah (hoạt động di cư quay trở về quê hương của người Do Thái) tại những nơi hoạt động này bị ngăn cấm. Đây là một trong số các cơ quan tình báo chính của Israel, như Aman (tình báo quân đội) và Shin Bet (an ninh nội địa), nhưng giám đốc cơ quan này báo cáo trực tiếp lên Thủ tướng. Vai trò và các chức năng của nó tương tự như Cục Tình báo Trung ương Mỹ (CIA) tại Hoa Kỳ, Sở Tình báo Mật (MI6) tại Anh QuốcSở Tình báo Mật Australia (ASIS) tại Australia

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Mossad được thành lập tháng 12 năm 1949 với tên gọi "Viện Phối hợp Trung ương", theo đề nghị của Reuven Shiloah với Thủ tướng David Ben-Gurion. Shiloah muốn có một cơ quan trung ương nhằm phối hợp và cải thiện khả năng hợp tác giữa các cơ quan an ninh trước đó - Cục tình báo quân đội (AMAN), Sở An ninh Chung (GSS hay "Shin Bet") và "cục chính trị" của văn phòng ngoại giao. Tháng 3 năm 1951, cơ quan này được tái tổ chức và trở thành một phần trực thuộc văn phòng thủ tướng, báo cáo trực tiếp lên thủ tướng. Số lượng nhân viên hiện tại của Mossad được ước tính khoảng 1.200 người. Khẩu hiệu của Mossad be-'éyn tahbūlōt yīpōl `ām; ū-teshū`āh be-rōv yo'éts (tiếng Hebrew: באין תחבולות יפול עם, ותשועה ברוב יועץ‎, "14"Thiếu sự hướng dẫn một quốc gia sẽ sụp đổ, nhiều cố vấn sẽ giúp thắng lợi trở lên vững chắc hơn." - Proverbs XI, 14).[1]

Tổ chức[sửa | sửa mã nguồn]

Từ các văn phòng của mình tại thành phố Tel Aviv Israel, Mossad điều hành một số lượng nhân viên khoảng 1200 người, dù ở thời điểm cuối thập kỷ 1980 con số này có thể lên tới.[2] Mossad là một cơ quan dân sự, và không sử dụng hệ thống cấp bậc quân sự, mặc dù đa số nhân viên của nó đã từng phục vụ trong Các lực lượng Quốc phòng Israel như một phần của hệ thống nghĩa vụ quân sự bắt buộc của Israel, và nhiều người trong số họ là các sĩ quan. Cơ quan này được cho là gồm tám bộ phận.

Bộ phận lớn nhất là Phòng thu thập, với trách nhiệm điều hành nhiều hoạt động gián điệp ở nước ngoài. Nhân viên Phòng thu thập hoạt động dưới nhiều vỏ bọc, gồm cả vỏ bọc ngoại giao và dân sự.[2] Các sĩ quan tình báo hiện trường của họ, được gọi là katsa, tương tự như case officers của CIA. Ba mươi tới bốn mươi người cùng hoạt động ở một thời điểm, chủ yếu tại Châu Âu và Trung Đông.[3] Bản mẫu:Israelis

Phòng hành động chính trị và Phòng liên lạc chịu trách nhiệm làm việc với cả các cơ quan tình báo đồng minh nước ngoài, và cả với các quốc gia không có quan hệ ngoại giao chính thức với Israel.[2]

Trong số các phòng của Mossad có Nhóm các Hoạt động Đặc biệt hay '"Metsada" (xem Kidon), tham gia vào nhiều vụ ám sát, các chiến dịch bán quân sự, phá hoại, và chiến tranh tâm lý.[2]

Chiến tranh tâm lý cũng là nhiệm vụ của Lohamah Psichlogit Department, phòng này cũng tiến hành các hoạt động tuyên truyền và mị dân (deception).[2]

Ngoài ra, Mossad còn có một Phòng Nghiên cứu, với trách nhiệm đề xuất điệp vụ tình báo, và một Phòng Kỹ thuật chịu trách nhiệm phát triển các công cụ phục vụ cho các hoạt động của Mossad.[4]

Các chiến dịch nổi tiếng[sửa | sửa mã nguồn]

Nhiều nỗ lực của Mossad phục vụ lợi ích an ninh của Israel khiến nó này nổi tiếng với tư cách một cơ quan tình báo có hiệu quả hoạt động đặc biệt cao. Nhiều tranh cãi còn tồn tại về những điệp vụ khi cơ quan này sử dụng cả chiến thuật bắt cócám sát.

