Năn ngọt
| Năn ngọt | ||||||||||||||||
| Phân loại khoa học | ||||||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
|
||||||||||||||||
| Danh pháp hai phần | ||||||||||||||||
| Eleocharis dulcis (Burm.f.) Trin. ex Hensch. |
||||||||||||||||
| Danh pháp đồng nghĩa | ||||||||||||||||
|
Andropogon dulcis Burms.f. |
Năn(g) lùn, năn(g) ngọt, năn(g) bộp, củ năn(g), cỏ năng ống hay củ năn(g) bông đơn, mã thầy là tên gọi của một loại cỏ năn mọc hoang trên những cánh đồng ngập nước (cả nước mặn và nước ngọt), thuộc chi Cỏ năn (Eleocharis), họ Cói (Cyperaceae), có danh pháp khoa học Eleocharis dulcis Burm.f., được thu hái và sử dụng như một loại rau ăn sống hoặc chế biến nhiều món ăn tại Việt Nam. Củ của nó cũng ăn được nên có tên gọi là củ năn(g). Loài này được dùng trong ẩm thực Trung Quốc và Việt Nam.
Mục lục |
Đặc điểm [sửa]
.
Cây năn ngọt có thể cao đến 1,5 m. Củ năn ngọt là một dạng giả thân hành. Củ năn ngọt giàu carbohydrat (khoảng 90% khối lượng tính theo chất khô), nhất là tinh bột (chiếm 60% chất khô). Loại củ này cũng giàu chất xơ, riboflavin, vitamin B6, kali, đồng, và mangan[1].
Sử dụng [sửa]
Thịt củ màu trắng, giòn và có thể dùng để ăn sống, luộc sơ, nướng, làm dưa món hoặc đóng hộp. Tại Trung Quốc, người ta còn nghiền củ năn ngọt thành bột để làm bánh. Đây là một trong số ít rau củ vẫn giữ được mùi vị đặc trưng ngay cả sau khi được nấu chín hoặc đóng hộp, bởi vì thành tế bào thịt củ tạo nên các liên kết chéo và được củng cố bởi các hợp chất phenol. Một số loại củ cũng có tính chất tương tự, như là củ sen[2].
Nếu không được nấu chín, củ năn ngọt có thể là tác nhân truyền Fasciolopsiasis gây bệnh.
Xem thêm [sửa]
Chú thích [sửa]
- ^ “Waterchestnuts, chinese, (matai), raw”. NutritionData.com. CondéNet, Inc. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2007.
- ^ McGee, Harold (2004). On Food and Cooking (Revised Edition). Scribner. tr. 308. ISBN 0-684-80001-2.