Nói lái

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Nói lái (còn gọi là nói trại) là một cách nói kiểu chơi chữ của dân Việt. Đối với từng vùng miền khác nhau thì do cách nói của tiếng địa phương nên tiếng nói lái sẽ có thay đổi một chút.

Cách thức[sửa | sửa mã nguồn]

Có nhiều cách nói lái:

Cách 1: Đổi âm sau, giữ chữ đầu và thanh. Ví dụ: mèo cáimài kéo, đơn giảnđang giỡn (đối với miền Nam), trời chotrò chơi, đại họcđộc hại (đối với miền Nam), vô hànggiang hồ (đối với miền Nam), mau como cau,...

Cách 2: Đổi toàn bộ, trước ra sau, nhưng giữ thanh. Ví dụ: đầu tiêntiền đâu, từ đâuđầu tư,...

Cách 3: Đổi dấu thanh. Ví dụ: Thụy Điểnthủy điện, bí mậtbị mất,...

Cách 4: Đổi phụ âm đầu. Ví dụ: cao đẳngđau cẳng (đối với miền Nam), giải phápphải giáp...

Cách 5: Đổi âm sau và thanh sau, giữ phụ âm đầu. Ví dụ: bí mậtbật mí, một cáimái cột, mèo cáimái kèo, trâu đựctrực đâu, trâu cáitrái cau (đối với miền Nam), mắc cườimười cắc

Lưu ý: Không phải từ nào cũng có thể nói lái được. Những từ láy toàn bộ, hai từ lặp lại hoàn toàn, từ có chung dấu thanh và âm đầu, dấu thanh và âm sau, âm đầu và âm sau đều không nói lái được.

Ví dụ: luôn luôn, mãi mãi, đi đâu (có chung phụ âm đầu và dấu thanh)...

Các câu nói lái phổ thông[sửa | sửa mã nguồn]

Câu đố[sửa | sửa mã nguồn]

Lăng quằng lịt quịt... lăng quằng trứng là cái gì ?-> (lưng quần trắng)

Lăng quằng lịt quịt... lăng quằng rừn là cái gì?-> (lưng quần rằn)

Chơi chữ cho líu lưỡi[sửa | sửa mã nguồn]

Đếm thật nhanh những câu sau sẽ làm líu lưỡi và nói lái xảy ra

-Một con cá đối nằm trên cối đá, Hai con cá đối nằm trên cối đá, Ba con...

-Một thầy giáo tháo giày, Hai thầy giáo tháo giày, Ba thầy giáo...

Nói lái trong thơ[sửa | sửa mã nguồn]

Ví dụ 1:

Dòng châu lai láng, đĩa dầu chong

Công khó đợi chờ, biết có không ?

Nhắc bạn thêm thương người nhạn bắc

Trông đời ngao ngán giữa trời đông

Một dị bản khác:

Nhắc bạn thêm thương tình nhạn bắc

Trông đời chỉ thấy cảnh trời đông

Đêm thâu tiếng dế đau thêm mãi

Công khó chờ nhau biết có không ?

Ví dụ 2

Một bài thơ của Thảo Am viết sau khi nghe tin giặc Pháp chiếm lại đồn Mang Cá, 1946

Lũ quỷ nay lại về luỹ cũ

Thầy tu mô Phật cũng thù Tây.

Ví dụ 3

làng vọng còn hơn cái lọng vàng

Mang sơ tấm áo, chớ mơ sang

Nhắn bạn lên non đừng bắn nhạn

Hang lỗ tìm vào bắt hổ lang

Ví dụ 4

Nguyễn Khoa Vy mất năm 1968, cùng với cụ Ưng Bình Thúc Giạ thuộc thế hệ cuối cùng của Quốc tử giám. Cụ làm bài thơ Nhớ bạn thế này:

Nhớ Bạn

Nhắc bạn những thương tình nhạn bắc

Trông đời chỉ thấy cảnh trời đông

Đêm thâu tiếng dế đâu thêm mãi

Công khó chờ nhau biết có không

Hoặc một bài thơ khác:

Đời chua, bậu cứ thử đùa chơi

Chơi ngổ xong rồi, kiếm chỗ ngơi

Bến đậu thênh thang, mời bậu đến

Ngồi đây say tít, ngất ngây đời.

