Núi Thành

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Núi Thành
Địa lý
Huyện lỵ Thị trấn Núi Thành
Vị trí: phía Nam tỉnh Quảng Nam,bắc giáp Tam Kỳ, nam giáp Quảng Ngãi, tây giáp Bắc Trà My
Diện tích: 533,02 km²
Số xã, thị trấn: 16 và 1 thị trấn
Dân số
Số dân: 142.020 người
Mật độ: 266 người/km²
Thành phần dân tộc: Người Kinh
Hành chính
Chủ tịch Hội đồng nhân dân:
Chủ tịch Ủy ban nhân dân: Nguyễn Quang Hòa
Bí thư Huyện ủy: Nguyễn Tiến
Thông tin khác
Điện thoại trụ sở:
Số fax trụ sở:
Website: www.nuithanh.gov.vn


Núi Thành là một huyện nằm phía Nam của tỉnh Quảng Nam, được thành lập năm 1983 trên cơ sở tách huyện Tam Kỳ (cũ) thành huyện Núi Thành và thị xã Tam Kỳ (nay là Thành phố Tam Kỳ, tỉnh lị của Quảng Nam). Phía bắc giáp thành phố Tam Kỳ, phía nam giáp huyện Bình Sơn và huyện Trà Bồng tỉnh Quảng Ngãi, phía tây giáp huyện Bắc Trà My.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Huyện này được thành lập ngày 3 tháng 12 năm 1983 khi huyện Tam Kỳ được chia thành huyện Núi Thành và Thị xã Tam Kỳ thuộc tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng. Từ ngày 26 tháng 11 năm 1996 thuộc tỉnh Quảng Nam, gồm Thị trấn Núi Thành là huyện lị và 16 :

STT Tên đơn vị hành chính Diện tích (ha) Dân số (người)
1 Thị trấn Núi Thành 457,48 10.001
2 Tam Xuân 1 1.727,25 12.341
3 Tam Xuân 2 2.359,28 11.891
4 Tam Tiến 2.091,43 11.371
5 Xã Tam Sơn 5.402,46 4.664
6 Tam Thạnh 5.395,80 4.056
7 Tam Anh Bắc 2.100 6.409
8 Tam Anh Nam 2.191 9.316
9 Tam Hòa 2.260,81 8.563
10 Tam Hiệp 3.758,36 10.217
11 Tam Hải 1.560,71 7.925
12 Tam Giang 1.150,75 5.995
13 Tam Quang 1.137,97 13.026
14 Tam Nghĩa 5.167,75 11.815
15 Tam Mỹ Đông 1.727 6.400
16 Tam Mỹ Tây 5.104 5.869
17 Tam Trà 9.712,62 2.886

Nguồn: Sở Nội Vụ Quảng Nam, 2008

Điều kiện tự nhiên[sửa | sửa mã nguồn]

Administration map of Nui Thanh District.jpg

Vị trí địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Núi Thành là huyện nằm phía Nam của tỉnh Quảng Nam, được thành lập năm 1983 trên cơ sở huyện Tam Kỳ.[1] Phía bắc giáp thành phố Tam Kỳ, phía nam giáp huyện Bình Sơn và huyện Trà Bồng tỉnh Quảng Ngãi, phía Tây giáp huyện Nam Trà My, phía đông giáp Biển Đông. Huyện có đường bờ biển dài 37 km với nhiều bãi tắm đẹp như biển Rạng, Tam Hải, Tam Tiến. Hiện có nhiều dự án du lịch biển lớn đang hoạt động như Le Domaine De Tam Hai, Cát Vàng Tam Tiến, Chu Lai Resort. Tam Hải là xã đảo duy nhất của huyện

Tọa độ địa lý: từ 108°34' đến 108°37' kinh độ Đông, từ 15°33' đến 15°36' vĩ độ Bắc. Với hệ tọa độ trên, Núi Thành nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa thuộc phân vùng khí hậu Nam Việt Nam.

