Murakumo (tàu khu trục Nhật) (1928)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Murakumo.jpg
Tàu khu trục Murakumo
Phục vụ (Nhật Bản) Naval Ensign of Japan.svg
Hãng đóng tàu: Xưởng đóng tàu Fujinagata
Số hiệu xưởng đóng tàu: Tàu khu trục số 39
Đặt lườn: 25 tháng 4 năm 1927
Hạ thủy: 27 tháng 9 năm 1928
Hoạt động: 10 tháng 5 năm 1929
Xóa đăng bạ: 15 tháng 11 năm 1942
Số phận: Bị không kích đánh chìm ngày 12 tháng 10 năm 1942 phía Tây Bắc đảo Savo 08°40′N 159°20′Đ / 8,667°N 159,333°Đ / -8.667; 159.333
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu khu trục Fubuki[1]
Trọng tải choán nước: 1.750 tấn (tiêu chuẩn)
2.050 tấn (tái tạo)
Độ dài: 115,3 m (378 ft) (mực nước)
118,4 m (388 ft 6 in) (chung)
Sườn ngang: 10,4 m (34 ft 1 in)
Mớn nước: 3,2 m (10 ft 6 in)
Động cơ đẩy: 2 × turbine hộp số Kampon
4 × nồi hơi
2 × trục
công suất 50.000 mã lực (37,3 MW)
Tốc độ: 70 km/h (38 knot)
Tầm xa: 9.200 km ở tốc độ 26 km/h (5,000 hải lý ở tốc độ 14 knot)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
219
Vũ trang: 6 × hải pháo 127 mm (5 inch)/50 caliber Kiểu 3 (3×2)
2 × súng máy 13 mm Kiểu 93 (2×1)
9 × ống phóng ngư lôi 610 mm (24 in) (3×3)
18 × ngư lôi Kiểu 91
18 × mìn sâu

Murakumo (tiếng Nhật: 叢雲) là một tàu khu trục hạng nhất của Hải quân Đế quốc Nhật Bản, thuộc lớp Fubuki bao gồm hai mươi bốn chiếc, được chế tạo sau khi Chiến tranh Thế giới thứ nhất kết thúc. Khi được đưa vào hoạt động, những con tàu này là những tàu khu trục mạnh mẽ nhất thế giới.[2] Chúng phục vụ như những tàu khu trục hàng đầu trong những năm 1930, và tiếp tục là những vũ khí lợi hại trong cuộc Chiến tranh Thái Bình Dương. Murakumo đã tham gia nhiều trận hải chiến trong những năm đầu tiên của chiến tranh, và đã bị không kích đánh chìm ngày 12 tháng 10 năm 1942 phía Tây Bắc đảo Savo trong Chiến tranh Thế giới thứ hai.

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Việc chế tạo lớp tàu khu trục Fubuki tiên tiến được chấp thuận vào năm tài chính 1923 như một phần của chương trình có tham vọng cung cấp cho Hải quân Đế quốc Nhật Bản một ưu thế về chất lượng so với những tàu chiến hiện đại nhất của thế giới.[3] Khả năng thể hiện của lớp Fubuki là một bước nhảy vọt so với các thiết kế tàu khu trục trước đó, nên chúng được gọi là các “tàu khu trục đặc biệt” (tiếng Nhật: 特型 - Tokugata). Kích thước lớn, động cơ mạnh mẽ, tốc độ cao, bán kính hoạt động lớn và vũ khí trang bị mạnh chưa từng có khiến cho các tàu khu trục này có được hỏa lực tương đương nhiều tàu tuần dương hạng nhẹ của hải quân các nước khác.[4] Murakumo được chế tạo tại xưởng đóng tàu Fujinagata Shipyard tại Osaka được đặt lườn vào ngày 25 tháng 4 năm 1927. Nó được hạ thủy vào ngày 27 tháng 9 năm 1928 và đưa ra hoạt động vào ngày 10 tháng 5 năm 1929.[5] Nguyên được dự định mang số hiệu đơn giản là "Tàu khu trục số 39", nó được hoàn tất dưới tên gọi Murakumo.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Khi hoàn tất, Murakumo được phân về Hải đội Khu trục 12 thuộc Hạm đội 2 Hải quân Đế quốc Nhật Bản. Trong cuộc Chiến tranh Trung-Nhật, Murakumo được phân công tuần tra dọc theo bờ biển miền Trung Trung Quốc, và đã tham gia vào việc Chiếm đóng Đông Dương thuộc Pháp vào năm 1940.

Vào lúc xảy ra cuộc tấn công Trân Châu Cảng, Murakumo được phân về Hải đội Khu trục 12 của Đội khu trục 3 thuộc Hạm đội 1 Hải quân Đế quốc Nhật Bản và được bố trí từ Quân khu Hải quân Kure đến cảng Samah trên đảo Hải Nam. Từ ngày 4 đến ngày 12 tháng 12 năm 1941, Murakumo hỗ trợ cho cuộc đổ bộ lực lượng Nhật Bản lên Kota Bharu tại Malaya.[6] Từ ngày 16 tháng 12, Murakumo được phân công hỗ trợ cho các cuộc đổ bộ lực lượng Nhật Bản lên Borneo. Trong chiến dịch này, Murakumo đã tấn công tàu ngầm Hà Lan K-XVI bằng mìn sâu sau khi chiếc tàu ngầm phóng ngư lôi vào tàu khu trục Sagiri. Mặc dù Murakumo báo cáo rằng nó đã đánh chìm được K-XVI, chiến công này sau đó được ghi cho tàu ngầm Nhật I-66.