Ví dụ 5

Ở bài thơ sau đây, khi đọc nhớ lái ở ba từ cuối mỗi câu):

  • Mỗi độ xuân sang chả có gì (chỉ có già)
Giàu sang, keo kiệt để mà chi? (đĩ mẹ cha)
Vui xuân chúc tết cầu gia đạo (cạo da đầu)
Cạn chén tiêu sầu tiễn người đi (đĩ người tiên).
  • "Chú phỉnh" tôi rồi "chính phủ" ơi,
"Chiến khu" đông lúa "chú khiên" rồi
"Thi đua" sao cứ "thua đi" mãi
"Kháng chiến" lâu rồi "khiến chán" thôi !!!
  • Thầy giáo tháo giày, tháo giáo án dán áo
Nhà trường nhường trà, nhường cả hoa, nhòa cả hương
Làm giáo chức, phải giứt cháo
Thảo chương, rồi để được... thưởng chao'.
Nhường luôn hết cả nhà xe, nhè luôn hết cả xương
Nhường luôn miếng đất, nhất luôn cả miếng đường
Nhường tới tận rau, nhàu luôn tới tận xương
Nhường tới cái túi, nhúi...tới cái tường
Lấy lương hưu, để lưu hương
Ví dụ 6

Bông ế!

Ông Đồn chợ sáng chẳng ồn đông

Bông giữa rằm giêng gặp bữa giông

Cổng đá hàng bày còn cả đống

Mông khua đít tét hỏi mua không

Cọc mòn hoa cắt đâu còn mọc

Hồng trết bùn trây cũng hết trồng

Cố lãi vô thời ôm cái lỗ

Đồng Kho về sớm kẻo đò không!

(Tố Mỹ)

Câu đối[sửa | sửa mã nguồn]

Ví dụ 1

Vua Tự Đức cũng có câu đối chỉnh mà đến nay chưa chắc ai giải được.

Vế đối ra:

Kia mấy cây mía

và vế đối lại của vua Tự Đức là:

Có vài cái vò
Ví dụ 2

Cô gái:

Con cá đối nằm trong cối đá Mèo đuôi cụt nằm mút đuôi kèo Anh mà đối được dẫu nghèo em cũng ưng.

Người đối lại:

Con mỏ kiến đậu trên miếng cỏ Chim vàng lông đậu cạnh vồng lang Anh đà đối được e nàng chẳng ưng.

Ví dụ 3

Chàng trai xưa kia có râu, cạo râu xong, cô gái nhận không ra. Chàng bèn làm thơ nói lái:

Xưa tê câu ró ngó xinh Bây giờ câu rạo vô tình ngó lơ.

Ở đây câu ró, câu rạo không dính líu xa gần với chuyện đi câu.

Ngôn ngữ khác[sửa | sửa mã nguồn]

Cách nói này cũng được nhiều dân quốc gia khác sử dụng.

Thí dụ trong tiếng Anh: "The Lord is a shoving leopard" (thay vì "The Lord is a loving shepherd") - gọi là Spoonerism.

Thí dụ trong tiếng Đức: "Auf der Liebesreise // sprach der Leibesriese: // "Reib es, Liese!" // Und sie rieb es leise." - gọi là "Wortdreher" hay "Buchstabendreher", cách làm thơ có vần như thế gọi là Schüttelreim trong tiếng hán việt: thiết trường kỷ dĩ tôn kỳ trưởng (lấy ghế dài mời các trưỡng lão) đối lại là lập bình phong nhi tuyển phòng binh (lập tấm phong để tuyển dụng quân sĩ) câu đối này hay lẫn cã vần bằng trắc lẫn nói lái! đây là một bài thơ nói lái:

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]