Diện tích[sửa | sửa mã nguồn]

Diện tích của huyện là 533.03 km². Trong đó đất dành cho sản xuất nông nghiệp là 110.048 km² chiếm 21% diện tích đất tự nhiên của huyện. Phần lớn đất nông nghiệp được dành cho trồng lúa 2 vụ. Tam Xuân I, Tam Xuân II, Tam Hòa là các vựa lúa chính của huyện. Ngoài ra, Núi Thành cũng là huyện có diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản lớn nhất tỉnh Quảng Nam. Đất lâm nghiệp với diện tích 172.09 km², chiếm 32.3% diện tích đất tự nhiên, phân bố chủ yếu ở các xã phía tây của huyện gồm Tam Sơn, Tam Thạnh, Tam Trà, Tam Mỹ Đông, và Tam Mỹ Tây. Đất thổ cư đạt 6 km² (chiếm hơn 1% diện tích đất tự nhiên của huyện). Điểm đáng chú ý là trong thành phần sử dụng đất, đất quân sự chiếm diện tích khá lớn so với các địa phương khác do có sự hiện diện của căn cứ Chu Lai với sân bay Chu Lai với diện tích hơn 40 km² chiếm gần 10% diện tích tự nhiên của huyện.

Địa hình[sửa | sửa mã nguồn]

Núi Thành là huyện đồng bằng cực Nam của tỉnh Quảng Nam với địa hình nghiên từ Tây Bắc xuống Đông Nam. Bằng đường bộ hướng Đông Tây từ các xã ven biển lên các xã vùng núi phía Tây ta có thể dễ dàng nhận ra sự thay đổi này. Nhìn tổng thể Núi Thành có các dạng địa hình sau:

Sông ngòi[sửa | sửa mã nguồn]

Hệ thống sông ngòi chảy qua huyện gồm sông Tam Kỳ, sông Trường Giang, sông Ba Túc, sông An Tân, sông Trâu. Các con sông này đều bắt nguồn từ phía tây, tây bắc chảy về phía đông đỏ ra biển qua cửa An Hòacửa Lỡ. Các sông đều có lưu vực nhỏ từ 50 đến 100 km², độ dốc lớn, chiều dài từ 20 đến 40 km, lưu lượng nước thay đổi theo mùa. Một số con sông được ngăn lại ở thượng nguồn làm hồ chứa nước như: hồ Phú Ninh trên sông Tam Kỳ, hố Thái Xuân trên sông Trầu. Các dòng sông của huyện đều hội tụ về phía đông tạo nên những vùng xoáy bồi đắp nên những cồn cát và tạo ra các đầm phá ở các xã Tam Quang, Tam Anh Nam, Tam Anh Bắc, Tam Hòa, Tam Giang, Tam Hải, Tam Tiến.

Khí hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Huyện Núi Thành nằm phía đông dãy Trường Sơn và phía nam đèo Hải Vân, thuộc vùng khí hậu nhiệt đới ẩm, gió mùa. Nhiệt đọ trung bình hằng năm: 25.7°C, nhiệt độ cao từ tháng 4 đến tháng 8, nhiệt độ thấp từ tháng 12 đến tháng 2 năm sau. Mùa mưa kéo dài từ tháng 9 đến tháng 12. Lượng mưa trung bình trong năm là 2,531.5 mm. Huyện Núi Thành chịu sự chi phối của gió tây nam và gió đông nam hoạt động từ tháng 3 đến tháng 7, gió đông bắc hoạt động từ tháng 10 đến tháng 2 năm sau.

Hằng năm thường xuất hiện từ 8 đến 10 cơn bão ảnh hưởng đến huyện. Bão thường xuất hiện từ tháng 8 đến tháng 11 kết hợp với mưa lớn gây ra lũ lụt.

Kinh tế-xã hội[sửa | sửa mã nguồn]

Dân số[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến ngày 01 tháng 04 năm 2009, dân số của Núi Thành đạt 142.020 người, trong đó nam giới chiếm 48.6%, nữ giới chiếm 51.8%. Người Kinh chiếm đại bộ phận dân số (98%), phần còn lại là người Co với dân số đạt 850 người sống chủ yếu tại thôn 4, thôn 6 và thôn 8 xã Tam Trà. Tổng số hộ là 34,280 hộ, trung bình mỗi hộ có 4.2 người, một tỷ lệ thấp so với các địa phương trong cả nước. Đa phần dân cư sống tại các xã đồng bằng ven biển, các xã vùng núi có diện tích lớn nhưng dân cư thưa thớt. Cùng với quá trình phát triển nhanh chóng của công nghiệp và dịch vụ, cụm các đô thị với trung tâm là thị trấn Chu Lai đang dần hình thành và mở rộng về phía Nam (Tam Nghĩa), phía Đông (Tam Quang) và phía Bắc (Tam Hiệp).