Các chiến dịch thành công[sửa | sửa mã nguồn]

Các chiến dịch được cho là do tổ chức này tiến hành nhưng không được xác nhận[sửa | sửa mã nguồn]

  • Cái chết được cho là do bị ám sát của nhà khoa học Canada Gerald Bull, người phát triển loại siêu súng cho Iraq, năm 1990. Giả thuyết thường gặp nhất là Mossad chịu trách nhiệm về vụ này, và các đại diện của tổ chức này gần như đã tuyên bố chịu trách nhiệm vụ ám sát. Những người khác, gồm cả con trai của Bull, tin rằng Mossad đã tuyên bố chịu trách nhiệm một hành động họ không thực hiện để răn đe những người khác có thể tìm cách giúp đỡ các chế độ thù địch với Israel. Giả thuyết khác cho rằng Bull có thể bị CIA giết hại. Iraq và Iran cũng là những đối tượng tình nghi.[9]
  • Cơ quan tình báo tư nhân Stratfor, dựa trên "những nguồn tin thân cận với tình báo Israel", cho rằng Tiến sĩ Ardeshir Hosseinpour, một nhà khoa học tham gia vào Chương trình hạt nhân Iran, đã bị Mossad ám sát ngày 15 tháng 1 năm 2007.[10]
  • Một quan chức tình báo Mỹ tuyên bố trên tờ The Washington Post rằng Israel đã đạo diễn vụ đào tẩu của vị tướng người Iran Ali Reza Askari ngày 7 tháng 2 năm 2007.[11] Người phát ngôn của Israel Mark Regev đã bác bỏ điều này. Tờ The Sunday Times thông báo rằng Askari từng là một người cung cấp thông tin cho Mossad từ năm 2003, và đã đào tẩu khi sắp bị bại lộ.[12]

Các chiến dịch thất bại[sửa | sửa mã nguồn]

  • Năm 1997, hai nhân viên Mossad đã bị bắt giữ ở Jordan, nước đã ký một hiệp ước hòa bình với Israel, khi đang thực hiện điệp vụ ám sát Sheikh Khaled Mashal, một lãnh đạo Hamas, bằng cách tiêm thuốc độc vào ông ta trong một cuộc tuần hành ủng hộ Hamas tại Amman. Lần này họ cũng sử dụng hộ chiếu Canada giả. Vụ việc đã dẫn tới một cuộc tranh cãi ngoại giao giữa Canada và Jordan, và Israel buộc phải cung cấp thuốc giải độc và thả khoảng 70 tù nhân Palestine, đặc biệt có cả lãnh đạo Hamas Sheikh Ahmed Yassin, để đổi lấy các điệp viên Mossad, nếu không họ sẽ phải đối mặt với án tử hìnhmưu toan giết người. Tháng 3 năm 2004, 7 năm sau khi được trả tự do, Yassin đã bị giết hại trong một cuộc tấn công từ trực thăng Israel.