Vào tháng 2 năm 1942, Murakumo nằm trong thành phần hộ tống cho tàu tuần dương hạng nặng Chokai trong các chiến dịch chiếm đóng Banka-Palembangquần đảo Anambas. Sau đó Murakumo gia nhập lực lượng chiến đóng Tây Java, và đã hiện diện trong trận chiến eo biển Sunda vào ngày 1 tháng 3, trợ giúp vào việc đánh chìm tàu tuần dương Australia HMAS Perth và tàu tuần dương Hoa Kỳ USS Houston.[7]

Vào ngày 10 tháng 3, Murakumo được phân về Hải đội Khu trục 20 của Đội khu trục 3 thuộc Hạm đội 1, và sau đó đã tham gia vào lực lượng chiếm đóng phía Bắc Sumatra vào ngày 12 tháng 3 và chiếm đóng quần đảo Andaman vào ngày 23 tháng 3. Từ ngày 13 đến ngày 22 tháng 4, Murakumo đi ngang qua Singapore và vịnh Cam Ranh quay trở về Xưởng hải quân Kure để bảo trì.[8]

Vào ngày 4-5 tháng 6, Murakumo tham gia trận Midway trong thành phần lực lượng chính của Đô đốc Yamamoto Isoroku. Đến tháng 7 năm 1942, Murakumo lên đường từ Amami-Oshima đến quân khu bảo vệ Mako, Singapore, SabangMergui nhằm chuẩn bị cho một cuộc không kích Ấn Độ Dương thứ hai. Kế hoạch này bị hủy bỏ do việc lực lượng Đồng Minh đổ bộ lên Guadalcanal, và Murakumo được gửi đến Truk. Từ tháng 8 trở đi, Murakumo được sử dụng cho các nhiệm vụ “Tốc hành Tokyo”, những chuyến đi vận chuyển tốc độ cao, trong khu vực quần đảo Solomon. Trong một chuyến đi như vậy vào ngày 4-5 tháng 9, Murakumo đã trợ giúp vào việc đánh chìm USS GregoryUSS Little.[9]

Trong một nhiệm vụ khác vào ngày 11 -12 tháng 10 năm 1942, trong khi tìm cách trợ giúp chiếc tàu tuần dương Furutaka sau trận chiến mũi Esperance, Murakumo bị máy bay Đồng Minh tấn công. Ba quả bom đã ném suýt trúng, rồi một quả ngư lôi và một quả bom đánh trúng đã làm cho chiếc tàu khu trục không thể điều khiển và bốc cháy, và khiến 22 thủy thủ tử trận. Tàu khu trục Shirayuki đã vớt những người sống sót, bao gồm thuyền trưởng của Murakumo là Thiếu tá Higashi, rồi phóng ngư lôi đánh đắm Murakumo ở khoảng 167 km (90 hải lý) về phía Tây Bắc đảo Savo, ở tọa độ 08°40′N 159°20′Đ / 8,667°N 159,333°Đ / -8.667; 159.333Tọa độ: 08°40′N 159°20′Đ / 8,667°N 159,333°Đ / -8.667; 159.333.[10]

Vào ngày 15 tháng 11 năm 1942, Murakumo được rút khỏi danh sách Đăng bạ Hải quân.[5]

Danh sách thuyền trưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Các đặc tính lấy từ: Fitzsimons, Bernard, ed. Illustrated Encyclopedia of 20th Century Weapons and Warfare (London: Phoebus, 1978), Volume 10, trang 1040-1041, "Fubuki".
  2. ^ Globalsecurity.org. “IJN Fubuki class destroyers”. 
  3. ^ Fitzsimons, Illustrated Encyclopedia of 20th Century Weapons and Warfare, trang 1040
  4. ^ Peattie & Evans, Kaigun, trang 221-222.
  5. ^ a ă Nishidah, Hiroshi (2002). “Fubuki class 1st class destroyers”. Materials of the Imperial Japanese Navy. 
  6. ^ Nevitt, Allyn D. (1997). “IJN Shinonome: Tabular Record of Movement”. Long Lancers. Combinedfleet.com. 
  7. ^ Muir.Order of Battle - The Battle of the Sunda Strait 1942
  8. ^ Nevitt, Allyn D. (1997). “IJN Murakumo: Tabular Record of Movement”. Long Lancers. Combinedfleet.com. 
  9. ^ Brown. Warship Losses of World War Two
  10. ^ D'Albas. Death of a Navy: Japanese Naval Action in World War II.

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

  • D'Albas, Andrieu (1965). Death of a Navy: Japanese Naval Action in World War II. Devin-Adair Pub. ISBN 0-8159-5302-X. 
  • Brown, David (1990). Warship Losses of World War Two. Naval Institute Press. ISBN 1-55750-914-X. 
  • Dull, Paul S. (1978). A Battle History of the Imperial Japanese Navy, 1941-1945. Naval Institute Press. ISBN 0-87021-097-1. 
  • Howarth, Stephen (1983). The Fighting Ships of the Rising Sun: The Drama of the Imperial Japanese Navy, 1895–1945. Atheneum. ISBN 0-689-11402-8. 
  • Jentsura, Hansgeorg (1976). Warships of the Imperial Japanese Navy, 1869–1945. US Naval Institute Press. ISBN 0-87021-893-X. 
  • Kilpatrick, C. W. (1987). Naval Night Battles of the Solomons. Exposition Press. ISBN 0-682-40333-4. 
  • Watts, Anthony J (1967). Japanese Warships of World War II. Doubleday. ASIN B000KEV3J8. 
  • Whitley, M J (2000). Destroyers of World War Two: An International Encyclopedia. London: Arms and Armour Press. ISBN 1-85409-521-8. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]