Phần đông dân cư hoạt động trong khu vực nông-lâm-ngư nghiệp. Năm 2006, trong tổng số 68,896 người trong độ tuổi lao động, số lao động trong khu vực 1 đạt 50,478 người (chiếm 73,26%. Các ngành công nghiệp, xây dựng thu hút 7,351 lao động (chiếm 10,66%). Khu vực III dịch vụ thu dụng 7,479 người (chiếm 11,07%). Tuy nhiên quá trình dịch chuyển kinh tế kéo theo sự dịch chuyển lao động rất nhanh từ khu vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp và dịch vụ.

Giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Toàn huyện có 3 trường THPT gồm PTTH Núi Thành, PTTH Nguyễn Huệ và PTTH Cao Bá Quát, một Trung tâm Giáo dục Thường xuyên - Hướng nghiệp Dạy nghề. Cấp THCS có 15 trường phân bố rải đều trong các xã, thị trấn trên địa bàn huyện. Cấp Tiểu học có 26. Ngoài ra huyện còn có 16 trường mẫu giáo, 1 lớp bán trú cho học sinh người dân tộc thiểu số, 14 Trung tâm Học tập Cộng đồng. Tổng số học sinh (năm học 2006 - 2007) là 31.822 học sinh.

Huyện đã được công nhận phổ cập tiểu học 12/2002; có 16/17 xã, thị trấn được công nhận phổ cập THCS. Huyện Núi Thành được tỉnh kiểm tra công nhận hoàn thành PCGD THCS tại thời điểm tháng 10 năm 2004, 10 truờng học được công nhận đạt chuẩn quốc gia.

Y tế[sửa | sửa mã nguồn]

Huyện có 1 bệnh viện với 80 giường bệnh, có 17 trạm y tế xã, thị trấn; tổng số y, bác sỹ: 100 người. Bệnh viện Đa Khoa Trung Ương Quảng Nam với 1,500 giường bệnh được đưa vào sử dụng cuối năm 2012 sẽ góp phần nâng cao việc khám chữa bệnh cho nhân dân.

Tình hình phát triển kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Núi Thành là trung tâm phát triển công nghiệp nhanh và mạnh nhất của tỉnh Quảng Nam. Với Khu Kinh Tế Mở Chu Lai được đánh giá là khu kinh tế thành công nhất Việt Nam, Núi Thành đóng góp hơn 60% tổng thu ngân sách Quảng Nam. Kinh tế chuyển dịch rõ rệt theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Các KCN Bắc Chu Lai, KCN Cảng và Dịch Vụ Hậu Cần Tam Hiệp, KCN Tam Anh, và Khu Phi thuế quan cảng Kỳ Hà là động lực phát triển của huyện trong những năm tới. Những dự án du lịch lớn tạo điều kiện thuận lợi để khai thác tốt hơn tiềm năng du lịch biển của địa phương. Khu Liên Hiệp Cơ Khí Ô Tô Chu Lai-Trường Hải, nhà máy Kính nổi, nhà máy sản xuất xút là các cơ sở sản xuất công nghiệp trọng điểm của huyện (tính đến năm 2011). Nhà máy nước giải khát Number One có công suất lớn nhất miền Trung-Tây Nguyên của tập đoàn Tân Hiệp Phát đang được xây dựng sẽ góp phần thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa- hiện đại hóa.[cần dẫn nguồn]

Bên cạnh việc phát triển rất nhanh công nghiệp, ngành nông nghiệp với trọng tâm đánh bắt xa bờ và nuôi trồng thủy hải sản cũng đem lại nguồn thu ổn định cho cư dân ven biển. Núi Thành là tỉnh có sản lượng đánh bắt thủy hải sản lớn nhất tỉnh Quảng Nam và là một trong những trung tâm ngư nghiệp mạnh của duyên Hải Miền Trung.[cần dẫn nguồn]

Vùng núi của huyện là địa bàn phát triển mạnh cây keo lá tràm (làm nguyên liệu giấy) và cây cao su được trồng trên diện rộng trong những năm gần đây.

