Ná Lạp thị

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Ná Lạp thị hay Na Lạp thị, Nạp Lạt thị, Nạp Lan thị (Mãn Châu: ᠨᠠᡵᠠ ᡥᠠᠯᠠ Nara hala, Hán tự: 那拉氏 [Na (Ná) Lạp thị] hoặc 納喇氏 [Nạp Lạt thị], 納蘭氏 [Nạp Lan thị]) là một trong những tộc chính của người Mãn Châu. Hỗ Luân Tứ Quốc (扈倫四部) – Cáp Đạt (Mãn Châu: Hada, Hán tự: 哈達, bính âm: Hādá), Ô Lạp (Mãn Châu: Ula, Hán tự: 烏拉, bính âm: Wūlā), Huy Phát (Mãn Châu: Hoifa, Hán tự: 輝發, bính âm: Huīfā) và Diệp Hách (Mãn Châu: Yehe, Hán tự: 葉赫, bính âm: Yèhè) – thuộc về tộc này. Trong Anh ngữ, 'nara' được dịch là 'mặt trời'.

Xuất chúng trong dòng dõi Ná Lạp thị là tộc Diệp Hách và Ô Lạp, và tộc Diệp Hách, thuộc Tương Lam Kỳ (Hán tự: 鑲藍旗), là một trong tám dòng dõi quý tộc của người Mãn Châu. Nhiều người Trung Hoa nổi tiếng, bao gồm cả Từ Hy Thái Hậu, cũng xuất phát từ dòng tộc này. Các hậu duệ của tộc Ná Lạp ngày nay thường lấy "Ná" (hoặc Na, Nạp) làm họ để giống với các họ đơn của người Hán. Những người thuộc tộc Diệp Hách Ná Lạp cũng thường dùng "Diệp" hoặc "Hách".

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Ná Lạp thị vốn sinh sống tại khu vực Hải Tây, ngày nay là các vùng Cát Lâm, Hắc Long Giang, Liêu NinhNội Mông Cổ. Tộc Cáp Đạt Ná Lạp và Ô Lạp Ná Lạp có cùng chung tổ tiên, nhưng tộc Diệp Hách Ná Lạp được sáng lập bởi một người Tümed (土默特 Thổ Mặc Đặc, một dân tộc Mông Cổ) đã chinh phạt tộc Ná Lạp và phủ nền thống trị đến khắp các bờ sông Diệp Hách. Tộc Huy Phát Ná Lạp, mặt khác, bắt nguồn từ tộc Ikderi (益克得里, Ích Khắc Đắc Lý, cũng là một dân tộc Mông Cổ).

Trong bốn tộc, tộc Ô Lạp phần lớn là thương buôn, họ buôn ngựa, vật nuôi và lông thú, sau đó bán đi tại các cao nguyên Kiến Châu trên lưu vực Liêu Hà, trung tâm kinh tế và đất nông nghiệp của vùng Mãn Châu. Họ lần lượt mua các loại ngũ cốc như ngô ở Kiến Châu và bán chúng cho người Mông Cổ. Tộc Ô Lạp Ná Lạp, phần lớn, kiểm soát thương mại giữa Mãn Châu và Mông Cổ bằng các trạm dọc theo đường đèo, hiện nay là Bạch Thành, Cát Lâm, là nơi duy nhất có thể qua lại giữa hai vùng lúc đó.

Trong khi Nỗ Nhĩ Cáp Xích từng bước thống nhất người Nữ Chân, các tộc Ná Lạp đã phản đối kịch liệt vì họ được nhà Minh đối xử khá tốt. Mặt khác họ cố gắng thoả hiệp với Nỗ Nhĩ Cáp Xích bằng các cuộc hôn nhân chính trị với con gái của các chủ tộc, nổi tiếng nhất là A Ba Hợi (阿巴亥) của Ô Lạp và Mạnh Cổ (孟古) của Diệp Hách. Tuy nhiên, Nỗ Nhĩ Cáp Xích dần dà khai chiến với Ná Lạp thị, và Cáp Đạt, Ô Lạp và Huy Phát lần lượt sụp đổ. Diệp Hách Ná Lạp chống trả lâu dài hơn cả vì là tộc lớn nhất và mạnh nhất, và còn do họ được sự tương trợ của nhà Minh.

Lấy cớ nhà Minh giúp đỡ Diệp Hách Ná Lạp, Nỗ Nhĩ Cáp Xích dấy binh tấn công cả quân Minh. Quân Minh và Diệp Hách Ná Lạp thua liên tiếp nhiều trận, kể cả trận chiến Sát Nhĩ Hử, và vị bối lặc cuối cùng của Diệp Hách Ná Lạp Kim Đài Cát (金台吉, Jintaiji) bị bắt phải tự sát hoặc treo cổ, trước khi chết, ông ta đã nguyền rằng một khi hậu duệ của Kim Đài Cát còn sống, dù là nam hay nữ, người đó sẽ luôn nhớ đến huyết thù của tộc và lật đổ họ Ái Tân Giác La. Vị bối lặc cuối cùng của Ô Lạp Ná Lạp Bố Chiếm Thái (布占泰, Bujantai), đồng minh của Diệp Hách Ná Lạp, bị bắt và sau đó bị con của Nỗ Nhĩ Cáp XíchTrử Anh giết.

Diệp Hách Ná Lạp bị hội nhập vào chính quyền Nữ Chân năm 1619. Lời nguyền của Kim Đài Cát cũng không ngăn được các hoàng đế nhà Thanh lấy phụ nữ Ná Lạp làm chính cung hay phi tử, nhưng chủ yếu là phụ nữ của Ô Lạp thị, và không có người phụ nữ Diệp Hách Ná Lạp thị nào được tấn phong Hoàng Hậu khi Hoàng Đế còn sống. Tuy vậy, lời nguyền có lẽ đã ứng nghiệp khi sự trị vì tai hại của Từ Hy Thái Hậu đã góp phần vào sự sụp đổ của nhà Thanh năm 1912.

Cá nhân tiêu biểu[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]