Các hoạt động gây tai tiếng cho Mossad[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tháng 7 năm 2004, New Zealand đã áp đặt trừng phạt ngoại giao với Israel sau một vụ scandal, trong đó hai người Israel tại Australia, Uriel Kelman và Eli Cara,bị cho là làm việc cho Mossad Mossad (Israel bác bỏ điều này), xin hộ chiếu New Zealand giả bằng cách đóng giả một người tàn tật. Bộ trưởng ngoại giao Israel Silvan Shalom sau này đã xin lỗi New Zealand về hành động của họ. New Zealand đã hủy bỏ nhiều hộ chiếu khác được cho là đã bị cấp cho các nhân viên mật vụ Israel. [1] Cả Kelman và Cara đều bị giam giữ 3 tháng trong án phạt 6 tháng đã được tuyên, và ngay khi được trả tự do, họ bị trục xuất về Israel. Hai người khác, gồm một người Israel, Ze'ev Barkan, và một người New Zealand, David Reznick, bị cho là người thứ ba và thứ tư tham gia vào vụ làm hộ chiếu giả này nhưng đã rời khỏi New Zealand trước khi bị truy tìm. Amir Lati, Thư ký thứ 2 tại Đại sứ quán Israel tại Canberra đã bị trục xuất khỏi Australia vào tháng 1 năm 2005 vì những lý do mà cho tới hiện tại Chính phủ Australia vẫn chưa tiết lộ.

Các Giám đốc Mossad[sửa | sửa mã nguồn]

Các giả thuyết tranh cãi[sửa | sửa mã nguồn]

Tương tự như các cơ quan tình báo khác, Mossad thường trở thành đối tượng của những giả thuyết gây tranh cãi vô căn cứ. Gồm cả sự dính líu vào Vụ ám sát John F. Kennedy,[13] cái chết của Diana, Công chúa xứ Wales,[14] vụ ám sát Elie Hobeika,[15]

Một chuyện hoang đường khác thường xuất hiện trên internet được quy cho một cách không chính xác tới khẩu hiệu; "By way of deception, thou shalt do war", của Mossad.[16]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Potential whistleblowers[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ About Us, Official Mossad Website. Truy cập 28 tháng 10, 2006.
  2. ^ a ă â b c Mossad profile, Globalsecurity.org. Truy cập 28 tháng 10, 2006.
  3. ^ a ă â b Ostrovsky, Victor. By Way of Deception-The making and unmaking of a Mossad Officer. New York: St. Martin's Press, 1990. ISBN 0-9717595-0-2
  4. ^ the Mossad profile, Federation of American Scientists. Truy cập October 28, 2006.
  5. ^ "FRANCE PROTESTS TO ISRAEL ON RAID", The New York Times, June 10, 1981. Truy cập November 16, 2006.
  6. ^ Martin, Susan Taylor. "The spy - and the man she busted", St. Petersburg Times, March 21, 2004. Truy cập October 27, 2006.
  7. ^ Henley, Jon. "French court strikes blow against fugitive Nazi", The Guardian, March 3, 2001. Truy cập 27 tháng 10, 2006.
  8. ^ Guerin, Orla. "Arafat: On borrowed time", BBC News, June 29, 2002. Truy cập October 27, 2006.
  9. ^ Dr. Gerald Bull: Scientist, Weapons Maker, Dreamer at CBC.ca
  10. ^ “Geopolitical Diary: Israeli Covert Operations in Iran” (HTML) (bằng tiếng Anh). Stratfor. 2007-02-02. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2007.  (requires premium subscription)
  11. ^ Linzer, Dafna. "Former Iranian Defense Official Talks to Western Intelligence", The Washington Post, 8 tháng 3, 2007. Truy cập 8 tháng 3, 2007.
  12. ^ Mahnaimi, Uzi. "Defector spied on Iran for years", The Sunday Times, 11 tháng 3, 2007. Truy cập 11 tháng 3, 2007.
  13. ^ "Mossad And The JFK Assassination", john-f-kennedy.net. Truy cập October 28, 2006.
  14. ^ "Will Mossad finally hand over its secret files on Diana's death?", Canada Free Press, September 21, 2006. Truy cập October 28, 2006.
  15. ^ "Sharon witness blown up in Beirut", The Guardian, 25 tháng 1, 2002. Truy cập 16 tháng 11, 2006.
  16. ^ google search for mossad motto deception

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Bản mẫu:Intelorgofwor