Giao thông vận tải[sửa | sửa mã nguồn]

Huyện Núi Thành có hệ thống giao thông vận tải phát triển mạnh. Sân bay Chu Lai có các chuyến bay đi và đến Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh. Cụm cảng Kỳ Hà có năng lực tiếp nhận các tàu có trọng tải đến 6.6000 tấn[2] và cảng Tam Hiệp lên tới 10.000 tấn.[3] Đường quốc lộ 1A đoạn chạy qua địa bàn huyện dài 31 km theo chiều Bắc-Nam, tỉnh lộ TL 617 nối các xã miền núi với đồng bằng. Ga Núi Thành là một điểm nhận trả hàng quan trọng của hệ thống đường sắt Thống Nhất. Hệ thống sông Trường Giang, Tam Kỳ tạo điều kiện thuận lợi cho giao thông thủy của huyện phát triển.

Các điểm tham quan[sửa | sửa mã nguồn]

Bàn Than[sửa | sửa mã nguồn]

Bàn Than là một thắng cảnh thiên nhiên đẹp lộng lẫy phân bố trên 2 km bờ biển xã Tam Hải. Các mỏm đá đen lởm chởm ăn sát bờ biển tạo cảm giác chênh vênh với một bên là núi đá, một bên là sóng biển trắng xóa. Cách bờ biển 1 km là hòn Út, bãi Út hay cù lao Út. Trải qua thời gian dài chịu sự tác động của sóng biển, thủy triều và gió, các mỏm đá ở đây bị xâm thực, xói mòn tạo thành những đường vân có hình thù dị biệt. Đỉnh vách đá có một diện tích tương đối bằng phẳng rộng chừng 20ha. Chính vì vậy địa danh này có tên là Bàn Than (Bàn: mặt bàn - bằng phẳng và Than: đen như than). Bàn Than chưa được phát triển thành điểm du lịch, vì vậy nó vẫn chưa được biết đến nhiều, vấn nạn ô nhiễm môi trường đang dần tàn phá cảnh quan nơi đây.

Hố Giang Thơm[sửa | sửa mã nguồn]

Hố Giang Thơm (Xăng Thơm) thuộc Thôn 9, xã Tam Mỹ Tây, là một nơi có phong cảnh thiên nhiên hoang sơ tuyệt đẹp.

Hố Rinh[sửa | sửa mã nguồn]

Hố Rinh thuộc thôn 7, Tam Mỹ tây, Nơi đây còn nguyên sơ chưa có quy hoạch tham quan du lịch nên rất phù hợp cho những ai thích "Du Lịch Bụi". Đến nơi này bạn phải đi qua những con đường quanh co uốn lượng, nhưng cánh đồng nhỏ, điệp trùng núi non. Những ai trưởng thành nơi đây chắc chắc có tuổi thơ ấu tuyệt đẹp với: cánh diều, cảnh chăn trâu, bò, tắm mát trên nhưng con sông, suối.

Về đêm ốc đá rất nhiều với chiếc đèn pin có thể ăn ốc đá no "Say"

Làng biển Tam Hải[sửa | sửa mã nguồn]

Biển Rạng[sửa | sửa mã nguồn]

Là khu du lịch biển đang phát triển của Núi Thành hiện nay. Hãy tới đây để thương thức những món hải sản tươi rói: Mực hấp, mực nướng, cá Chuồn hấp quấn bánh tráng, các loại cháo hải sản, Đặc biệt tôm hùm.v.v. Ngồi ở đây để tân hưởng mùi của biển, mùi của thiên nhiên. Bãi tắm sạch còn đôi chút hoang sơ làm cho con người càng gần gũi với thiên nhiên hơn.

Tượng đài Núi Thành[sửa | sửa mã nguồn]

Nổ ra trận đánh đầu tiên trong phong chào chống Mỹ cứu nước nên được tặng 8 chữ vàng " Trung Dũng Kiên Cường, Đi Đầu Diệt Mỹ" Khi ngừoi ta xây tượng đài Núi thành không rõ vì lý do gì mà bị nứt và nghiêng....

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Bài này phần nhiều lấy nguồn từ mục từ "Núi Thành" trong Từ điển Việt-Việt của Free Vietnamese Dictionary Project, được phát hành dưới Giấy phép Công cộng GNU (GPL).

Số liệu được lấy từ Phòng thống kê Huyện Núi Thành, 2006